Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp để phát triển nhận thức của trẻ khiếm thính tiểu học trong lớp học hoà nhập - Pdf 12


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM VƯƠNG HỒNG TÂM SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP ĐỂ
PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA TRẺ KHIẾM THÍNH
TIỂU HỌC TRONG LỚP HỌC HOÀ NHẬP Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 62.14.01.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC


1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng là phương tiện giúp con người phát triển
nhận thức và hoà nhập cộng đồng. TKT do sức nghe suy giảm nên khả năng giao tiếp
bằng ngôn ngữ nói hạn chế, kéo theo những ảnh hưởng đến quá trình nhận thức. Do
vậy, việc trang bị ngôn ngữ cho TKT là việc làm cần thiết.
TKT không thể tham gia đầy đủ và có chất lượng vào toàn bộ quá trình học tập vì bản
thân thiếu phương tiện giao tiế
p bằng ngôn ngữ nói. Phương tiện giao tiếp nào là hữu ích đối
với sự phát triển nhận thức của TKT ? Vấn đề này chưa được quan tâm trong quá trình dạy
học ở các trường hoà nhập nói chung và trường chuyên biệt dạy TKT nói riêng.
Sử dụng các phương tiện giao tiếp trong dạy học hoà nhập TKT cần đảm bảo phù
hợp khả năng giao tiếp của TKT. Do sử dụng các phương tiện giao tiếp đặc thù, nên
đặc
điểm việc học của TKT mang sắc thái riêng cần được nghiên cứu nhằm phát triển
nhận thức cho TKT hiệu quả nhất.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số biện pháp sư phạm sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp để
phát triển nhận thức của TKT tiểu học trong quá trình học tập ở lớp hoà nhập.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Môi trường và hoạt động giao tiếp của TKT tiểu học trong quá trình dạy học hoà nhập.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Mối quan hệ và sự kết hợp các phương tiện giao tiếp trong dạy học hoà nhập TKT
tiểu học.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu các biện pháp của giáo viên kết hợp được những phương tiện giao tiếp
của trẻ trên cơ sở tính đến: 1) Đặc điểm của TKT (mức độ khiếm thính, khả
năng giao tiếp), 2) Nội dung bài học, 3) Môi trường lớp học thì kết quả nhận
thức trong học tập của TKT sẽ có những cải thiện nhất định.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7. 3. Các phương pháp nghiên cứu khác
- Phương pháp chuyên gia
- Phươ
ng pháp sử dụng thống kê toán học
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
8.1. Về lí luận
8.1.1. Bổ sung một số yếu tố mới vào lí luận GDHN ở tiểu học cho trẻ khuyết tật
nói chung và TKT nói riêng

3 4 8.1.2. Hệ thống hóa và làm phong phú thêm những khía cạnh cụ thể của lí luận
giáo dục TKT và phát triển nhận thức ở tiểu học .
8.1.3. Góp phần bổ sung các luận cứ khoa học để phát triển chương trình giáo dục
trẻ khuyết tật nói chung và TKT nói riêng ở tiểu học.
8.2. Về thực tiễn
8.2.1. Những phát hiện về thực trạng giáo dục TKT, giáo dục hòa nhập TKT và
thực trạng giao tiếp, phương tiện giao tiếp c
ủa TKT tiểu học có giá trị tham khảo cho
công tác quản lí, nghiên cứu, giảng dạy và phát triển giáo viên.
8.2.2. Các biện pháp và kĩ thuật sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp để phát
triển nhận thức của TKT tiểu học trong lớp hoà nhập là những đóng góp mới vào lĩnh
vực giáo dục trẻ khuyết tật.
8.2.3. Những phát hiện mới về biện pháp và kĩ thuật của luận án bao gồm: S

dụng ngôn ngữ nói kết hợp với kí hiệu ngôn ngữ (đối với từ ngữ mới) trong dạy học
hoà nhập TKT tiểu học; Sử dụng đồng thời ngôn ngữ nói và kí hiệu ngôn ngữ trong
dạy học hoà nhập TKT tiểu học; Sử dụng ngôn ngữ nói kết hợp với kí hiệu ngôn ngữ

