PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.Như chúng ta được biết hướng cải tiến chung của chương trình Sách giáo
khoa Ngữ văn hiện nay theo Bộ giáo dục và Đào tạo là giảm tải, tăng thực hành,
gắn với đời sống. Vì vậy, dạy và học trong nhà trường đang đứng trước yêu cầu
bức thiết đó là cần đổi mới toàn diện từ phương hướng, mục tiêu đến nội dung,
phương pháp dạy học. Đặc biệt, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học
cần được tiến hành ở tất cả các cấp học, bậc học.
Chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở đã nêu lên mục tiêu khái quát:“Mụn
Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của nhà
trường Trung học cơ sở, góp phần hình thành những con người có học vấn phổ
thông cơ sở…Đú là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quý
trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới
những tỡnh cảm cao đẹp như lòng nhõn ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công
bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những người biết rèn luyện để có tính
tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân thiện mỹ
trong nghệ thuật, trước hết trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực tư
duy sáng tạo như một công cụ để tư duy giao tiếp. Đó cũng là những người có ham
muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc”.
Không nằm ngoài những mục tiêu trên và nhằm phát triển cao hơn những yêu cầu
được nhắc đến ở chương trình Trung học cơ sở, bộ Sách giỏo khoa Ngữ văn Trung
học phổ thông cũng đã đưa ra nội dung giảng dạy và học tập rất “thấu tình đạt
lớ” để giúp học sinh phát huy khả năng tư duy và vận dụng vào trong thực tế cuộc
sống sau này của chính các em. Trong đó, phân môn Tập làm văn chiếm một vị trí
đặc biệt quan trọng. Nú là môn học thực hành tổng hợp ở trình độ cao thuộc liên
môn Văn và Tiếng Việt. Cái đích cuối cùng của phân môn này làtrang bị cho học sinh khả năng độc lập để viết một bài văn có chất lượng
cao. Muốn như vậy không có cách nào khả thi hơn ngoài việc đổi mới việc dạy học
ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) của một bài văn nói chung cũng như nghị
luậnnói riêng, đoạn mở bài thường tạo ấn tượng ban đầu về bài viết và giúp người
đọc cảm nhận trọn vẹn âm hưởng của toàn bài. Một đoạn mở bài gọn gàng, mạch
lạc sẽ thu hút được sự quan tâm của đông đảo người đọc. Bên cạnh đó, nú còn tạo
thêm hứng thú cho chính người viết. Ngược lại, người đọc mất cảm tình khi tiếp
xúc với một bài văn có đoạn mở bài mang biểu hiện của nhận thức hạn chế và lối
tư duy thiếu mạch lạc của người viết, thể hiện ở cách viết dài dòng, khô khan, lạc
đề, xa đề hoặc thiếu hấp dẫn. Từ tâm lí tiếp nhận không tốt, người đọc có thể mặc
nhiên quy kết rằng nội dung bài văn này kém chất lượng. Như vậy, đoạn mở bài là
một trong những bộ phận quan trọng cấu thành bài văn nghị luận.
Xuất phát từ thực tiễn dạy học môn Làm văn nhằm tăng cường tính thực
hành, phát triển tư duy logic và sự sáng tạo độc đáo của mỗi học sinh Trung học
phổ thông, từ đó giỳp các em hình thành kĩ năng, kĩ xảo khi làm bài văn nghị
luận.Và mặc dù đã có trỡnh độ tư duy phát triển cao cũng như kĩ năng viết văn từ
Trung học cơ sở nhưng các em vẫn mất nhiều thời gian thậm chí khó khăn khi
muốn viết được một mở bài trôi chảy tạo nên sự khơi thông mạch văn toàn bài.
