BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN VĂN CHUNG
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG KẾT HỢP
CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT TRONG BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số : 62.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn: GS.TS. Lê A
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc, Trường ĐHSP- Đại học Thái Nguyên
Phản biện 2: PGS.TS. Đỗ Huy Quang, Trường ĐHSP Hà Nội 2
Phản biện 3: PGS.TS. Đỗ Xuân Thảo, Trường ĐHSP Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1. Sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt là một hoạt động rất cần thiết
trong quá trình tạo lập văn bản: Tạo lập văn bản (VB) là quá trình vật chất
hóa những ý tưởng trừu tượng của con người và phản ánh đời sống hiện thực
theo những cách thức khác nhau. Tuy nhiên, cuộc sống cũng như biết bao yếu
tố khác không hề tồn tại biệt lập mà luôn nằm trong một hệ thống với những
mối liên hệ rất chặt chẽ. Trước sự phức tạp này, người viết, dù muốn hay
không, cũng phải sử dụng kết hợp các PTBĐ trong việc xây dựng VB.
học sinh Trung học cơ sở.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lí luận và thực tiễn cần thiết, đề tài luận án nhằm nghiên
cứu, đề xuất những biện pháp rèn luyện KN sử dụng kết hợp các PTBĐ trong
bài văn NL cho HS THCS một cách có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng
dạy học làm văn NL ở nhà trường phổ thông hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, luận giải những cơ sở lí thuyết và thực tiễn cần thiết cho việc
giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Đề xuất các biện pháp nhằm rèn luyện KN sử dụng kết hợp các phương
thức BC, TS và MT trong bài văn NL cho HS THCS.
Tổ chức dạy học thực nghiệm (TN) nhằm kiểm tra tính khả thi của các
biện pháp rèn luyện KN sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn NL cho HS
THCS được đề xuất trong luận án, từ đó rút ra kết luận cần thiết.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là rèn
luyện KN sử dụng kết hơp các PTBĐ trong bài văn NL cho HS THCS
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài luận án nghiên cứu quá trình rèn luyện KN sử
dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT trong bài văn NL cho HS THCS.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp hồi cố và tổng hợp tư liệu
4.2. Phương pháp chuyên gia
4.3. Phương pháp quan sát, điều tra thực tiễn
4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
2
4.5. Phương pháp thống kê - phân loại
5. Giả thuyết khoa học
Để nâng cao tính thuyết phục và truyền cảm, tính sinh động và hấp dẫn
cho bài văn NL, HS cần phải được trang bị nhiều KN, trong đó sử dụng kết hợp
3
SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1.Nghiên cứu về khái niệm kĩ năng và rèn luyện kĩ năng
1.1.1.Tình hình nghiên cứu ở một số nước trên thế giới
M.A.Đan-nhi-lốp, IF Khar-ma-top xem KN là khả năng của con người, có
sự gắn bó chặt chẽ với tri thức và kĩ xảo. Ph.N.Cô-nô-bô-lin, A.V.Đa-pa-rô-giet
lại cho rằng KN vừa có mối liên hệ vừa có sự khác biệt so với năng lực.
Các nhà nghiên cứu thuộc trường phái tâm lí học hành vi cho rằng việc rèn
luyện KN không phải là một hoạt động âm thầm, “kín đáo” của chủ thể mà phải
thông qua những kích thích, tác động có kế hoạch từ bên ngoài. Trong khi đó, các
nhà nghiên cứu tâm lí học hoạt động cho rằng việc rèn luyện KN không chỉ phụ
thuộc vào những tác động từ bên ngoài mà còn phụ thuộc vào ý thức của chủ thể.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, KN được xem là “năng lực vận dụng có kết quả những tri thức
về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện nhiệm vụ tương
ứng” [30, tr 131], “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với
mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ
thể hay hành động trí tuệ”[55, tr 220]. Các nhà tâm lí học Việt Nam cũng đã đi sâu
lí giải mối quan hệ giữa KN và năng lực.
