MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. 4
5. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4
5.1 Đối tượng nghiên cứu 4
5.2 Khách thể nghiên cứu 4
6. Phạm vi nghiên cứu 4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 5
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.3 Phương pháp toán học 5
7.4 Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm. 5
8. Giả thuyết khoa học 5
9. Cấu trúc của đề tài 5
NỘI DUNG 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Cơ sở tâm lí học 7
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 9
1.1.2.1 Kể chuyện và văn kể chuyện 9
1.1.2.2 Đặc điểm của văn kể chuyện 10
1.1.2.3 Văn kể chuyện trong trường Tiểu học 11
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Thực trạng dạy học văn kể chuyện ở trường Tiểu học 17
1.2.2 Thực trạng học văn kể chuyện của học sinh 20
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 23
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH VĂN
3.6 Kết quả thực nghiệm 46
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 50
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho HS
bốn kĩ năng đó là: “nghe - nói - đọc - viết” với các phân môn: Tập đọc, Kể
chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn,…Trong đó, Tập làm
văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân môn khác. Các em có thể
vận dụng cách xây dựng một văn bản trong giờ Tập đọc; cách sử dụng, lựa chọn
từ ngữ trong tiết học Luyện từ và câu hay cách sáng tạo câu chuyện trong giờ Kể
chuyện. Qua tiết Tập làm văn, HS có khả năng xây dựng một văn bản: bài nói,
bài viết,…Trong suốt quá trình vận dụng này, các kiến thức, kĩ năng luyện nói
và viết văn sẽ đƣợc hoàn thiện và nâng cao dần.
Trong phân môn Tập làm văn, văn kể chuyện cùng với văn miêu tả là một
trong những phần trọng tâm của chƣơng trình Tập làm văn, đặc biệt là ở lớp 4, 5.
Trong cuộc sống, muốn mọi ngƣời cùng biết, cùng nhận ra những gì mình
nhìn thấy đòi hỏi chúng ta phải biết cách tái hiện, kể và miêu tả lại. Trong văn
học, các câu chuyện, các cuốn tiểu thuyết, các truyện ngắn…đƣợc xây xây dựng
trên nhiều đoạn văn tự sự (kể). Vì thế, văn kể chuyện là nền tảng của sáng tác
văn học và là loại văn thƣờng dùng trong đời sống hàng ngày. Chẳng những sau
này đi vào cuộc sống mà ngay khi còn học ở nhà trƣờng, HS đã luôn luôn vận
dụng văn kể chuyện trong mọi mặt sinh hoạt. Văn kể chuyện dạy cho các em
nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc và viết, thế nhƣng các em lớp 4, 5 rất sợ học phân
môn này đặc biệt là văn kể chuyện, các em không biết viết gì, chƣa biết cách
“hóa thân – nhập vai” vào nhân vật, các em chƣa đạt yêu cầu của đề bài đề ra,
thƣờng lặp lại câu đã viết, dùng từ sai hoặc viết chƣa hay, ngay cả khi GV dạy
phân môn Tập làm văn cũng không tự tin khi giảng dạy phân môn này.
Viết văn là một quá trình rèn luyện không chỉ ở ngƣời lớn mà đặc biệt đối
với HS viết văn càng khó khăn hơn. Vậy làm thế nào để giúp các em đạt mục tiêu
đề ra, muốn dạy các tiết Tập làm văn ở tiểu học, không thể không nghiên cứu sâu
về văn kể chuyện, phƣơng pháp dạy và học văn kể chuyện, là một sinh viên chuẩn
bị tiếp cận với công tác giảng dạy tôi thấy nghiên cứu về vấn đề trên là hết sức
cần thiết. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả thực hành về văn
kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho HS lớp 4, 5” để nghiên cứu.