Vì vậy, nhằm củng cố lại kiến thức lí thuyết Làm văn các em đã được học từ
Trung học cơ sởtừ đó vận dụng một cách thành thạo vào việc thực hành, sáchNgữ
văn 12 nâng caođã đưa thành một tiết riêng đó là “Mở bài”. Yêu cầu bức thiết của
việc viết đoạn mở bài một cách nhanh chóng mà vẫn đạt yêu cầu nhằm giúp các
em có tâm thế vững vàng trước mỗi bài kiểm tra, bài thi học kì hoặc thi tốt nghiệp
và thi đại học…chỳng tôi chọn đề tài: “ Rènkĩ năng viết đoạn mở bài trong bài văn nghị luận cho học sinh Trung học
phổ thông ”.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Làm văn là môn học ứng dụng, thực hành có tính chất tổng hợp nhất, đặc
biệt với văn nghị luận, trong đó văn bản nghị luận văn học không chỉ là loại văn
bản thông thường mà nú còn có tính nghệ thuật. Nghệ thuật thuyết phục người đọc
Cuốn sách tiếp theo dành sự quan tâm tới phần mở bài là Kĩ năng làm văn
nghị luận phổ thông của Nguyễn Quốc Siêu giới thiệu kĩ năng viết phần mở bài với
các cách sau: Từ một sự kiện tương đồng của vấn đề, từ việc trình bày bối cảnh mà
xác định luận đề, qua cách vấn thiết mà nêu vấn đề, dẫn danh ngôn đã nêu luận đề,
qua đối chiếu phải trái đã nêu vấn đề.
Một cuốn sách khác đã đóng góp không nhỏ trong việc hình thành kĩ năng viết
đoạn mở bài là 150 bài tập rèn kĩ năng dựng đoạn văn (Nguyễn Quang Ninh) qua
việc đưa ra hệ thống bài tập luyện dựng đoạn theo chức năng:
- Mở bài trực tiếp có hai cách: Mở thẳng vấn đề và mở trực tiếp có thêm phần
dẫn dắt (thời gian, không gian và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm).
- Mở bài gián tiếp: Mở bằng câu chuyện, mở bằng cách nêu câu hỏi, mở
bằng cách nêu sự kiện, con số.
Cuốn sách Văn bồi dưỡng học sinh giỏi Trung học phổ thông (Nguyễn Đăng
Mạnh) bàn luận khá kĩ về việc viết đoạn mở bài hay:“Trước hết muốn mở bài hay cần
hiểu rõ mục đích và nhiệm vụ của mở bài. Mục đích của mở bài là giới thiệu với bạn
đọc về vấn đề mà mình sẽ viết, sẽ bàn bạc, trao đổi hay miêu tả, kể lại. Viết mở bài
thực chất là trả lời câu hỏi: Ở bài viết này, mình định viết về điều gì?”… “Các cách
mở bài khác nhau chủ yếu ở phần dẫn dắt. Phần nêu vấn đề và phần giới hạn vấn đề
thường không thay đổi, vì mở bài theo kiểu gì thì ai cũng phải nêu được phần này.
Như thế cũng có nghĩa là, muốn viết được các mở bài khác nhau thì người viết chỉ
cần xác định rõ ba phần của đoạn mở bài,giữ lại hai phần sau và thay đổi phần đầu là có thể có một mở bài khác. Nói
gọn lại cứ thay đổi phần dẫn dắt ta sẽ có một mở bài mới”.[27,87]
Những tài liệu trên cơ bản đã hình thành những lí thuyết chung về đoạn mở
bài. Tuy nhiên, cần thấy rằng cách tìm hiểu về phần mở bài như vậy vẫn chưa thật
toàn diện, chưa thật sâu sắc. Nội dung của những cuốn sách này chủ yếu vẫn thiên
về lí thuyết trừu tượng chứ chưa thực sự chú trọng hình thành các thao tác cụ thể
cho học sinh. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này trên cơ sở kế thừa và sáng tạo tất cả
nghiệp và thi đại học.