Về rèn luyện KN, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng đây là một quá
trình liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, trong đó kiến thức và bài tập có vai trò
rất quan trọng. Để việc rèn luyện KN đạt được hiệu quả “kiến thức đó phải phản
ánh đầy đủ thuộc tính của bản chất, được thử thách trong thực tiễn và tồn tại trong
ý thức với tư cách là công cụ của hành động”[62, tr 81].
1.2. Nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng sử dụng kết hợp các phương thức
biểu đạt trong văn bản
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở một số nước trên thế giới
Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới như M. Bakhtin, IU.V.Rozdextvenxki,
Irene C. Fountas & Gay Su Pinnell, Cecilia Ovesdotter
tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến việc rèn luyện KN sử dụng kết hợp các PTBĐ
trong VB nhưng cho đến nay, chúng tôi nhận thấy vẫn chưa có công trình
nghiên cứu nào về việc rèn luyện KN sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn
NL cho HS THCS. Dẫu vậy, những thành tựu kể trên vẫn là tiền đề khoa học rất
quan trọng để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài luận án đặt ra.
Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
5
2.1. Khái quát về sử dụng kết hợp phương thức biểu đạt trong văn bản
2.1.1.Phương thức biểu đạt
Biểu đạt là “làm cho nội dung tư tưởng được tỏ rõ ra bằng hình thức nào
đó”[107, 79], là dùng một hay một số dấu hiệu, tín hiệu để phản ánh, tái hiện và
bày tỏ một điều gì đó. Trong đó, ngôn ngữ là tín hiệu có khả năng biểu đạt cao
nhất vì trong bản thân nó đã chứa đựng cả cái biểu đạt và cái được biểu đạt:
“Âm thanh là cái biểu đạt còn ý nghĩa là cái được biểu đạt”[160, tr 70]. Vì thế,
về mặt hình thức, có thể xem PTBĐ là cách thức tổ chức, sắp xếp các đơn vị
ngôn ngữ để tạo nên những đơn vị ngôn ngữ cao hơn nhằm phục vụ cho mục
đích giao tiếp
Xét về mục đích giao tiếp, PTBĐ là cách thức tổ chức, sắp xếp các
phương tiện ngôn ngữ để thực hiện một hay một số hành vi ngôn ngữ trong quá
trình giao tiếp. Quá trình giao tiếp không bao giờ dừng lại ở một phát ngôn mà
phải có sự kết hợp nhiều phát ngôn với nhau để tạo thành một cuộc thoại hay
một VB. Vì “một sự kiện lời nói có thể là tối giản (chỉ có hành vi trung tâm và
một hành vi hồi đáp) hoặc phức hợp ngoài hành vi trung tâm (tường minh hay
hàm ẩn) còn có những hành vi thứ yếu phục vụ cho, xoay quanh hành vi trung
tâm, làm cho hành vi trung tâm phát huy được tận lực hiệu quả của mình”[18, tr
145]. Vì thế, trong một VB cũng có thể bao hàm nhiều PTBĐ nhưng nhất thiết
phải có một PTBĐ giữ vai trò chủ đạo còn các PTBĐ khác được sử dụng như là
động, sự việc diễn ra trong không gian và thời gian thì MT lại nhằm làm nổi bật
tính chất, đặc điểm có liên quan đến hành động, sự việc đó. Xét về mặt chức năng,
TS có vai trò chủ đạo trong việc thực hiện hành vi tái hiện, trong khi đó, MT lại
luôn gắn liền, phụ thuộc vào TS.
2.1.2. Sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản
Sự kết hợp trong ngôn ngữ được hiểu là cách sắp xếp các yếu tố, đơn vị
ngôn ngữ theo đúng quan hệ về ngữ pháp và ngữ nghĩa. Trong cơ chế vận hành
của ngôn ngữ, kết hợp thường đi kèm với liên tưởng: kết hợp là cơ sở để xuất
hiện liên tưởng; liên tưởng góp phần tạo nên nhiều kiểu kết hợp khác nhau.