3
2. Lịch sử vấn đề
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sƣu tầm, tổng hợp và tham khảo các tài
liệu sau:
Trong cuốn “ Dạy Tập làm văn ở trường tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí
đã trình bày phƣơng pháp dạy Tập làm văn ở trƣờng Tiểu học theo chƣơng trình
hiện hành. Các phƣơng pháp dạy đƣợc xem xét trên hai bình diện: Theo kĩ năng
cần rèn luyện ở các tiết dạy trong quy trình dạy một đề bài và theo các kiểu loại
bài Tập làm văn. Quan điểm cơ bản là quan điểm thực hành gắn với từng kiểu
loại bài. Đây là cuốn sách tham khảo mở rộng cho GV Tiểu học, giáo sinh các
trƣờng sƣ phạm, là tài liệu bổ trợ dạy Tập làm văn ở trƣờng tiểu học.
Trong cuốn “ Dạy học và phương pháp dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học”
theo chƣơng trình mới ( NXB Giáo dục – 2003) đã đƣa ra một số vấn đề chƣơng
trình mới, một số điểm cần lƣu ý về phƣơng pháp dạy học môn Tiếng Việt theo
chƣơng trình mới, đó là cơ sở cho việc đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy học
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
Trong cuốn “Luyện tập văn kể chuyện ở Tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành văn kể chuyện
trong phân môn Tập làm văn lớp 4, 5.
- Tiến hành thiết kế giáo án và thực nghiệm dạy học kiểu bài kể chuyện –
phân môn Tập làm văn lớp 4, 5 theo những biện pháp đã đề ra.
5. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện cho
học sinh lớp 4, 5.
5.2 Khách thể nghiên cứu
Tìm hiểu và thể nghiệm tại trƣờng Tiểu học B Thanh Nghị - Thanh Liêm -
Hà Nam, đồng thời nghiên cứu nội dung văn kể chuyện trong phân môn Tập làm
văn lớp 4, 5.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành văn kể chuyện, sách
Tiếng Việt lớp 4, 5; các bài văn kể chuyện của học sinh tại trƣờng Tiểu học B
Thanh Nghị - Thanh Liêm - Hà Nam.
5
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên một số phƣơng pháp sau :
7.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
- Phƣơng pháp đọc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề tài liệu
làm cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp khảo sát bằng phiếu điều tra nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn
cho đề tài.
- Phƣơng pháp quan sát, thực hành luyện tập, so sánh đối chiếu, rút ra kết
luận và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành văn kể chuyện cho
học sinh lớp 4,5.
7.3 Phƣơng pháp toán học
7
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở tâm lí học
Nghe kể chuyện và kể chuyện cho ngƣời khác nghe là niềm vui thích của
trẻ thơ. Vì thế ngay từ mẫu giáo, trẻ em đã đƣợc nghe kể chuyện và tập kể
chuyện cho bạn bè, cha mẹ, anh chị … nghe. Ở bậc Tiểu học, kể chuyện là một
trong những phân môn của môn Tiếng Việt nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng
nói ít nhiều mang tính biểu cảm. Từ lớp 1 đến lớp 5, lớp nào cũng có tiết kể
chuyện. Trong Tập làm văn lại có bài văn kể chuyện. Luyện tập văn kể chuyện
trở thành một yêu cầu đối với học sinh Tiểu học.
Trong nhà trƣờng Tiểu học nhu cầu kể chuyện là nhu cầu tất yếu của lứa
tuổi học sinh nhỏ. Từ tuổi lên 3 bập bẹ tập nói, các em nhỏ đã thích nghe kể
chuyện. Đến tuổi mẫu giáo nhu cầu cần nghe kể chuyện lại tăng thêm nhiều.
Bƣớc vào tuổi học sinh Tiểu học ( từ 6 đến 11 tuổi ) , nhu cầu nghe kể chuyện
năng tƣ duy còn kém, các kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp chƣa cao. Chính
vì vậy mà học sinh vẫn ngại viết văn, e dè khi kể chuyện theo cảm nhận của
riêng mình, thƣờng thì các em kể theo nguyên tác là chủ yếu. Các em chƣa thực
sự “hóa thân, nhập vai” vào nhân vật khác nhau để kể lại chuyện. Nếu đã “nhập
vai” rồi thì các em lại không biết cách liên tƣởng, tƣởng tƣợng đúng vai nhân vật
của mình cần hành động , xử thế nhƣ thế nào ? Vì thế, các em thƣờng nhầm lẫn
vai trong khi kể. Cho nên, nhu cầu về phƣơng pháp luận dạy văn kể chuyện là
một nhu cầu cấp bách để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hành văn kể chuyện
trong phân môn Tập làm văn cho HS Tiểu học.
