Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 1
Lời cảm ơn!
Để chuẩn bò kết thúc khoá học lớp đại học tại chức, khoa giáo dục
tiểu học đã cho các học viên làm đề tài, trong đó tôi chọn đề tài:”Phát
triển kó năng viết đoạn mở bài trong bài tập làm văn của học sinh lớp
4”.Tôi làm đề tài này dưới sự hướng dẫn của tiến só Trần Thò Giang-
cán bộ giảng dạy Khoa giáo dục Tiểu học Trường Đại học Quy Nhơn.
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài chính vì thế
tôi không thể không mắc phải những sai lầm , khiếm khuyết nhất đònh .
Tôi rất mong nhận được sự quan tâm , giúp đỡ của các thầy cô giáo ,
của các bạn để tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tiến só Trần Thò Giang và sự góp ý của
các quý thầy cô giáo và các bạn .
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cũng như tất cả các môn học khác ở chương trình tiểu học, môn tiếng
Việt, trong đó có phân môn tập làm văn chiếm một vò trí hết sức đặc biệt
quan trọng trong chương trình. Học tập làm văn học sinh phát huy vốn
kiến thức văn học qua các bài tập đọc, vốn từ ngữ qua môn học luyện từ
và câu, vốn hiểu biết về cuộc sống xã hội đã học để trình bày và diễn
đạt một vấn đề theo cách nói hoặc viết để học tập, giao tiếp trong môi
trường hoạt động lứa tuổi .
Trong thực tế dạy học, phân môn tập làm văn lớp bốn là một phân
môn hội tụ đầy đủ các yếu tố của quá trình giao tiếp, đồng thờiđánh
giá kết quả học tập và giảng dạy các phân môn khác. Học sinh nắm
được ngôn ngữ lời nói cũng là điều kiện thiết yếu của việc hình thành
tích cực hoá nhân cách. Mục tiêu của phân môn tập làm văn nhằm
trang bò cho các em những hiểu biết về vốn từ ngữ để các em biết
cách dùng từ, đặt câu thể hiện tư tưởng tình cảm trong khi nói và viết
tạo nên câu văn hoàn chỉnh.
2. Cơ sở của việc dạy tập làm văn ở tiểu học
2.1. Cơ sở tâm lí học
Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp do đó việc dạy tập làm
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 4
văn dựa trên kết quả nghiên cứu của nhiều môn khoa học. Trong các cơ
sở đó, đối với việc dạy tập làm văn ở tiểu học, quan trọng nhất là cách
hiểu biêùt về phương pháp dạy tiếng phổ thông, lí thuyết hoạt động lời
nói, ngôn ngữ học, lí luận văn học.
Mọi hoạt động nhận thứccủa trẻ được phát triển đều thông qua hoạt
động thực tiễn và hoạt động thực tiễn thông qua các mặt hoạt động cụ
thể để có thể hướng đến một động cơ, một mục đích chung.
Có một hành động cũng sẽ hướng tới mục đích cụ thể,có một mục
đích cụ thể cũng hướng đến hành động.Nên nó có hướng hai chiều.
Thao tác cũng hướng đến phương tiện và điều kiện ,khi có điều kiện
và phương tiện rồi ta lại đưa ra thao tác cụ thể.
Từ đó đònh hướng đúng đắn và nhanh chóng trong một hoạt động giao
tiếp. Phải lập ra chương trình lời nói, nội dung cho phù hợp, tìm ra một
phương tiện hợp lí để truyền đạt nội dung đó. Sử dụng ngôn ngữ hoặc
nhiều tranh ảnh để biểu đạt nội dung đó. Đảm bảo mối quan hệ qua lại
giữa nội dung hoạt đông và các quan hệ giao tiếp.
Có thể nêu sơ đồ theo Tâm lí học tập một, Nhà xuất bản Giáo dục
1988 như sau:
Động cơ,mục đích chung
Hành động
Hoạt động cụ thể
Mục đích cụ thể
Thao tác Điều kiện, phương tiện
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 5
2.2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học
Các phong cách học, ngữ pháp văn bản, ngữ dụng học đều giúp ích
Tày, Nùng (chiếm 90%). nh hưởng của phương ngữ và tiếng mẹ đẻ rất
lớn nên các em đọc và viết tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến
việc viết đoạn mở bài chưa được như yêu cầu của chương trình.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu chọn đề tài,chúng tôi đã sử dụng một số
phương pháp sau:
- Phương pháp trò chuyện: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để hỏi,
tròchuyện với một số giáo viên có kinh nghiệm dạy tiếng Việt ở tiểu
học để thu thập những vấn đề tồn tại trong cách viết đoạn mở bài của
học sinh.