Mỗi PTBĐ tương ứng với một hay một số hành vi ngôn ngữ nên mục
đích của sự kết hợp các PTBĐ là liên kết các hành vi ngôn ngữ với nhau để vừa
làm rõ cho hành vi ngôn ngữ trung tâm của VB vừa tạo nên những hiệu lực ở
lời, mục đích ở lời khác nhau. Tuy nhiên, do bị quy định bởi đặc trưng thể loại
7
của VB và các PTBĐ trước và sau nó, PTBĐ tồn tại trong chuỗi liên kết cũng có
sự biến đổi nhất định.
KN sử dụng kết hợp các PTBĐ là khả năng lựa chọn, sắp xếp các YTBĐ
để tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm bổ sung cho PTBĐ chủ đạo và thể
hiện rõ chủ đề của VB.
2.2. Lập luận và các phương thức biểu cảm, tự sự, miêu tả trong văn bản
nghị luận
2.2.1. Lập luận là phương thức biểu đạt chủ đạo trong văn bản nghị luận
Vai trò chủ đạo của LL được thể hiện đầu tiên ở sự chi phối đến việc lựa
chọn “chất liệu” và tổ chức các nội dung trong VBNL: LL bao giờ cũng hướng
đến một nhận định, đánh giá mang tính phổ quát nào đó. Vì thế, người viết văn
NL dù tái hiện một sự việc hay một chuỗi các sự kiện, một nỗi niềm riêng kín
của con người hay không khí của một thời đại, một khoảnh khắc thoáng qua hay
cả chiều dài lịch sử cũng chỉ nhằm minh họa cho nhận định của mình. Bên cạnh
đó, để LL, người viết phải xác lập được những tư tưởng, quan điểm của mình
rồi sau đó mới đi vào chứng minh để khẳng định giá trị chân lí của nó. Vì thế,
trong văn bản nghị luận
2.2.2.1. Phương thức biểu cảm trong văn bản nghị luận
- Mục đích sử dụng: Phương thức BC góp phần nhấn mạnh, tô đậm thêm
tình cảm, thái độ và quan điểm của người viết về vấn đề NL. Ngoài ra, nó còn đi
kèm với các PTBĐ bổ sung khác nhằm làm cho dẫn chứng hiện lên một cách nổi
bật, ấn tượng hơn trong bài văn NL, thu hút sự chú ý, quan tâm của người đọc.
- Một số YTBĐ đặc trưng của phương thức BC thường được sử dụng kết
hợp trong VBNL:
+ Các từ giàu sắc thái biểu cảm: từ ngữ cảm thán, đại từ nhân xưng, từ
ngữ giàu hình ảnh.
+ Các loại câu giàu sắc thái biểu cảm: người viết văn NL có thể sử dụng
những câu “có cấu trúc đồ sộ, bề thế, nhiều tầng bậc, nhiều thành phần chêm
xen, phụ chú, giải thích, để biểu hiện quan hệ logic đa dạng, phức tạp của hiện
thực, của nhận thức”[16, tr 94] hoặc tách các vế câu ra thành câu độc lập nhằm
mục đích nhấn mạnh một nội dung nào đó. Ngoài ra, những câu có tính chất hội
thoại, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày cũng được sử dụng trong bài văn
NL nhằm thu hút sự chú ý và tạo hứng thú cho người đọc.
+ Biện pháp tu từ: BPTT được sử dụng nhằm tăng thêm sức mạnh cho sự
đánh giá và tính truyền cảm cho lời văn, làm cho vấn đề NL trở nên gần gũi,
sinh động, làm cho câu văn NL trở nên “hài hòa, uyển chuyển về âm điệu, có
9
thêm lượng nghĩa biểu cảm - cảm xúc”[71, tr 221]. Các BPTT thường xuất hiện
trong VBNL như: so sánh, phép đối, phép điệp, câu hỏi tu từ
- Phạm vi sử dụng sử dụng: BC được sử dụng trong cả hai kiểu bài
NLVH và NLXH. Trong kiểu bài NLVH, phương thức này thường được sử
dụng trong một số trường hợp sau:
+ Thể hiện thái độ, tình cảm của người viết về tính cách, số phận của nhân
vật trong tác phẩm TS và tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong thơ.