Như chúng ta đã biết, bố cục một bài văn nghị luận thường có ba phần: Mở
bài(đặt vấn đề), thân bài (giải quyết vấn đề), kết bài (kết thúc vấn đề). Trong khuôn
khổ hạn hẹp của luận văn về điều kiện và khả năng, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu đoạn mở bài. Hi vọng rằng luận văn với những nội dung bao hàm trong
đó sẽ là tài liệu bổ ích cho những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu và hơn
hết làgiúp các em học sinh Trung học phổ thông có thể viết phần mở bài bài văn nghị
luận thành thục, đạt yêu cầu, hay và hấp dẫn.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu việc luyện cho học sinh cách viết đoạn mở bài trong văn nghị luận được
tiến hành thường xuyên và có cơ sở khoa học thì chắc chắn việc rèn kĩ năng đó sẽ
góp phần nâng cao chất lượng học phần Làm văn, đặc biệt là viết đoạn vănnói
chung và đoạn mở bài nói riêng trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông,
phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc viết bài
văn nghị luận hoàn chỉnh đảm bảo đúng yêu cầu mà vẫn hay, thu hút và lôi
cuốn người đọc, người nghe.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
Trong quá trình xây dựng đề tài, chúng tôi đã vận dụng nhiều phương pháp
dạy học tiếng Việt, dạy học Làm văn. Giữa các phương pháp có sự phối hợp
vớimức độ đậm nhạt và phân bố khác nhau ở từng phần. Dưới đây là một
số phương pháp nghiên cứu cơ bản nhất đã được chúng tôi vận dụng.6.1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ dùng để nghiên cứu tài liệu trong quá
trình thực hiện đề tài. Với đề tài này, chúng tôi thu thập thông tin trên cơ sở
nghiên cứu văn bản, tài liệu đã có để rút ra những kết luận khoa học cần thiết.
Các văn bản, tài liệu xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài là các tài liệu ngôn
ngữ học, đặc biệt là các tài liệu về Làm văn và tâm lí dạy học.
6.2. Phương pháp khảo sát thực tế
nghiệm cho từng đối tượng theo trình tự: Dạy lí thuyết, ra đề, đánh giá và thống kê
kết quả. Cuối cùng, chúng tôi có thể rút ra kết luận mang tính khách quan nhất về
quá trình nghiên cứu của mình.
6.5. Nhóm phương pháp giảng dạy bộ môn Tập làm văn
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi cần thiết phải quan tâm đến các phương pháp
giảng dạy Tập làm văn bởi tính chất đặc thù của bộ môn chuyên ngành. Cấu trúc
toàn bộ luận văn có thể xem như một giáo án hoàn chỉnh để dạy học, chúng tôi tuân
thủ theo nguyên tắc giảng dạy gắn với tư duy, gắn bài giảng với giao tiếp (các phần
trình bày lí thuyết có thể xem là phần thuyết giảng với các phương pháp thông báo
– giải thích, các phần ví dụ áp dụng phương pháp dạy theo mẫu, các đề xuất, ý tưởng
là những tình huống gợi mở ).
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm ba
chương:
Chương I: Các vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến việc tìm hiểu đoạn mở
bài trong văn nghị luận
Chương II: Rốn kĩ năng viết đoạn mở bài trong bài văn nghị luận cho học sinh
Trung học phổ thông
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIấN QUAN ĐẾN VIỆC TèM HIỂU ĐOẠN MỞ BÀI TRONG BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
sản sinh các loại văn bản để giao tiếp. Việc dạy Làm văn chính là dạy cách tổ chức
giao tiếp bằng văn bản. Chúng ta nhận thấy một điều là việc Làm văn có quan hệ
với một lí thuyết khác bên cạnh lí thuyết về văn bản: Lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ không đơn thuần chỉ nhằm mục đích thông tin mà
chủ yếu là quá trình tác động tới người nhận về nhận thức, quan điểm, thẩm mĩ và
hành động. Không có một văn bản nào chỉ nhằm mục đích thông tin thuần tuý(hay
nói chính xác hơn là rất ít những văn bản chỉ nhằm mục đích thông tin) mà qua
thông tin để nhằm mục đích nhất định. Khi dạy Làm văn cũng vậy, giáo viên cần
dạy cho học sinh thấy rằng viết bài bên cạnh việc đưa thông tin còn phải chú ý lựa
chọn thông tin đó để làm gì, nhằm đạt mục đích gỡ…Và nhằm đưa người đọc vào
vấn đề cần bàn là việc người viết phải chú ý lựa chọn nội dung khi làm phần mở
bài.