- Phương pháp tìm và nghiên cứu tài liệu:Tìm hiểu các tài liệu để thu
thập những cách đểrèn kó năng viết đoạn mở bài cho học sinh cũng như
thu thập một số ý kiến và biện pháp của họ về viết đoạn mở bài của học
sinh tiểu học.
- Phương pháp nghiên cứu hoạt động của đối tượng: Nghiên cứu và
phân tích mở bài trong văn miêu tả của học sinh để tìm ra cái được và
biện pháp khắc phục.
PH
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 7
PHẦN NỘI DUNG
1. Khái niệm đặc điểm văn miêu tả
Văn miêu tả thường được hiểu là dùng ngôn ngữ để thể hiện lại sự vật,
hiện tượng, con người … một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có, nhưng
văn miêu tả không phải là sự sao chép chụp ảnh lại thực tế khách quan mà
nó là kết quả của sự nhận xét, đánh giá, tưởng tượng hết sức phong phú của
người viết, không có sự rung động, không có sự nhận xét tinh tế và dồi dào
sức sáng tạo của người viết không thể tạo ra được một văn bản đầy sức
sống tràn ngập hơi thở đời thực. Vì vậy, dù miêu tả bất cứ đối tượng nào,
văn miêu tả bao giờ cũng là loại văn chứa đầy tình cảm của con người.Bất
kì một hiện tượng nào trong thực tế khách quan cũng trở thành đối tượng
Trong thực têù, việc xây dựng văn miêu tả thường được đan xen với văn
tường thuật hoặc văn kể chuyện, vừa tường thuật, vừa miêu tả, thậm chí
ngay cả trong văn viết thư khi cần người viết vẫn có thể miêu tả một đối
tượng nào đó để người đọc có thể hình dung được sự vật, hiện tượng. Chính
tính đan quyện này giữa các loại văn làm cho người đọc hứng thú hơn trong
việc tiếp nhận văn bản.
2. Văn miêu tả trong dạy học lớp 4
Văn miêu tả trong chương trình lớp 4 có các kiểu bài sau: tả đồ vật, tả
cây cối, tả con vật.
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 9
- Giới thiệu cấu tạo bài văn miêu tả:
* Tả đồ vật:
1. Bài văn miêu tả đồø vật có ba phần là mởbài, thân bài và kết bài.
2. Có thể mở bài theo kiểu trực tiếp hay gián tiếp và kết bài theo kiểu
mở rộng hoặc không mở rộng.
3. Trong phần thân bài, trước hết nên tả bao quát toàn bộ đồ vật, rồi tả
những bộ phận có đặc điểm nổi bật.
* Tả cây cối: Bài văn miêu tả cây cối gồm có ba phần:
1. Mở bài: Tả hoặc giới thiệu bao quát về cây.
2. Thân bài: Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì phát triển
của cây.
3. Kết bài: Có thể nêu lợi ích của cây, ấn tượng, đặc điểm hoặc tình
cảm của người tả với cây.
* Tả con vật: Bài văn miêu tả con vật thường có ba phần:
1. Mở bài: Giới thiệu con vật sẽ tả.
2. Thân bài:
a) Tả hình dáng:
b) Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật .
3. Kết luận: Nêu cảm nghó đối với con vật.
3. Các kó năng viết đoạn mở bài
III. Luyện tập:
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 11
(Gồm từ một đến ba bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp học sinh
củng cố và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong bài học).
- Loại bài luyện tập thực hành chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện
các kó năng tập làm văn, do vậy nội dung thường gồm 3-4 bầi tập nhỏ
hoặc một đề bài tập làm văn kèm theo gợi ý thực hành luyện tập theo
hai hình thức: nói, viết.
Nội dung các bài tập làm văn ở lớp 4 thường gắn với chủ điểm đang
học ở các bài tập đọc. Qúa trình hướng dẫn học sinh thực hiện các kó năng
phân tích đề, quan sát, tìm ý, viết đoạn là những cơ sở giúp trẻ mở rộng
hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học. Mở rộng vốn sống, rèn
luyện tư duy , bồi dưỡng tâm hồn,c ảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách
cho học sinh.
4. Các cách mở bài:
Thông thường trong dạy học tập làm văn có hai cách mở bài,đó là:Mở
bài trực tiếp và mở bài gián tiếp.
+ Mở bài trực tiếp: Là đi thẳng vào đối tượng cần tả.
Ví dụ:
* Đề bài :Tả cái bàn học ở lớp hoặc ở nhà của em.