+ Thể hiện sự đánh giá của người viết về tài năng, phong cách của nhà
văn, nhà thơ, đánh giá về giá trị của tác phẩm.
chứng minh cho quan điểm, nhận định của người viết.
2.2.2.3. Phương thức miêu tả trong văn bản nghị luận
- Mục đích sử dụng: MT giúp cho việc trình bày luận cứ trong bài văn NL
được rõ ràng, cụ thể, sinh động hơn và do đó, có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn.
- Một số YTBĐ đặc trưng của phương thức MT thường được sử dụng kết
hợp trong VBNL:
+ Các từ ngữ chỉ tính chất, trạng thái, đặc điểm của đối tượng: Trong bài
văn NL, người viết có thể sử dụng các từ giàu sức gợi tả, nhất là từ tượng hình,
tượng thanh
+ Tưởng tượng: Tưởng tượng thường được sử dụng để tái hiện lại một sự
vật hay hiện tượng cụ thể một cách toàn diện và sinh động để làm dẫn chứng
trong bài văn NL. Ngoài ra người viết cũng được phép sử dụng cách tưởng
tượng của người khác trong bài văn NL của mình.
- Phạm vi sử dụng: Phương thức MT có thể được sử dụng kết hợp trong
bài văn NLVH và NLXH. Trong bài văn NLVH, phương thức MT được sử dụng
kết hợp ở các trường hợp sau:
+ Đưa những chi tiết, hình ảnh hay cách tưởng tượng của nhà văn, nhà
thơ vào trong bài văn NL để chứng minh cho những nhận định, đánh giá của
người viết về một phương diện nào đó trong TPVH.
+ Trong TPVH, chi tiết và hình ảnh thường hiện lên một cách rất cô đọng.
Vì vậy, trong quá trình NL, người viết cũng có thể dùng khả năng tưởng tượng
để làm cho thế giới nghệ thuật hay tâm trạng của nhân vật, chủ thể trữ tình trong
tác phẩm hiện lên đầy đặn, cụ thể hơn.
Trong bài văn NLXH, MT được sử dụng kết hợp để tái hiện lại một biểu
hiện diễn ra trong xã hội hay những diễn biến tâm lí thầm kín bên trong tâm lí
con người nhằm chứng minh cho một nhận định nào đó.
2.3. Thực trạng rèn luyện kĩ năng sử dụng kết hợp các phương thức biểu
cảm, tự sự và miêu tả trong bài văn nghị luận cho học sinh Trung học cơ sở
2.3.1. Mục đích, nội dung, đối tượng và phương pháp khảo sát
11
thường chỉ mang tính qua loa, hình thức theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” mà
chưa đem lại hiệu quả thực sự.
Mặt khác, việc phối hợp rèn luyện KN sử dụng kết hợp các phương thức
BC, TS và MT trong bài văn NL cho HS qua các phân môn khác cũng chưa
được GV quan tâm đúng mức. Gần 20% GV được hỏi cho rằng chưa bao giờ
chú ý phân tích sự kết hợp các PTBĐ trong dạy học đọc hiểu VBNL, hơn 44%
GV được hỏi cũng chưa bao giờ tiến hành sửa lỗi kết hợp PTBĐ cho HS trong
giờ trả bài làm văn NL. Điều này làm cho KN của HS thiếu tính bền vững, ý
thức về tầm quan trọng của các phương thức BC, TS và MT trong bài văn NL
của các em chưa được nâng cao.
Những hạn chế về việc rèn luyện KN sử dụng kết hợp các phương thức
BC, TS và MT trong bài văn NL nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau. Trước hết, chúng ta nhận thấy rằng, dù đã được khẳng định từ lâu nhưng
đến nay việc sử dụng kết hợp các PTBĐ trong văn NL vẫn là một nội dung dạy
học còn tương đối mới mẻ và phức tạp với GV Ngữ văn THCS. Một thời kì rất
dài, dạy học làm văn chỉ chú trọng đến các yếu tố cấu thành VB hay nói cách
khác là những yếu tố bên trong của VB mà chưa quan tâm nhiều đến mối liên
hệ, giao thoa giữa các kiểu VB với nhau. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt nguồn tài
liệu tham khảo phục vụ dạy học là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả rèn luyện KN sử dụng kết hợp phương thức BC, TS và MT
trong bài văn NL cho HS THCS. Nhiều sách chuyên khảo, tài liệu bồi dưỡng
GV cũng chỉ mới đề cập một cách rất sơ lược mà chưa đưa ra được một hệ
thống lí thuyết, bài tập làm tiền đề cho việc rèn luyện KN.