Theo quan điểm giao tiếp, các yếu tố ngôn ngữ trong hoạt động hành chức
của mình luôn luôn là những yếu tố có sự biến động. Chúng có thể phát sinh đặc
tính mới, tăng cường thêm giá trị hoặc ngược lại cũng có thể thuyên giảm, rút bớt
giá trị mà chúng vốn có trong hệ thống. Sở dĩ có tình hình này là do trong giao
tiếp, một mặt là sự tác động qua lại giữa các yếu tố bên trong hệthống, mặt khác do các yếu tố này được lí giải hoàn toàn khác nhau ở những
người sử dụng khác nhau tạo nên. Chính vì vậy, trong hoạt động hành chức, nội
dung một văn bản thường được xác định từ hai góc độ: Thứ nhất, là sự xác định ý
nghĩa chung của sự kết hợp giữa các yếu tố ngôn ngữ đem lại; thứ hai, là việc xác
định từ sự hiểu biết văn bản ở người nhận đưa tới. Như vậy, một văn bản mã hoá
đúng quy tắc về ngữ pháp, ngữ nghĩa…là điều kiện cần thiết để đạt mục đích chứ
không phải là bản thân mục đích.
Từ cách hiểu trên, chúng ta khẳng định: Mỗi bài văn khi được xây dựng nên
phải nhằm mục đích nhất định, có nội dung xác định và phục vụ những đối tượng
giao tiếp cụ thể. Như vậy, bài văn của học sinh khép về mặt hệ thống cấu trúc
nhưng lại mở về mặt giao tiếp.
Không nắm được các thao tác tư duy, không nắm được những quy luật cơ bản của
logic học…khụng thể tạo dựng được bài văn chặt chẽ, mạch lạc về nội dung và rõ
ràng, trong sáng về diễn đạt. Vì vậy, việc coi logic học là một trong những tiền đề
của việc làm văn là hoàn toàn có cơ sở.
Các vấn đề của bài văn nghị luận mà chúng ta đang xét như tìm ý, lập dàn ý,
làm bố cục, viết bài…đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với lí luận về logic.
Khái quát nên cấp độ kiểu loại có thể rút ra nhận xét: “Lớ luận và tư duy logic là
đặc trưng nổi bật của văn nghị luận” (Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy
Tập làm văn cấp 3 – phổ thông – tập 1). Bởi vậy, gắn với tư duy là nguyên tắc nổi
bật và hết sức quan trọng của bộ môn Làm văn. Tư duy sắc sảo sẽ giúp người viết
phân tích thấu đáo, cặn kẽ và khái quát đầy đủ chính xác thể hiện khả năng làm
chủ, kiến giải và xử lí vấn đề.
Sách Làm văn 12 nêu nhận định: “Nghị luận là vận dụng tư duy và ngôn
ngữ. Khoa học về tư duy là logic học, khoa học về ngôn ngữ là ngôn ngữ học.
Song không nhất thiết phải giỏi logic mới suy nghĩ đúng và phải thạo ngôn ngữ
mới nói viết tốt…Tuy vậy, cũng cần biết qua một vài thao tác chính của văn nghị
luận”. Thực tiễn giảng dạy cho thấy khi các em tư duy tốtcó quan hệ trực tiếp với các văn bản văn học– một trong những nội dung
quan trọng của việc Làm văn – vẫn là một tiền đề lí luận không thể thiếu trong lí
thuyết Làm văn.