Từ những cơ sở tâm sinh lí trên khiến cho việc lựa chọn nội dung, hình thức
các bài Tập làm văn kể chuyện trong chƣơng trình Tiếng Việt cũng chịu sự chi
phối căn bản. Ngƣời Giáo viên phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của
HS lứa tuổi này để nâng cao chất lƣợng hiệu quả dạy học Tiếng Việt nói chung
và Tập làm văn nói riêng. Đồng thời cần có những biện pháp dạy học tích cực,
hình thức dạy học phong phú phát huy trí lực của học sinh, nhằm đạt kết quả dạy
học cao nhất. 9
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.2.1 Kể chuyện và văn kể chuyện
Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân (chủ biên) giải thích:
“Kể là nói lại một cách có đầu có cuối cho ngƣời khác nghe, kể những điều
mắt thấy tai nghe”
“Chuyện là sự việc có diễn biến nhằm nói lên một điều gì đó”
“Kể chuyện là một phƣơng thức tự sự, một phƣơng thức biểu đạt để kể các
chuyện”
Sách Ngữ Văn lớp 7 đã định nghĩa: “Kể chuyện là giới thiệu, thuyết minh,
miêu tả nhân vật và diễn biến của chúng sao cho ngƣời nghe hình dung đƣợc
diễn biến đó và ý nghĩa của nó”.
ngƣời thật, việc thật và kể chuyện tƣởng tƣợng, hƣ cấu. Từ hai dạng chính này
ngƣời ta có thể phân thành các dạng nhỏ hơn nhƣ kể lại chuyện đã đƣợc nghe,
đƣợc đọc, đƣợc học; kể lại chuyện đƣợc chứng kiến, tham gia; chuyện danh
nhân, truyện cổ tích; kể tiếp theo những chuyện đã có…Việc phân chia cũng chỉ
mang tính chất ƣớc lệ. Tuy nhiên dù ở dạng nào đi nữa thì văn kể chuyện cũng
có các đặc điểm sau:
- Văn kể chuyện đòi hỏi phải có chuyện (cốt truyện). Cốt truyện bao gồm
các yếu tố sau: Sự việc (nội dung, diễn biến, nhân vật, hoạt động của nhân vật,
không gian, thời gian…) và ý nghĩa. Diễn biến nội dung trong truyện phải có sự
hợp lí đến từng chi tiết, từng nhân vật. Ta phải chịu khó quan sát, tìm hiểu cuộc
sống, có sự lao động nghiêm túc để tạo ra một cốt truyện hợp lôgic và hấp dẫn.
- Mỗi câu chuyện đƣợc đánh giá là hay khi nó mang một thông điệp ý nghĩa
cuộc sống đến cho ngƣời nghe, ngƣời đọc. Sự việc chỉ là phƣơng tiện, ý nghĩa mới
là mục đích mà câu chuyện muốn hƣớng đến. Kể chuyện chính là một cách ngƣời
kể chuyển đến ngƣời nghe, ngƣời đọc những thông điệp của cuộc sống.
Ví dụ:
+ Truyện “Người ăn xin” (Tiếng Việt 4, Tập 1, trang 30) mang một thông
điệp về lòng trắc ẩn – con ngƣời phải biết yêu thƣơng nhau, phải biết thông cảm
giúp đỡ ngƣời nghèo. Câu chuyện ca ngợi tình cảm chân thành và sự thông cảm
mới là món quà đáng quý. Khi bạn cho đi chính là lúc bạn đang nhận đƣợc.