2.3.2.3. Khả năng sử dụng kết hợp các phương thức biểu cảm, tự sự và miêu tả
trong bài văn nghị luận của học sinh Trung học cơ sở
Từ các số liệu thu thập được trong việc khảo sát ý kiến và bài viết của
HS, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các em đều nhận thức được tầm quan
trọng của KN sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn NL. Các em thường lựa
chọn các PTBĐ trong khâu tìm hiểu đề, lập dàn ý hay dựng đoạn văn. Những
PTBĐ cơ bản như BC, TS và MT đều được đa số HS sử dụng trong bài văn NL
- Quy trình sử dụng kết hợp phương thức BC, TS và MT trong bài văn NL.
3.1.2. Tổ chức chiếm lĩnh tri thức bằng phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phân tích ngôn ngữ là là phương pháp “HS dưới sự chỉ dẫn của thầy giáo
vạch ra những hiện tượng ngôn ngữ nhất định từ các tài liệu ngôn ngữ cho
trước, quy các hiện tượng đó vào một phạm trù nhất định và chỉ rõ đặc trưng
của chúng Thực chất của phương pháp này là từ việc quan sát, phân tích các
hiện tượng ngôn ngữ theo các chủ đề nhất định (để) tìm ra những dấu hiệu đặc
trưng của các hiện tượng ấy. Phương pháp phân tích ngôn ngữ có thể được chia
nhỏ tùy theo đối tượng phân tích: phân tích ngữ âm, phân tích từ vựng, phân
tích ngữ pháp, phân tích ngữ nghĩa, phân tích phong cách”[2, tr 66]. Trong khi
đó, PTBĐ và sự kết hợp các PTBĐ luôn được biểu hiện thông qua các phương
tiện ngôn ngữ. Vì thế, sử dụng phương pháp này để tổ chức cho HS chiếm lĩnh
các tri thức có liên quan đến việc sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn NL
là một giải pháp phù hợp và cần thiết.
Mặt khác, sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ còn làm tăng tính trực
quan cho giờ học lí thuyết, khắc phục được phần nào tính trừu tượng của tri thức.
Nếu trong dạy học tiếng Việt, phương pháp phân tích ngôn ngữ giúp HS
thấy rõ đặc điểm, cấu tạo của một hiện tượng ngôn ngữ, một BPTT thì khi tổ
chức chiếm lĩnh tri thức về sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn NL, phương
pháp này giúp HS thấy được đặc điểm ngôn ngữ của từng PTBĐ khi chúng tồn tại
trong những ngữ liệu cụ thể, từ đó rút ra được những kết luận cần thiết.
15
Để HS chiếm lĩnh được tri thức về sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn
NL bằng phương pháp phân tích ngôn ngữ , GV cần thực hiện các bước sau:
Bước 1. Lựa chọn ngữ liệu
Ngữ liệu phải chứa đựng những dấu hiệu của tri thức: Chất lượng của
ngữ liệu ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hình thành tri thức cho HS. Vì thế, nó
phải “đáp ứng được những dữ kiện để hình thành lí thuyết”, tiêu biểu, điển hình
cho việc sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT trong bài văn NL.
Ngữ liệu phải đa dạng: Sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn NL
các phương thức BC, TS và MT trong bài văn NL gồm:
- Vai trò, tác dụng của các phương thức BC, TS và MT trong văn NL
- Nguyên tắc sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT trong văn NL
- Cách thức sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT trong văn NL
Bước 5. Củng cố và nâng cao tri thức
Hoạt động này được thực hiện bằng cách yêu cầu HS thực hành giải bài tập
tại lớp. Trong đó, bài tập nhận biết, bài tập thông hiểu giúp cho tri thức của HS
được khắc sâu và bền vững hơn đồng thời là cơ sở để GV bổ sung, nhắc lại một số
kiến thức mà HS chưa hiểu rõ. Bài tập tạo lập giúp HS có điều kiện vận dụng
những tri thức đã học vào một tình huống, nhiệm vụ cụ thể, qua đó tri thức của các
em không chỉ được củng cố mà còn được mở rộng và nâng cao hơn.