ển thêm một bước đáng kể,
biểu hiện ở tính xã hội cao hơn, tính khoa học sâu hơn, đã có một số nhà giáo dục tiêu
biểu như: Fiedrich Moritz Hill, 1805 - 1874 (Đức), ông sử dụng phương pháp lời nói
dạy TKT và tiến hành dạy trẻ ngôn ngữ nói ngay từ giai đoạn đầu tiên khi trẻ bị giảm
thính lực. Cho đến năm 1880 tại Đại hội Milan ở Ý đã quyết định chọn phương pháp
lời nói, quy
ết định này đã chấm dứt sự tranh cãi nhiều năm về phương pháp dạy TKT.
Có nhiều quan điểm, trường phái khác nhau về việc sử dụng các phương tiện
giao tiếp trong dạy học TKT từ nhiều thập kỷ. Mỗi phương tiện giao tiếp được cân
nhắc đến mặt ưu, nhược điểm và đề cập đến phương pháp dạy. Nhưng nhìn chung
các nhà nghiên cứu và giáo dục đề
u có quan điểm thống nhất nên sử dụng đa dạng
các phương tiện giao tiếp trong dạy học TKT thì sẽ có hiệu quả giáo dục tốt hơn.
1.1.2. Ở Việt Nam
Nguyễn Thị Hoàng Yến đề xuất 4 biện pháp tổ chức giáo dục hoà nhập cho TKT
chuẩn bị vào lớp 1, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của môi trường ngôn ngữ bao
quanh TKT phải phù hợp với nhu cầu và khả
năng của trẻ và đi đến kết luận “ngôn
ngữ của các em trở nên phong phú và hiệu quả chỉ khi trẻ được học ngôn ngữ trong

5 6ngữ cảnh và có sự tương tác xã hội. Lê Văn Tạc khẳng định: Mọi TKT đều có thể học
tập và phát triển có hiệu quả trong mội trường giáo dục hoà nhập nếu giáo viên đón
nhận sự đa dạng và tạo môi trường cho TKT tham gia hoạt động học tập. Phạm Thị
Cơi đã kết luận: TKT có nhu cầu giao tiếp chủ yếu sử dụng thị giác để
tiếp thu và sử
dụng chử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ kí hiệu biểu đạt thông tin. TKT có thời gian học từ 8-
10 năm học mới có vốn từ bằng vốn từ của trẻ nghe bình thường ở cùng độ 5-6 tuổi.

thị giác. Sự ghi nhớ sự vật, hiện tượng của TKT dựa trên sự thiết lập mối liên h
ệ ý nghĩa
giữa những sự vật mới tri giác được và hệ thống những hình ảnh đã hình thành. Hình ảnh
nào mà trẻ biểu hiện bằng lời thì ghi nhớ tốt hơn, những hình ảnh khó biểu thị bằng lời thì
TKT ghi nhớ kém. TKT gặp khó khăn hơn nhiều so với trẻ nghe bình thường trong việc
liên kết trong ý nghĩa các phần tri giác được thành một chỉnh thể. Ghi nhớ từ của TKT sử
d
ụng một trong bốn "điểm tựa": cử chỉ, âm vị, thị giác và tổng hợp các loại này. TKT có trí
nhớ tốt khi lấy cử chỉ làm điểm tựa, hiểu nhanh khi từ được thể hiện qua cấu trúc ngữ pháp
của ngôn ngữ kí hiêu và nhớ dựa vào hình ảnh; rất khó khăn khi nhớ từ không được thể
hiện bằng cử chỉ tương đương phải ghi nhớ bằng các "đi
ểm tựa" âm vị. TKT thường sử
dụng cả hai điểm tựa trong quá trình ghi nhớ là cử chỉ và ngôn ngữ nói.
Đặc điểm tư duy của trẻ khiếm thính
Tư duy của con người liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và không thể tồn tại ngoài
ngôn ngữ. TKT do hạn chế về sự phát triển ngôn ngữ nói nên ảnh hưởng rất lớn đến
tư duy, TKT thường thiếu hụt v
ề số lượng biểu tượng, tên gọi các khái niệm được thể
hiện bằng lời nói. Tư duy trực quan-hành động là nét đặc trưng của TKT. Sự thiếu
hụt về thính giác đã làm thay đổi cấu trúc sắp xếp các kinh nghiệm từ những cơ quan
cảm giác khác. Sự thiếu hụt thính giác đã ảnh hưởng lớn đến tư duy trừu tượng của trẻ
Đặc điể
m phát triển nhận thức của trẻ khiếm thính
Khả năng tri giác bằng mắt ở TKT rất phát triển và thường tốt hơn ở trẻ nghe bình
thường. TKT quan sát sự vật, hiện tượng bằng thị giác nhanh hơn, chính xác hơn, toàn
diện hơn và chi tiết hơn. Chính vì khả năng này mà TKT có thể nhận thức thế giới
xung quanh đầy đủ mà không cần thính giác. TKT không thể hiểu, không thể nhận
thức được bấ
t kì sự vật, hiện tượng nào, cho dù đơn giản, cụ thể nếu trẻ không nhìn
thấy tận mắt. Khả năng phân tích ở TKT rất tốt. Trẻ có thể dễ dàng nhận ra những đặc