11
+ Truyện “Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca” (TV 4,Tập 1,Trang 56).Thông qua
nỗi dằn vặt của cậu bé mà ngƣời đọc nhận thấy tình cảm của cậu với ông mình.
Ngoài ra, ngƣời đọc còn thấy ở An-đrây-ca một sự trung thực và nghiêm khắc
với lỗi lầm của bản thân. Rõ ràng sau khi đọc xong câu chuyện, ngƣời đọc sẽ
suy nghĩ và rút ra kinh nghiệm cho bản thân.
- Mỗi câu chuyện chứa đựng trong nó nhiều tình huống chi tiết, nhân
vật….cung cấp cho ngƣời đọc vô vàn thông tin về cuộc sống.
Ví dụ:
Hổ đã nói tới:
- Chuyện ta vừa nghĩ ra(sáng tác,hƣ cấu)
- Chuyện kể lại (đọc sách, nghe kể rồi kể lại) nhƣ các chuyện: “Quả dưa
đỏ” của Nguyễn Trọng Thuật, “Đảo hoang” của Tô Hoài, “An Dương Vương
xây thành ốc” của Nguyễn Huy Tƣởng….
- Chuyện viết tiếp theo những chuyện đã có.Ví dụ Phạm Hổ viết “Lửa vàng
lửa trắng” kể tiếp theo chuyện “Trí khôn của người ở đâu?”, “Lửa vàng lửa
trắng” kể lại chuyện con của ngƣời nông dân xƣa đã trị tội con của con hổ già
ngày trƣớc bằng một thứ lửa mới: vôi sống bỏ vào hố nƣớc.
- Chuyện viết ngƣợc, chuyện đã quen.
- Chuyện anh hùng chiến sĩ thi đua, danh nhân.
- Chuyện ngƣời tốt, việc tốt.
Đƣa vào nhà trƣờng văn kể chuyện cũng chia thành nhiều kiểu bài. Ở Tiểu
học có các kiểu:
a) Kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc.
- Khái niệm
Kể lại câu chuyện đã nghe đã đọc là cách làm thƣờng thấy trong đời sống.
Ông bà, bố mẹ kể lại cho con cháu nghe truyện cổ tích đã đọc đã biết. Một học
sinh kể lại cho bạn nghe truyện Dế mèn phiêu lưu kí, Đất rừng phương nam, Đô-
rê-mon….sau khi đọc truyện. Ghi chép những điều đã kể lại, chúng ta có bài văn
kể lại truyện đã nghe đọc.
- Điều kiện cần có để kể lại truyện đã nghe, đã đọc.
Kể lại chuyện đã nghe đã đọc cần có các điều kiện: Có truyện; ngƣời kể đã
đọc hoặc đã nghe kể chuyện đó; kể lại chuyện cho ngƣời khác nghe (nhƣng
không có văn bản truyện trƣớc mắt, hoàn toàn dựa vào trí nhớ).
13
- Yêu cầu của kiêu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc.
Đây là kiểu bài kể truyện nhƣng ở mức độ thấp vì cốt truyện, nhân vật, tình
tiết, chi tiết và cả ngôn từ đã có trong văn bản truyện. Ngƣời kể chỉ cần nhớ lại
mọi điều nhƣng không bao giờ xuất hiện trong truyện.
+ Kể theo lời một nhân vật trong truyện. Truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí” kể
theo cách này. Trong truyện Dế Mèn xƣng “tôi” và kể lại cuộc sống của mình từ
khi con nhỏ đến khi lớn, đi phiêu lƣu trong thiên hạ để học hỏi, kết bạn…
Tóm lại, mỗi cách kể có vẻ đặc sắc riêng.
b) Kiểu bài kể chuyện người thật, việc thật
- Khái niệm
Kể chuyện ngƣời thật, việc thật, ngƣời kể phải tự mình tìm ra truyện, tìm ra
chi tiết, nhân vật… để tạo thành câu chuyện. Yêu cầu này khó hơn nhƣng là một
bƣớc phát triển tất yếu khi học văn kể chuyện.