Nhìn lại nội dung Làm văn ở nhà trường Trung học về mảng nghị luận văn
học, chúng ta thấy từ nhiều năm nay đều xoay quanh một số vấn đề như: Phân tích
nhân vật, phân tích cốt truyện, phân tích kết cấu, phân tích nghệ thuật… (Được gọi
chung là phân tích tác phẩm); phân tích các vấn đề văn học sử: Giai đoạn văn học,
quan điểm văn học, phương pháp sáng tỏc…Tất cả những vấn đề trên của lí thuyết
Làm văn gắn liền với các vấn đề lí luận văn học như: Nhân vật, cốt truyện, phương
pháp sáng tỏc…Để giải quyết tốt những vấn đề được đặt ra trong bài văn nghị luận
văn học, rõ ràng là cần phải nắm chắc những vấn đề lí luận văn học. Đây là tri thức
Trong quá trình viết bài nghị luận văn học vẫn cần dùng những kiến thức xã
hội, chính trị, cũng như viết bài nghị luận xã hội vẫn có thể dùng kiến thức văn học
để minh họa. Tuy vậy hai loại này vẫn không thể lẫn lộn với nhau được. Khi đã lấy
đối tượng là một sự kiện chính trị – xã hội, thì dù có bao nhiêu thơ văn minh họa
vẫn không thể gọi đó là bài nghị luận văn học. [30,18]
Nghị luận xã hội là một loại hình văn bản rất quan trọng với học sinh. Bởi vì
sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông không phải ai cũng đi vào con đường văn
chương. Nhưng ai cũng phải đối diện với những vấn đề xã hội. Nhiều trường hợp
ta phải giải thích, chứng minh, phải thể hiện thái độ tư tưởng và tình cảm của mình
trước một vấn đề xã hội nào đó và phải thuyết phục một đối tượng nào đó theo lẽ
phải của mình. Do đặc điểm nội dung xã hội– chính trị, loại văn nghị luận xã hội
dùng các thao tác nghị luận chính là: Giải thích, chứng minh, bình luận. Ít có
trường hợp đề ra yêu cầu phân tích hay bình giảng.lại những nỗi sợ hãi này. Đúng như Thế Lữ đã từng giải thích: “Sở dĩ Xuân
Diệu tham lam tình yêu, chất chứa vào lòng không chán, không đủ, không nguôi,là
bởi thi sĩ rất sợ cô độc” (Lời tựa tập Thơ thơ). Đó cũng chính là cội nguồn “niềm
khát khao giao cảm với đời” của toàn bộ hồn thơ Xuân Diệu”.
Mở bài 2: “Cú lẽ một trong những cội nguồn của sáng tạo thơ ca là người
nghệ sĩ luôn cảm thấy tâm hồn mình cô đơn. Thơ đối với họ là những tiếng vang
lên để tìm kẻ tri âm. Ở Xuân Diệu, trước cách mạng, nỗi cô đơn ấy sừng sững
thành một khối cô độc, luôn ám ảnh trước mắt ông. Vì thế, Xuân Diệu gửi vào thơ
tiếng nói khao khát sống, khao khát yêu của trái tim mình. Có người bảo Xuân
Diệu muốn hưởng lạc. Không! “Sở dĩ Xuân Diệu tham lam tình yêu, chất chứa
trong lòng không chán, không đủ, không nguôi là bởi thi sĩ rất cô độc” (Thế Lữ -
tựa cho tập Thơ thơ). Đó cũng chính là cội nguồn “niềm khát khao giao cảm với
đời” của toàn bộ hồn thơ Xuân Diệu”.[27, 90]
Hai mở bài trên cùng viết cho một đề tài. Mỗi mở bài có một cách dẫn dắt vấn
đề độc đáo, tự nhiên không giống nhau, tạo nên giọng điệu riêng của mỗi bài viết. Cả
Mở bài trên viết theo kiểu quy nạp:
- Câu (1), (2): Đưa ra những tấm gương không quản ngại khó khăn, gian khổ
thậm chí sẵn sàng hi sinh tính mạng để cứu người.