nhân mà hai bên đều biết sử dụng và đều hiểu, sự hiểu đó dẫn đến chia sẻ, cộng tác và hợp tác.
- Định nghĩa phương tiện giao tiếp
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng khái niệm phương tiếp giao tiếp phù hợp với
khái niệm giao tiếp. Phương tiếp giao tiếp là tất cả những yếu tố
có hình thức vật chất
được các chủ thể giao tiếp sử dụng trên cơ sở cùng chấp nhận và hiểu biết chung về
chúng để tiến hành quá trình giao tiếp với nhau. Phương tiện giao tiếp được chia
thành hai nhóm: phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ.
1.2.2.2. Chức năng của giao tiếp và phương tiện giao tiếp trong hoạt động nhận
thức của TKT tiểu học
- Chức năng của giao ti
ếp
Để học tập thành công, người học phải thực hiện 3 loại kĩ năng: 1/ Các kĩ năng
nhận thức; 2/ Các kĩ năng quản lí (thời gian, hành vi, ); 3/ Các kĩ năng giao tiếp
Trong nghiên cứu luận án chúng tôi xác định giao tiếp có những chức
năng sư phạm chủ yếu sau:
+ Kích hoạt môi trường học tập và nhu cầu của người học nhờ các quan hệ và liên
hệ tương tác, chia sẻ, thông cả
m, đồng cảm, cộng tác, hợp tác thân thiện với nhau.
+ Làm nảy sinh các hoàn cảnh và điều kiện học tập cụ thể hỗ trợ cho hoạt động
nhận thức và học tập của trẻ, nhất là của TKT thì điều này lại càng quan trọng.
+ Giao tiếp là con đường chủ yếu để con người trải nghiệm thực tế, nắm bắt
cơ hội và vượt qua những thách thức trong quá trình l
ĩnh hội những giá trị, nhất
là những giá trị tinh thần, đạo đức trừu tượng.
+ Giao tiếp là điều kiện thuận lợi để phát triển các kĩ năng sống, kĩ năng
xã hội, là những kĩ năng có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức cuộc sống và
hiệu quả học tập.
+ Giao tiếp thực chất là một kênh truyền thông trực ti
ếp trong đó nội dung thông