3.1.3. Tổ chức chiếm lĩnh tri thức bằng phương pháp dạy học hợp tác
Nếu phân tích ngôn ngữ là phương pháp đặc thù trong dạy học Ngữ văn thì
dạy học hợp tác (cooperative learning) là phương pháp có khả năng sử dụng trong
dạy học nhiều môn học khác nhau. Phương pháp này thường được gọi là dạy học
theo nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm Nó không chỉ có tác dụng phát
huy tính tích cực của người học, tạo ra sự tương tác giữa các thành viên trong
nhóm, giữa nhóm này và nhóm khác mà còn có thể huy động được kinh nghiệm,
hiểu biết của từng cá nhân để giải quyết các nhiệm vụ học tập được giao, nhất là
những nhiệm vụ phức tạp. Trong khi đó, như đã nói, sử dụng kết hợp các PTBĐ
trong bài văn NL là tri thức rất trừu tượng HS THCS.
Những đặc điểm nói trên là cơ sở để chúng ta có thể sử dụng phương
pháp dạy học hợp tác vào việc tổ chức cho HS chiếm lĩnh các tri thức về sử
dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn NL. Bằng phương pháp này, tri thức và
kinh nghiệm của mỗi cá nhân không chỉ góp phần giải quyết nhiệm vụ học tập
của nhóm mà còn trở thành tri thức và kinh nghiệm chung cho mọi HS thông
qua sự tương tác lẫn nhau. Để tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức sử dụng kết
hợp các PTBĐ trong bài văn NL, phương pháp dạy học hợp tác cần được thực
hiện theo quy trình sau:
* Chọn nội dung và nhiệm vụ phù hợp: Nhiệm vụ quan trọng nhất đối với
Căn cứ vào các mức độ nhận thức của Nikko, chúng tôi đề xuất và xây
dựng hệ thống bài tập sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT trong
bài văn NL gồm 4 nhóm: bài tập nhận biết sự kết hợp các phương thức BC, TS
và MT trong bài văn NL (gọi tắt là bài tập nhận biết), bài tập thông hiểu sự kết
hợp các phương thức BC, TS và MT trong bài văn NL (gọi tắt là bài tập thông
18
hiểu), bài tập vận dụng mức độ thấp có sử dụng kết hợp các phương thức BC,
TS và MT (gọi tắt là bài tập vận dụng mức độ thấp), bài tập vận dụng mức độ
cao có sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT (gọi tắt là bài tập vận
dụng mức độ cao).
3.2.2. Miêu tả chi tiết hệ thống bài tập
N. Nhóm bài tập nhận biết: Nhóm bài tập này yêu cầu HS xác định các
PTBĐ được sử dụng kết hợp trong một đoạn văn hay VBNL nhất định. Bài tập
nhận biết được chia làm ba loại: nhận biết sự kết hợp phương thức BC (N1) và
nhận biết sự kết hợp phương thức TS (N2), nhận biết sự kết hợp phương thức
BC (N3). Mỗi loại bài tập được chia làm hai dạng: tìm YTBĐ và xác định
PTBĐ dựa trên một số yếu tố cho trước.
T. Nhóm bài tập thông hiểu: Bài tập thông hiểu yêu cầu HS tìm hiểu
cách sử dụng và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kết hợp các phương thức
BC, TS và MT trong một đoạn văn hay VBNL. Thực hành nhóm bài tập này sẽ
giúp các em nhận thức đầy đủ hơn về cách sử dụng và hiệu quả của từng PTBĐ
trong VBNL. Nhóm bài tập này làm ba loại: bài tập thông hiểu sự kết hợp
phương thức BC (T1), bài tập thông hiểu sự kết hợp phương thức TS (T2), bài
tập thông hiểu sự kết hợp phương thức BC (T3). Mỗi loại bài tập trên được chia
làm 2 dạng: đánh giá tác dụng và phân tích cách sử dụng kết hợp.