- Câu (3): Khái quỏt những hành động cao cả đó trong khái niệm lòng dũng
cảm.
3.2.3. Mở bài theo kiểu tương liên (tương đồng)
Mở bài theo kiểu tương liên là mở bài bằng cách bắt đầu nêu lên một ý
tương tự hoặc có liên quan với ý của luận đề, có tác dụng gợi ra sự liên tưởng rồi
chuyển sang luận đề.
Ví dụ:
Đề bài: Phân tích bài thơ “Tỡnh ca ban mai” của Chế Lan Viên.
Mở bài:
“Làm sao được tan ra
Thành trăm con súng nhỏTrong luận văn này, chúng tôi cung cấp đầy đủ lượng kiến thức về khái niệm,
cách thức, thao tác để viết các dạng mở bài khác nhau. Qua đó, rèn luyện kĩ năng viết
đoạn mở bài trong văn nghị luận cho học sinh Trung học phổ thông.
Có thể cung cấp lí thuyết Làm văn cho học sinh theo những phương pháp
sau đây:
4.1.1. Phương pháp thông báo – giải thích
Phương pháp này được hiểu là quá trình điều khiển học sinh hoạt động để
phát hiện lại những tri thức đã được các nhà Việt ngữ khẳng định mà không phải
bản thân các em phải phát hiện ra điều gì mới mẻ. Đây chính là một cách thức tiếp
thu tri thức của con người. Hiện nay, có một số ý kiến cho rằng phương pháp này
không phát huy được vai trò trung tâm, chủ động và sáng tạo của học sinh. Nhưng
trên thực tế, phương pháp truyền thống đó vẫn còn có hiệu quả. Áp dụng giảng dạy
theo phương pháp thông báo – giải thích, người thầy giáo có điều kiện cung cấp
cho học sinh những mẫu lời nói thông qua lời thuyết minh, giải thích của mình. Từ
- Bước 2: Nêu vấn đề (tức là nêu nội dung vấn đề sẽ được trình bày ở thân
bài). Khi nêu vấn đề có thể sắp xếp theo một trật tự nhất định để khi triển khai
người viết nhấn mạnh vào vấn đề nào là then chốt.
- Bước 3: Xác định thể loại và phạm vi đề bài (bước này có thể có hoặc
không). Bước này đóng vai trò liên kết, chuyển tiếp nội dung từ mở bài sang thân
bài.
* Bài tập luyện tập: Viết đoạn mở bài trực tiếp có dẫn dắt cho các đề bài sau:
Đề bài 1: Bình giảng đoạn văn tả vầng trăng trên cánh rừng già và vẻ đẹp
nhân vật Nguyệt dưới ánh trăng trong truyện ngắn “Mảnh trăngcuối rừng” của
Nguyễn Minh Châu.
Gợi ý làm bài:Đề bài 2: Nhà văn Nga Lép Tôn – xtụi nói: “Lớ tưởng là ngọn đèn chỉ
đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có
phương hướng thì không có cuộc sống”. Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề
này.
Gợi ý làm bài:
- Liên tưởng những trải nghiệm của chính bản thân nhà văn Lép Tôn – xtụi
đã cố gắng để đạt lí tưởng trong cuộc sống.