ngữ. Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự phát triển thức của con người, ngôn ngữ
được xem là phương tiện giúp con người trao đổi thông tin, truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm xã hội. Ngoài ra, ngôn ngữ còn phản ánh tình cảm, trao đổi ý kiến và bày tỏ
những quan điểm để mở r
ộng tầm hiểu biết của mỗi cá nhân
Tư duy bằng ngôn ngữ là hoàn thiện nhất bởi vì nó có khả năng trừu tượng hóa
không giới hạn. Sau khi nắm được ngôn ngữ thì tư duy ở TKT được chuyển đổi và
bắt đầu diễn ra trên cơ sở ngôn ngữ.
- Vai trò của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
Phương tiện phi ngôn ngữ xảy ra thường xuyên trong giao tiếp nói chung và giao
tiếp giữa giáo viên và học sinh nói riêng. Phương tiệ
n phi ngôn ngữ trong giao tiếp có
vai trò, ý nghĩa không kém phần quan trọng so với phương tiện ngôn ngữ. Nhưng
việc truyền tin chỉ mang ý nghĩa định hướng thiếu sự chính xác và rành mạch.
1.2.3. Nhận thức và sự phát triển nhận thức của trẻ khiếm thính tiểu học
1.2.3.1. Định nghĩa nhận thức và sự phát triển nhận thức
- Định nghĩa nhận thức
Trong luận án này sử dụng khái niệm nhậ
n thức chỉ quá trình và kết quả của
những hoạt động và hành vi bên ngoài có thể quan sát được của cá nhân. “Nhận thức
là quá trình và kết quả huy động và sử dụng các chức năng tâm lí cá nhân như trí tuệ,
nhu cầu, tình cảm, ý chí, tâm vận động… để thực hiện
hành động và hành vi phản
ánh hiện thực ở các cấp độ khác nhau, từ nhận biết, hiểu sự vật, cho đến tiến hành áp
dụng và xử lí logic cũng như giá trị gắn với sự vật đó”.
- Định nghĩa phát triển nhận thức
Trong tâm lí học, khái niệm Phát triển nhận thức chỉ sự phát triển các quá trình và thuộc
tính tâm lí của nhận thức cá nhân như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng
Trong luận án chúng tôi chọn khái niệm “Phát triển nhận thức được hiểu là quá trình
thay đổi tiến bộ, nâng cao trình độ cá nhân trong hoạt động nhận thức gắn liền với việc sử

1.2.4.2. Đặc điểm lớp h
ọc hòa nhập và dạy học hòa nhập có trẻ khiếm thính tiểu học
Trong môi trường lớp học hoà nhâp có TKT, cho thấy sự khác nhau về đặc điểm
lĩnh hội kiến thức, trẻ nghe bình thường chủ yếu sử dụng thính giác còn TKT chủ yếu
sử dụng thị giác để tiếp kiến thức. Từ sự khác nhau đó dẫn đến cách biểu đạt ngôn
ngữ cũng khác nhau, trẻ nghe bình thường chủ
yếu sử dụng ngôn ngữ nói, TKT sử
dụng nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau (nói, cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ kí hiệu ).
Trình độ nhận thức của các em có sự chênh lệch rõ nét, cho nên gây không ít khó
khăn trong dạy - học. Đòi hỏi giáo viên biết lựa chọn, điều chỉnh nội dung, phương

11 12pháp phù hợp khả năng nhằm giúp các em tiếp thu được kiến thức. Ngoài ra, đối với
dạy học TKT giáo viên cần có kĩ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp khác nhau.
1.2.5. Một số quan điểm sử dụng các phương tiện giao tiếp trong dạy học TKT
1.2.5.1. Quan điểm giao tiếp trong dạy học hoà nhập trẻ khiếm thính
- Sử dụng ngôn ngữ nói làm phương tiện giao tiếp
Quan điểm tr
ường phái ngôn ngữ nói cho rằng, phương pháp này phá vỡ hàng rào
cản trở giao tiếp giữa TKT và trẻ nghe bình thường. Bởi vì, không có TKT nào bị điếc
hoàn toàn ngay từ khi mới sinh, đa số TKT bị điếc nặng còn có khả năng nghe được
tiếng động. Ưu thế lớn nhất của việc sử dụng ngôn ngữ nói trong giao tiếp của TKT là
hạn chế đến mức tối đa khoảng cách giữa TKT và trẻ nghe bình thườ
ng, việc truyền
tải thông tin dễ dàng bởi không phải qua quá trình chuyển mã. Tuy nhiên, dỡ bỏ được
rào cản về ngôn ngữ cho TKT là vấn đề khó. TKT được giáo dục bằng ngôn ngữ nói
tạo cho trẻ sự tự tin, không cảm thấy bị xa lánh, tạo cơ hội dễ hoà nhập hơn.
- Sử dụng giao tiếp tổng hợp làm phương tiện giao tiếp trong dạy học TKT