“Vào đầu năm học mới,bố em tặng cho em một chiếc bàn học mới tinh”
* Đề bài :Tả một cây hoa
“Phòng khách nhà tôi tết năm nay có bày một cây trạng nguyên.Mẹ tôi
mua cây về trước tết để trang trí phòng khách.Vừa thấy cây trạng nguyên
xinh xắn chỉ cao hơn cái thước kẻ học trò mà đã có bao nhiêu lá đỏ rực rỡ,
tôi thích quá, reo lên:”Ôi,cây hoa đẹp quá!”
Mở bài gián tiếp: Là mượn đối tượng nào khác tương tự như thế để đi
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 12
vào tả đối tượng hoặc dùng đối tượng tương phản để tả đối tượng được
miêu tả.
hoa nhưng loài hoa mà em yêu thích nhất đó là hoa hồng.”
* Nhận xét: Học sinh đã viết được đoạn mở bài nhưng đây là đoạn
mởbài theo kiểu trực tiếp, so với yêu cầu của đề bài này thì học sinh đã
làm sai yêu cầu.
Giáo viên hướng dẫn học sinh viết đoạn mở bài theo lối gián tiếp
như sau:
“Trong khu vườn nhà em có rất nhiều loài hoa. Hoa cúc vàng đâm
bông rực rỡ, hoa đồng tiền e ấp, hoa nhài toả hương thơm ngát. Nhưng cây
hoa mà em thích nhất là cây hoa hồng được mẹ em mua từ hồi đi tham quan
ở Đà Lạt”.
- Trong khi viết đoạn mở bài trong bài văn miêu tả học sinh chưa nêu
lên được sự vật, hiện tượng và đối tượng cần miêu tả .
Ví dụ
+Đề bài: Tả một con vật nuôi trong nhà mà em yêu thích
“Nhà em nuôi rất nhiều con vật: chó, mèo, gà, thỏ….Mỗi buổi em đi
học về, con chó liền chạy ra tận cổng đón em, con mèo nằm sưởi nắng ở
ngoài sân cũng chạy lại cọ vào chân em.”
*Nhận xét: Học sinh mới chỉ giới thiệu các con vật nuôi trong nhà
mà chưa nêu lên được đối tượng cần miêu tả là con vật nào?
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 14
Giáo viên hướng dẫn xác đònh đối tượng miêu tả ở đây là con chó hay
con mèo?
Có thể chữa lại như sau: “Gia đình em nuôi rất nhiều con vật chó,mèo,
gà, thỏ…nhưng em yêu quý nhất là con chó Mi - lu vì nó biết chạy ra cổng
quấn quýt vẫy đuôi mừng đón em mỗi khi em đi đâu về.”
- Trong khi viết đoạn mở bài, học sinh còn lúng túng trong việc diễn
đạt, diễn đạt chưa trôi chảy.
Ví dụ:
+ Tả cây hoa mà em biết
“Hằng ngày, trong vườn nhà hay đi trên đường,em thường hay gặp nhiều
Ví dụ : Tả một con vật nuôi trong nhà
Một học sinh viết : “Ôi, chú gà trống mới đẹp làm sao, chú đang dang
rộng đôi cánh và vươn cổ gáy ò…ó…o…”
* Nhận xét: Học sinh đã biết cách viết đoạn mở bài, song câu “Ôi, chú
gà trống mới đẹp làm sao” là câu cảm thán do vậy chúng ta phải dùng dấu
chấm cảm (!) mà ở đây em ấy đã đặt dấu chấm (.) và dấu phẩy (,) là sai.
- Học sinh chữa lại “Ôi! Chú gà trống mới đẹp làm sao! Chú đang dang
rộng đôi cánh và vươn cổ gáy ò… ó…o…”
6. Biện pháp hướng dẫn học sinh viết đoạn mở bài
Ở tiểu học, ngay từ lớp 2, lớp 3 học sinh đã bắt đầu viết đoạn văn nhưng
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 16
chỉ là viết đoạn theo cảm tính về một sự việc hay đối tượng nào đó. Chẳng
hạn viết từ 3 - 5 câu về một loài vật, một người thân, tả một cảnh đẹp nào
đó mà em yêu thích…. Ơ Ûlớp 4, các loại bài văn đều gắn với các chủ
điểm .Qúa trình thực hiện các kó năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết
đoạn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ
điểm đã học. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, quan sát đối tượng …góp
phần phát triển khả năng phân tích tổng hợp, phân loại của học sinh. Tư duy
hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so
sánh, nhân hoá…Khi miêu tả đồ vật, nhờ huy động vốn sống, huy động trí
tưởng tượng để xây dựng cốt truyện.