- Kiểu bài kể chuyện người thật, việc thật trong chương trình Tiếng Việt
Tiểu học
Theo Chƣơng trình Tiếng Việt Tiểu học, kiểu bài này đƣợc học ở lớp 3, 4, 5
và có sự mở rộng dần phạm vi đề tài.
+ Ở lớp 3, HS học cách kể lại những việc đơn giản nhƣ rửa ấm chén, quét nhà.
+ Lên lớp 4 HS học cách kể những chuyện xảy ra ở xung quanh nhƣ kể lại
một việc tốt trong gia đình, ở trƣờng, ở lớp…
+ Lên lớp 5, phạm vi câu chuyện mở rộng hơn, kể những chuyện xảy ra
ngoài xã hội, ở nơi công cộng.
- Yêu cầu của bài kể chuyện người thật, việc thật
Hằng ngày, biết bao nhiêu chuyện xảy ra ở trong nhà, trong lớp học, khi đi
trên đƣờng, lúc chạy chơi trên sân trƣờng… Nhiều câu chuyện có ý nghĩa: Bênh
vực một bạn yếu hoặc tàn tật bị những đứa trẻ lớn hơn bắt nạt; phê phán thói
ghen tị vì không đạt điểm cao nhƣ bạn; tỏ sự thông cảm với một bạn bị tật
nguyền; giúp đỡ một em nhỏ bị lạc… Chỉ cần kể lại những sự việc đó ta đã có
một câu chuyện hay và hấp dẫn.
Tóm lại, bài văn kể về ngƣời thật, việc thật cũng phải có cốt truyện ở mức
độ đơn giản và bao hàm một ý nghĩa nào đó.
- Chiếc khăn quàng đỏ của một học sinh giỏi kể về người chủ của mình.
16
- Một cây lúa ở cánh đồng quê em kể lại cuộc đời mình.
* Kể chuyện dự theo một chủ đề hoặc đề tài hoặc nhân vật cho trƣớc
Một số đề bài:
- Với bốn nhân vật: Bố, mẹ, em học sinh và cô giáo. Em hãy xây dựng một
câu chuyện có nội dung học tập tốt, lao động tốt.
(Đề cho nhân vật và ý nghĩa câu chuyện, ngƣời làm bài sáng tạo ra câu
chuyện, sáng tạo ra chi tiết…)
- Một hôm nào đấy, em thôi không mặc chiếc áo cũ của mình tới trường
nữa. Em hãy kể một vài kỉ niệm của em về tâm áo ấy.
(Đề cho đề tài, ngƣời làm bài tự sáng tạo ra câu chuyện, ý nghĩa câu
chuyện, chi tiết và nhân vật…)
* Kể chuyện dựa theo một số cốt truyện để mở
Một số đề bài:
- Một bạn trai xin được một chú chim non mang về nuôi. Bạn ấy săn sóc
chú chim chu đáo, nhưng chú chim nhỏ không chịu ăn uống, hết nằm ủ rũ lại
cuống cuồng nhảy trong chiếc lồng xinh xắn…
Em hãy hình dung cảnh đó để kể lại tỉ mỉ và viết tiếp phần kết thúc câu
chuyện giữa người bạn trai và chú chim nhỏ.
( Đề cho cốt truyện nhƣng chƣa có kết thúc, ngƣời làm bài sáng tạo ra chi
tiết, sáng tạo ra phần kết thúc câu chuyện)
- Ở bến xe đông khách, người ta thấy một anh thương binh chống đôi nạng,
trước khi lên xe anh vẫn không ngớt lời khen và cảm ơn một em bé.
Hãy tưởng tượng xem cảnh gì đã xảy ra trước đó và kể lại
(Đề cho nhân vật và phần kết thúc câu chuyện, ngƣời làm bài phải sáng tạo
ra nội dung câu chuyện, nhân vật, các chi tiết…)
* Kể tiếp một câu chuyện có trƣớc
Một số đề bài;
năng lực yêu nghề đã áp dụng phƣơng pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ
động, sáng tạo của HS linh động và có hiệu quả.