+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp theo những quan điểm và cách tiếp cận
hiện nay mà không sa vào cách làm cực đoan, tuyệt đối hóa một quan điểm ;
+ Sử dụ
ng kết hợp các hình thức ngôn ngữ nói, viết và kí hiệu ngôn ngữ;
+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ với phương tiện
giao tiếp ngôn ngữ;
+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp của cá nhân trẻ với phương tiện
giao tiếp của nhóm trẻ và với phương tiện giao tiếp của giáo viên;
+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp trên lớ
p với phương tiện giao
giao tiếp phát sinh ngoài lớp (ở nhà, ở địa phương…);
+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp trong dạy học với các phương tiện giao
tiếp trong những môi trường sinh hoạt, vui chơi, công tác xã hộ và giao tiếp văn hóa.
- Yêu cầu sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp
+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp trong dạy học và giao tiếp v
ới TKT phải
đảm bảo tính cá nhân hóa, phát triển các phương tiện giao tiếp phù hợp với khả năng của
mỗi trẻ, giúp các em phát triển tối đa khả năng hoạt động nhận thức của mình.
+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp cần phù hợp với môi trường học
hoà nhập ở tiểu học và môi trường đó cần được tổ chức thích hợp vớ
i việc sử dụng kết
hợp các phương tiện giao tiếp.
+ Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp cần dựa trên khả năng giao tiếp
của giáo viên, đặc biệt các kĩ năng giao tiếp và hiểu biết về giao tiếp của TKT. 13 14

việc sử dụng các phương tiện giao tiếp của giáo viên trong dạy học hòa nhập TKT
nhằm tiếp thu kinh nghiệm và căn cứ thực tiễn đề xuất các biện pháp phát triển nhận
thức của TKT trong dạy học hoà nhập.
2.1.2. Nội dung khảo sát
- Khả năng nghe của TKT tiể
u học.
- Khả năng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ của TKT tiểu học.
- Khả năng nhận thức bài học của TKT tiểu học.
- Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp trong dạy học hoà nhập TKT tiểu học.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và nhận thức của TKT tiểu học.

2.1.4. Phương pháp khảo sát
Bảng hỏi (Anket), phỏng vấn, quan sát, phiếu đánh giá, bảng
kiểm các từ loại,
bài tập trắc nghiệm
2.2.
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
1. Nhu cầu giao tiếp của TKT rất phát triển, đó là nhu cầu giao tiếp trong
học tập, vui chơi, các hoạt động trong sinh hoạt hằng ngày, Khả năng giao tiếp
của TKT nói chung còn yếu cả 3 mặt: năng lực cá nhân, những điều kiện bên
ngoài, phương tiện hỗ trợ giao tiếp .
2. Hầu hết TKT được phát hiện muộn, không được sử dụng máy trợ thính ngay từ khi
còn nhỏ, không được chú trọng phát triển ngôn ng
ữ ngay sau khi phát hiện nên các em
chưa có một nền tảng vững chắc về mọi mặt, nhất là ngôn ngữ ngay từ khi trẻ ở tuổi Mầm
non, bỏ qua thời kỳ hình thành và phát triển ngôn ngữ thuận lợi nhất. Cho nên, khi vào học
tiểu học các em gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và giao tiếp .
3. Sự yếu kém của các biện pháp tác động trong quan hệ dạy - học, giao tiếp thầy -
trò và các hoạt độ
ng giao tiếp nói chung chịu ảnh của một số yếu tố như: năng lực