Học các tiết tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận với vẻ
đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi
phân tích đề tập làm văn, học snh lại được dòp hướng tới cái chân, cái thiện,
cái mó được đònh hướng trong các đề bài. Khi quan sát đồ vật trong văn
miêu tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi
giữa người và vật… Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêu mến, gắn bó với
thiên nhiên, với người và việc xung quanh trẻ nảy nở, tâm hồn, tình cảm
của trẻ thêm phong phú. Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình
thành nhân cách tốt đẹp của trẻ.
Ví dụ :
* Tả đồ vật : Phần mở bài các em phải nêu được :
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 18
Đồ vật em đònh tả là gì?
Em thấy nó khi nào?
Ví dụ: Đề bài: Tả chiếc bút em đang dùng :
“Để chuẩn bò cho năm học mới, mẹ em mua cho em đầy đủ đồ dùng,
dụng cụ học tập trong đó em thích nhất cây bút kim hiệu Thiên Long”
*Tả cây cối: Phần mở bài các em phải nêu được :
Giới thiệu cây hoa hoặc quả mà em đònh tả
Nêu thời điểm quan sát cây hoa hoặc quả ấy.
Ví dụ : Đề bài : Tả một cây ăn quả
“Ở góc sân nhà em có một cây xoài do ông em trồng. Cây xoài rất to,
năm nay được mùa, quả sai tróu cành. Cứ mỗi buổi trưa, em lại rủ các bạn
trong xóm đến chơi và hái quả”
* Tả con vật : Phần mở bài cần nêu được :
Giới thiệu con vật đònh tả, chú ý gắn với không gian và
thời gian thích hợp.
Ví dụ : Đề tả: Tả một con vật nuôi trong nhà.
“Chú tên là Đốm, cái tên mà em đặt cho từ khi nó còn bé tí tẹo. Ba em
“Giống chó này quý lắm con ạ! Ba phải dặn đi dặn lại nhiều lần, với lại ở
chỗ thân quen bác ấy mới ưu tiên cho mình con đốm này đấy, ráng mà nuôi
dạy cho kó!”
* Các kó năng học sinh cần đạt :
+ Kó năng tìm hiểu đề bài:
Đây là khâu vo âcùng quan trọng đối với tiết dạy có tìm hiểu đúng đề bài
các em mới khỏi bò lạc đề .Muốn vậy các em cần đọc kó đề bài, xác đònh
trọng tâm của đề bài.
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 19
+ Kó năng viết đoạn mở bài hoàn chỉnh :
của các em. Người giáo viên cần phải nắm vững chuyên môn và phương
pháp giảng dạy thật khoa học, dễ hiểu, linh hoạt, phù hợp với mức độ tiếp
thu nhận thức của các em.Giáo viên phải có sự nỗ lực cố gắng, sưu tầm các
đoạn văn, bài văn hay, sử dụng tốt các biện pháp tu từ để hướng dẫn học
sinh.
Để học sinh làm tốt phần mở bài, ngoài những yêu cầu trên giáo viên
nên cung cấp vốn từ cho học sinh.
Với học sinh trung bình yếu thì nên hướng dẫn các em dùng cách mở bài
trực tiếp.
Với học sinh khá trở lên nên yêu cầu các em mở bài ở mức độ cao hơn
đó là mở bài gián tiếp.
Khi chấm bài giáo viên phải chữa ngay trong bài làm của học sinh, phải
thật cẩn thận khi chữa bài. Giáo viên phải nắm vững được những điểm yếu
của học sinh để trong giờ ôn tập có thể cho làm những bài tập và hướng dẫn
thêm cho học sinh. Giáo viên phải coi tiết tập làm văn miệng là một tiết
dạy quan trọng chứ không phải là dạy lấy có vì đây là tiết học giúp các em
có thể nói gãy gọn, mạch lạc va ødạn dó.
7.3. Đối với học sinh.
Bản thân các em phải tự nỗ lực trong học tập, cần đòi hỏi phải nắm
vững ngữ pháp tiếng Việt, phải đọc và tiếp xúc nhiều với văn thơ thiếu nhi
Bài tập nghiên cứu nghiệp vụ Sư phạm Trang 21
để làm giàu vốn ngôn ngữ, khi làm văn phải biết tập trung tư tưởng, tránh
sai sót, thiếu từ, phải chòu khó quan sát, có óc tưởng tượng phong phú và
đặc biệt phải có kó năng đọc hiểu và óc nhận xét chính xác.
PHẦN KẾT LUẬN
Trên đây là toàn bộ nội dung phần tìm hiểu “Phát triển kó năng viết
đoạn mở bài trong bài tập làm văn của học sinh lớp 4” với những sai sót và
biện pháp khắc phục.
Bản thân tôi là giáo viên dạy tiểu học, chương trình tập làm văn lớp 4