- Chính những trải nghiệm đó đã dẫn đến lời phát biểu như trong đề bài đưa
ra.
a
5
) Viết đoạn mở bài theo kiểu tương phản
Ví dụ:
“Nói đến Tú Xương, người ta thường nghĩ đến một nhà thơ trào phúng với
một giọng thơ châm biếm gay gắt, quyết liệt và dữ dội. Giọng thơ ấy thể hiện một
tâm trạng uất ức, một thái độ khinh ghét của nhà thơ đối với hiện thực xã hội lúc
bấy giờ. Nhưng sẽ là chưa đủ, nếu không thấy bên cạnh một Tú Xương quyết liệt,
* Bài tập luyện tập: Viết mở bài gián tiếp theo kiểu đặt câu hỏi (nghi vấn)
cho các đề bài sau:
Đề bài 1: Nhà văn Nguyễn Đình Thi viết: “Tỏc phẩm văn học lớn hấp dẫn
người ta bởi cái nhìn nhận mới, tình cảm mới về những điều, những việc mà ai
cũng biết cả rồi”. Anh (chị) hãy bình luận câu nói và phân tích sức hấp dẫn của
một vài tác phẩm văn học mà anh (chị) cho là tác phẩm lớn.
Gợi ý làm bài:
- Theo cách nghĩ thông thường thì một tác phẩm hấp dẫn phải có đề tài lớn
lao, cốt truyện li kì, những sự lạ lẫm, những tình huống éo le ngang trái trên đời…
(đặt câu hỏi nghi vấn vào quan điểm này).
- Phủ nhận quan niệm trên nếu nêu ra được vấn đề cần bàn (trích câu nói của
Nguyễn Đình Thi).Các phương tiện truyền thông và truyền
miệng luôn đưa lời khuyên “xưa như
trái đất” : Các quý ông hãy chừa rượu!
Còn ma tuý thì được hình dung như một
“tử thần” với con người. Thế nhưng tại
sao con người vẫn hàng ngày tìm đến
rượu, ma tuý và thuốc lá như tìm đến
người bạn không thể thiếu trong cuộc
viễn du và chưa bao giờ con người dứt
gì,cần trao đổi và làm sáng tỏ vấn đề
gì?
c. Cấu trúc thông thường của một mở
bài
1. Lê Thị Diệu Hoa – Ôn luyện kiến thức và bài tập rèn kĩ
năng Ngữ văn 12 – NXB Giáo dục, 2008
2. Bùi Văn Huệ - Giáo trình tâm lí học – NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2001
3. Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Mạnh,
Trần Đình Sử, Trần Hữu Tá – Ôn thi văn học, tập 2 – NXB
Đại học Sư phạm Hà Nội, 1984
4. Lê Quang Hưng - Đến với tác phẩm văn chương – NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007
5. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hoà – Phong
cách học tiếng Việt – NXB Giáo dục
6. Nguyễn Văn Long, Chu Văn Sơn – Giảng văn văn học
Việt Nam hiện đại – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000
7. Đỗ Luận – 27 bài làm văn 12 – NXB Trẻ, 2004
8. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng,
Trần Thế Phiệt –Phương pháp dạy học văn – NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, 1998
9. Phan Trọng Luận – Phương pháp dạy học văn, tập 2 –
6. Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phong -
Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh
phổ thông – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000
7. Nguyễn Quang Ninh – Văn ôn thi đại học – NXB Đại học Sư
phạm, 2006
8. Nguyễn Ngọc Phúc – Rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm
văn nghị luận –Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 11, 1980
9. Bảo Quyến – Rèn kĩ năng làm văn nghị luận – NXB Giáo
dục, 2001
10. Nguyễn Đức Quyền – Những bài làm văn đạt giải qua các
kì thi học sinh giỏi văn toàn quốc lớp 12 – NXB Trẻ, 1996
11. Nguyễn Quốc Siêu – Kĩ Năng làm văn nghị luận phổ
thông – NXB Giáo dục, 2001
12. Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Minh Thuyết
– Làm văn 12 – NXB Giáo dục, 1994
13. Trần Đình Sử (tổng chủ biên) – Ngữ văn 10 nâng cao – NXB
Giáo dục, 2008