3.2.1.1. Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Biện pháp này nhằm triệt để khai thác khả năng bù đắp của kí hiệu ngôn ngữ khi
trẻ học những vấn đề chứa từ mới, thuật ngữ mới, kết hợp với việc tận dụng khả năng
nghe còn lại của trẻ để phát triển ngôn ngữ nói.
3.2.1.2. Điều kiện thực hiện biện pháp
- TKT được đ
eo máy trợ thính thích hợp.
- Vị trí khi giao tiếp với TKT thuận lợi.
- Môi trường nghe yên tĩnh.
- Từ ngữ sử dụng trong giao tiếp với TKT ngắn gọn, dễ hiểu
- Sử dụng tối đa phương tiện trực quan trong dạy học TKT.
- Tôn trọng cách biểu đạt giao tiếp của TKT.
3.2.1.3. Qui trình thực hiện biện pháp
Bước 1: Chuẩn bị bài học
- Hướng dẫn TKT đọc và tìm hiểu nội dung bài học tr
ước khi bài học diễn ra.
- Trang bị cho TKT một số kí hiệu ngôn ngữ mói đối với trẻ
- Chuẩn bị phương tiện dạy học và đồ dùng trực quan.
Bước 2: Tiến hành bài học
- Giáo viên đọc bài học bằng NN nói kết hợp KHNN hỗ trợ đối với những từ mới.
- Yêu cầu một trẻ nghe bình thường đứng ở trên bục giảng, quay mặt xuống phía
dưới lớp đọ
c bài, giúp TKT thêm một lần nghe lại nội dung bài học.
- Tất cả trẻ nghe bình thường đọc thầm tìm và rút ra từ khó, TKT xem lại từ mới
(từ mới đối với TKT).
- Giáo viên sử dụng tranh ảnh, vật thật, tình huống thực tế hoặc đóng kịch nhằm
giải nghĩa những từ khó trong bài học đối với trẻ nghe bình thường), từ mới (đối với
TKT) và đồng thời cung cấp kí hiệ
u ngôn ngữ của những từ mới đó.

Bước 2: Tiến hành bài học

17 18- Giáo viên đọc bài học sử dụng ngôn ngữ nói kết hợp đồng thời với kí hiệu ngôn
ngữ (những từ gạch chân trong bài học).
- Yêu cầu một trẻ nghe bình thường đọc lại toàn bài, giáo viên phiên dịch ra kí
hiệu ngôn ngữ.
- Yêu cầu học sinh toàn lớp đọc thầm và gạch chân từ khó hiểu, TKT xem lại
những từ mới từ khó đã chuẩn bị trước.
- Giáo viên sử dụng tranh ảnh, vật thật, tình hu
ống thực tế, kịch bản, trang phục để
giải nghĩa từ khó và giải nghĩa thêm một số từ mới đối với TKT.
- Giáo viên cho học sinh toàn lớp quan sát tranh minh hoạ cho nội dung từng đoạn
và cùng các em tìm hiểu nội dung bài học.
- Giáo viên đặt câu hỏi (sử dụng ngôn ngữ nói đồng thời kí hiệu ngôn ngữ) theo
nội dung từng đoạn để giúp trẻ hiểu nội dung của từng phần và t
ừ đó rút ra nội dung
chính của toàn bài học.
Bước 3: Củng cố bài học
- Sau khi học xong bài học, giáo viên lựa chọn một số từ khó, từ mới đối với TKT,
yêu cầu trẻ giải thích .
- Giáo viên sử dụng ngôn ngữ nói đồng thời với kí hiệu ngôn ngữ đặt ra một số
câu hỏi và yêu cầu các em trả lời trong đó có TKT. Các câu hỏi này được tách nhỏ
như vẫn mang đầy đủ nội dung c
ủa các câu hỏi trong sách giáo khoa, nó giúp TKT
dễ hiểu, dễ trả lời. các câu hỏi.
3.2.3. Sử dụng ngôn ngữ nói kết hợp KHNN (đối với các từ ngữ
trọng tâm)