- Từ lớp 2, 3 HS đã đƣợc làm quen với văn kể chuyện, đã biết cách luyện
tập dƣới sự hƣớng dẫn của GV để chiếm lĩnh tri thức.
Đó là những thuận lợi cơ bản.
18
Để tiến hành có hiệu quả công tác giảng dạy và nâng cao hiệu quả dạy văn
kể chuyện trong phân môn Tập làm văn đòi hỏi ngƣời GV có năng lực hiểu biết
sâu rộng, nắm vững kiến thức và tài liệu. Đa số GV của trƣờng là những nhà sƣ
phạm có năng lực, nhiệt tình song gặp một số khó khăn và hạn chế trong việc
dạy văn kể chuyện nói riêng và Tập làm văn nói chung nhƣ sau:
- Tập làm văn là một phân môn khó, đòi hỏi HS phải tổng hợp đƣợc kiến
thức, phải thể hiện sự rung cảm cá nhân, phải biết thể hiện tiếng mẹ đẻ một cách
trong sáng. Nhƣng trong quá trình giảng dạy hai thái cực thƣờng xảy ra:
+ GV hƣớng dẫn chung chung để HS tự mày mò.
+ Hoặc dùng “văn mẫu” HS cứ việc sao chép.
Cả hai cách trên đều làm cho HS không biết làm văn, ngại học văn mặc dù
vẫn có tình yêu đối với văn học ( HS rất thích đọc truyện ).
- GV chƣa sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức khai thác kiến thức
môn học giúp HS lĩnh hội đƣợc cách viết văn theo các kiểu bài kể chuyện.
- GV chƣa giúp HS thấy đƣợc mối liên kết giữa các kiểu bài, sự hỗ trợ lẫn
nhau của các dạng bài đƣợc học để viết một bài văn hay.
- Đề bài luyện tập của GV ra cho HS rèn luyện cũng thiếu sự sáng tạo, còn
lệ thuộc vào SGK, chƣa biết tạo cơ hội cho HS phát huy trí tƣởng tƣợng, óc sáng
tạo của mình.
- Đối tƣợng lao động của giáo viên tiểu học là trẻ em trong độ tuổi từ 6 - 11
tuổi. Ở giai đoạn này, tƣ duy trực quan cụ thể chiếm ƣu thế. Vì vậy trong dạy
học, việc sử dụng đồ dùng trực quan có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Đồ dùng
trực quan không chỉ là hình ảnh minh họa mà nó còn cung cấp kiến thức, tác
bộc lộ cảm xúc, bồi dƣỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ… mà chỉ đang hƣớng tới làm
thế nào để HS đạt đƣợc điểm cao một cách dễ dàng nhất. Một số Giáo viên chú
trọng lí thuyết, coi nhẹ rèn luyện kĩ năng thực hành. Vấn đề này cho thấy giáo
viên chƣa đánh giá đúng mức vị trí của môn Tiếng Việt trong chƣơng trình Tiểu
học và đặc biệt là phân môn Tập làm văn, phải hiểu thấy rõ rằng: Phân môn Tập
làm văn là phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp cao, là kết quả của các
môn học, đồng thời cũng là môn tạo tiền đề để HS học tốt các môn học khác.
20
Nhƣ vậy, qua việc khảo sát thực trạng dạy học văn kể chuyện ở trƣờng Tiểu
học B Thanh Nghị, tôi nhận thấy giáo viên chƣa thực sự quan tâm đến văn kể
chuyện nên kết quả dạy học còn chƣa đƣợc nhƣ mong muốn.
1.2.2 Thực trạng học văn kể chuyện của học sinh
Học sinh của trƣờng Tiểu học B Thanh Nghị nhìn chung chăm chỉ học tập
nhƣng do xuất thân từ tầng lớp lao động nghèo, ít có sự hƣớng dẫn bảo ban của
cha mẹ nên chất lƣợng học tập của các em nói chung không cao nhƣ các trƣờng
lân cận.