Vt. Nhóm bài tập vận dụng mức độ thấp: Bài tập vận dụng mức độ
thấp yêu cầu HS sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT để tạo nên
đoạn văn, bài văn NL dựa theo một mô hình hay những bộ phận cho trước.
Nhóm bài tập này được chia làm 2 loại: bài tập vận dụng thấp sử dụng kết hợp
một PTBĐ (Vt1)và bài tập vận dụng thấp sử dụng kết hợp từ hai PTBĐ trở lên
phương thức MT+TS, bài tập vận dụng mức độ cao sử dụng kết hợp phương
thức BC+MT+TS. Mỗi kiểu gồm 2 dạng: tạo lập sáng tạo, phát hiện và chữa lỗi
sử dụng kết hợp.
3.2.3. Sử dụng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học
3.2.3.1. Phương hướng chung: Sử dụng hệ thống bài tập phù hợp với đặc
điểm của HS THCS và mục tiêu của bài học đồng thời phải hướng tới việc rèn
luyện KN sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT trong bài văn
NLXH và NLVH.
3.2.3.2. Hướng sử dụng cụ thể
20
Hướng sử dụng bài tập trong dạy học các bài học lí thuyết và thực hành
sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT trong văn NL: Trong giờ học lí
thuyết, GV nên chú trọng sử dụng hệ thống bài tập nhận biết và bài tập thông
hiểu. Các nhóm bài tập này vừa là cơ sở để HS tự kiến tạo nên tri thức vừa góp
phần củng cố, nâng cao tri thức đã có. Trong giờ học thực hành, GV nên tổ
chức cho HS thực hành giải bài tập vận dụng mức độ thấp và mức độ cao.
Hướng sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học các nội dung khác: trong
dạy học các bài lí thuyết và thực hành “viết đoạn văn trình bày luận điểm” và
các giờ trả bài văn NL; trong dạy học đọc hiểu các VBNL; trong bồi dưỡng HS
giỏi môn Ngữ văn ở THCS và THPT.
3.2.3.3.Phương pháp tổ chức thực hành giải bài tập
Thực hành giải bài tập có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc rèn luyện
KN cho HS. Chỉ khi nào HS thực hiện hoạt động này một cách tích cực và tự
giác thì KN mới được hình thành một cách vững chắc. Vì thế, việc tổ chức thực
hành giải bài tập cho HS phải được tiến hành bằng những phương pháp phù hợp
với đặc điểm của từng loại bài tập và từng đối tượng HS. Để tổ chức thực hành
giải bài tập rèn luyện KN sử dụng kết hợp các PTBĐ trong bài văn NL, GV có
thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó, dạy học hợp tác,
rèn luyện theo mẫu, giao tiếp là những phương pháp giữ vai trò chủ đạo. Ngoài
ra, GV cũng có thể sử dụng một số kĩ thuật dạy học khác để hỗ trợ cho việc tiến
i
)
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
TN 226 0 0 0 11 32 60 64 38 16 5 0
ĐC 225 0 0 5 22 51 70 43 23 9 2 0
Bảng 4.6. Phân loại học lực của hai nhóm TN và ĐC
Nhóm
Số
HS
Số % HS
Kém
(0 - 2)
Yếu
(3 - 4)
TB
(5 - 6)
Khá
(7 - 8)
Giỏi
(9 - 10)
TN 226 0 19,1 54,8 23,9 2,2
ĐC 225 2,2 32,5 50,2 14,2 0,9
4.6. Khảo sát việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu cảm, tự sự và miêu tả
trong bài văn nghị luận của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Bảng 4.8. Khả năng sử dụng kết hợp các phương thức BC, TS và MT
22
Nhóm Số bài Xếp loại
Tốt Khá
Trung
bình
chỉ phải biết cách sử dụng hợp lí hệ thống lí lẽ, dẫn chứng vào quá trình LL mà
23