- Giáo viên sử dụng tranh ảnh, vật thật, tình huống thực tế, kịch bản, trang phụ
c để
giải nghĩa từ khó và giải nghĩa thêm một số từ trọng tâm khó hiểu đối với TKT.
- Giáo viên kết hợp cho trẻ quan sát tranh và kể lại bằng ngôn ngữ nói kết hợp kí hiệu
ngôn ngữ theo đoạn (khi nói đến từ trọng tâm đồng thời đưa ra kí hiệu ngôn ngữ tương ứng).
- Sau đó, giáo viên đặt câu hỏi (sử dụng ngôn ngữ nói kết hợp kí hiệu
ngôn ngữ đối với những từ ngữ mới) theo nội dung từng đoạn để giúp trẻ
hiểu nội dung của từng đoạn và từ đó rút ra nội dung chính của bài học.
Bước 3: Củng cố bài học
- Kết thúc bài học giáo viên đặt một số câu hỏi có sử dụng ngôn ngữ nói kết hợp kí
hiệu ngôn ngữ để kiểm tra mức độ hiểu bài của TKT.
- Trước tiên đặt các câu hỏi tổng quát cả bài, sau đó đặt câu hỏi chia nhỏ theo đoạn
- Căn cứ vào mức độ hiểu nội dung bài học, giáo viên làm cơ sở để đánh
giá khả năng nhận thức của trẻ.

19 203.3. MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐỂ THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP
- Máy trợ thính hoạt động tốt, thường xuyên huấn luyện để hình thành
thói quan và kĩ năng nghe cho TKT
- Môi trường nghe yên tĩnh.
- Giáo viên hiểu và biểu đạt thành thạo kí hiệu ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ kí hiệu.
3.4. THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
3.4.1. Tổ chức thực nghiệm
3.4.1.1. Mục đích
Đánh giá tính khả thi của các biện pháP sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp
để phát triển nhận thức của TKT tiểu học trong lớp học hoà nhập trên 3 nhóm đối
tượng với 3 biện pháp: 1) Sử dụng ngôn ngữ nói kết hợp kí hiệu ngôn ngữ (đối với từ
ngữ mới) trong dạy học hoà nhập TKT tiểu học. 2) S

78
17
72
70
71
75
18
42
43
65
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Nghe hieu Hình
miệng
Chữ viết KHNN
Đ.P.H N.M.L N.T.T
85
75
5
21
76
69

Khả năng nhận thức bài h
ọc
ĐPH NML NTT
Nội dung bài học
Hiểu Áp dụng Hiểu Áp dụng Hiểu Áp dụng
Một phần nội dung 33,34 33,34
Nội dung chính 33.34 33.33 66,66 33,34 33,33
Toàn bài học 33.33

21 22 - Ba trường hợp trên đều có những tiến bộ rõ rệt về nhận thức, các em hiểu được nội
dung cốt lõi của bài học ở các mức độ khác nhau.
- Những trẻ có khả năng nghe được âm thanh lời nói tốt hơn thì nắm bắt nội dung
bài học đạt hiệu quả cao hơn.
Qua kết quả đạt được của ba trẻ sau hai năm tác động, đã có thể khẳng
định các biện pháp sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp trong dạy học
và giao tiếp với TKT hoàn toàn phù hợp với khả năng giao tiếp của các em.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
1. Ba biện pháp sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp trong dạy học nhằm
phát triển nhận thức của TKT tiểu học trong lớp học hoà nhập xác định trên cơ sở sử
dụng hai cách tiếp cận giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và giao tiếp tổng hợp. Các biện
pháp này phần nào góp phần khắc phục cách làm thiếu hiệu quả hiện nay trong phát
triển nhận thức của TKT tiểu học
ở môi trường học hoà nhập.
2. Kết quả thực nghiệm cho thấy khả năng hiểu, biểu đạt ngôn ngữ và khả năng
nhận thức nội dung bài học của TKT tiểu học trong môi trường giáo dục hoà nhập
được cải thiện tốt hơn dưới tác động của các biện pháp sử dụng kết hợp các phương