Qua khảo sát, kiểm tra và trao đổi với GV về quá trình học tập của các em
đặc biệt là thực hành văn kể chuyện, chúng tôi nhận thấy HS thƣờng gặp các
khó khăn và mắc các lỗi phổ biến sau:
- Bài văn của HS thƣờng không đầy đủ cốt truyện hoặc nhớ viết không theo
trình tự các chi tiết của truyện.
- Khi làm bài các em chƣa tóm tắt ý chính của từng đoạn nên khi làm bài
các em kể lộn xộn, chắp vá không xây dựng đƣợc từng đoạn văn.
- Bài văn của HS thƣờng sơ sài, đơn giản. Vì nhớ không kĩ truyện, lại
không biết “nhập vai” để làm bộc lộ tâm lí, tính cách nhân vật; hoặc rƣờm lời,
kém hấp dẫn hơn văn bản gốc. Vì tuy nhớ truyện nhƣng không “nhập vai” nên
phát triển quá nhiều chi tiết không phù hợp với vai kể chuyện.
- Các đoạn chuyển ý, đặc biệt là chuyển từ lời “mào đầu” đến “vào chuyện”
thƣờng gƣợng gạo không ăn nhập đoạn trƣớc với đoạn sau, ý trên với ý dƣới.
sáng, thật thà của trẻ thơ.
- Bài văn kể của các em chƣa có sự sáng tạo, tƣởng tƣợng liên tƣởng còn
lan man, thiếu hợp lí. Chƣa nêu đƣợc ý nghĩa, bài học của câu chuyện.
- Các bài văn kể chuyện sáng tạo, tƣởng tƣợng cốt truyện thƣờng đơn giản,
ít chi tiết tình huống.
- Bài văn của HS hầu hết mắc các lỗi về chính tả, lỗi câu, lỗi diễn đạt, lỗi
chủ đề. Cụ thể:
+ Lỗi chính tả: HS vẫn thƣờng sai phụ âm đầu l/n, x/s, d/r/gi.
+ Lỗi dấu câu: Chƣa biết sử dụng dấu câu nâng cao hiệu quả diễn đạt. HS
yếu kém thƣờng ít sử dụng dấu câu hoặc đặt dấu câu sai. 22
Ví dụ: “Tôi ôn kĩ lại bài học. Xem đi xem lại bài tập thầy giáo ra làm ví dụ”
+ Lỗi diễn đạt: HS thƣờng mắc các lỗi nhƣ dùng từ không phù hợp; sử dụng
câu thừa thành phần; câu sai nghĩa, không rõ nghĩa; các câu trong bài mâu thuẫn.
Qua đó có thể thấy: Khi làm bài, nhiều HS không hề nắm đƣợc đặc điểm
đối tƣợng mà mình đang kể và đã viết không chân thực. Do vậy, bài văn khó có
thể truyền cảm cho ngƣời đọc. Việc học tập trên lớp vì thiếu tập trung và chƣa
có phƣơng pháp học nên cũng có những hạn chế nhất định. Đại đa số HS còn bị
hạn chế nhiều kể từ việc nắm vững và vận dụng các kiểu bài kể chuyện tới bố
cục, hành văn, từ đặt câu đến lỗi chính tả. HS không có sự vận dụng từ các bài
tập rèn kĩ năng luyện từ và câu vào bài viết. Có HS đọc đề bài lên không biết
mình cần viết những gì và viết nhƣ thế nào, viết cái gì trƣớc, viết cái gì sau. Một
số HS còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, vay mƣợn ý
ngƣời khác.
Vì thế, trong các kì thi, hội thi HS giỏi kết quả học tập của các em còn hạn
chế, chƣa đạt đƣợc nhƣ mong muốn.
Qua khảo sát, tôi nhận thấy: Văn kể chuyện là loại văn có vị trí quan trọng
trong chƣơng trình Tập làm văn. Song giáo viên chƣa mấy chú trọng đến phƣơng