ọc theo hướng hoà nhập.
1.4. Biện pháp cơ bản nhất trong số 3 biện pháp là sử dụng phương pháp lời nói. Vì vậy,
trong nội dung và qui trình tiến hành các biện pháp khác, cần lưu ý hướng vào việc bổ trợ
cho biện pháp này. Tất cả những phương tiện khác được sử dụng nhằm huy động cao nhất
khả năng giao tiếp của trẻ, cơ sở trực tiếp của sự phát triển nhậ
n thức trong học tập.
Kết quả thực nghiệm các biện pháp Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp trong
dạy học TKT tiểu học trong lớp học hoà nhập chủ yếu thu được thông qua nghiên cứu
trường hợp và tác động chuyên biệt kết hợp với tác động chung trên nhóm 15 trẻ. Kết quả
thực nghiệm đã khẳng định sự tiến bộ rõ r
ệt về khả năng giao tiếp và nhận thức của trẻ.
1.5. Kết quả nghiên cứu còn cho phép nhận định rằng máy trợ thính, môi trường nghe
yên tĩnh, môi trường giao tiếp, cách tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp, hiệu quả, sự
hỗ trợ của phụ huynh và nhất là việc sử dụng các phương tiện giao tiếp trong dạy học là
những yếu tố có liên quan mật thiết và tươ
ng tác với nhau trong quá trình giáo dục, có ảnh
hưởng đến sự phát triển và hoàn thiện năng lực nhận thức của TKT, giúp các em thực sự
trở thành chủ thể có khả năng hoà nhập cao trong học tập và đời sống cộng đồng.

2. KHUYẾN NGHỊ
2.1. Đối với nhà trường
2.1.1. Tạo điều kiện cho giáo viên dạy các lớp hoà nhập có TKT được tham gia
các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn; Phát động phong trào bồ
i dưỡng lại và tự bồi
dưỡng về phương pháp, kĩ năng, cách tổ chức hoạt động dạy - học hoà nhập TKT,

23 24nâng cao năng lực sử dụng phương tiện giao tiếp đặc thù, …

2.4. Đối với cộng đồng xã hội
2.4.1. Cần tăng cường tuyên truyền trên mạng thông tin đại chúng, tờ rơi, mở các
lớp tập huấn nhằm thay đổi nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm và nghĩa vụ
chăm sóc, giáo dục TKT. Trang bị cho phụ huynh TKT cũng như các thành viên trong xã
hội có những hiểu biết nhất định về
các loại tật và những biểu hiện của nó để có cách
phòng tránh, phát hiện trẻ có nguy cơ khuyết tật. Từ đó, đề ra các biện pháp tác động kịp
thời giúp trẻ phục hồi chức năng và phát triển những kỹ năng cần thiết một cách sớm nhất.
2.4.2. Tổ chức các hoạt động xã hội tại địa phương dành cho TKT có nhiều thành
phần tham gia như phụ huynh, giáo viên, bạn của TKT hoặc t
ổ chức các hoạt động
chung có TKT tham gia, nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội đối với các em, mặt
khác tạo môi trường để các em có cơ hội thực hành giao tiếp.
2.5. Đối với các cơ quan quản lí
2.5.1. Các cấp, các ngành và trực tiếp là ngành giáo dục cần có định hướng nghiên
cứu trước mắt và lâu dài về giáo dục TKT. Tạo điều kiện động viên, khuyến khích các
cá nhân, tập thể có sáng kiến khoa học về lĩnh vực này.
2.5.2. Cần
đẩy mạnh thông tin và phổ biến rộng rãi các công trình nghiên cứu,
sách, tài liệu về lĩnh vực giáo dục TKT.
2.5.3. Mở rộng và đa dạng hóa các loại hình đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chính
qui và ngắn hạn để đáp ứng kịp thời nhu cầu đi học của trẻ khuyết tật và giáo dục TKT.
2.5.4. Xác định cụ thể hơn mục tiêu và nội dung bồi dưỡng, nâng cao năng lực sư phạ
m
cho đội ngũ giáo viên đang dạy các lớp hoà nhập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục TKT.
2.5.5. Ngành giáo dục cần có các chính sách, chế độ đối với giáo dục dạy TKT
nhằm động viên, khuyến khích để giáo dục dành nhiều thời gian, công sức và trí tuệ
cho công tác chuyên môn. Nên trích một phần nguồn kinh phí để cung cấp máy trợ
thính cho những TKT nghèo.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status