Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
lời mở đầu
Một đất nước muốn có một nền kinh tế phát triển thì phải có một hệ thống
ngân hàng vững mạnh. Ngân hàng thực hiện chức năng tích tụ tập trung và
phân phối vốn, ngoài ra nó còn thực hiện rất nhiều các dịch vụ tài chính thúc
đẩy quá trình luân chuyển vốn và làm tăng hiệu quả của nền kinh tế. Bất cứ ai
trong xã hội đều cần đến ngân hàng, doanh nghiệp nào cũng vay vốn Ýt nhiều
từ ngân hàng để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, đối với cá nhân, ngân hàng
là một kênh để đầu tư và vay tiêu dùng, các tổ chức cũng cần đến sự tài trợ
của ngân hàng Trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay của
Việt Nam, do thị trường chứng khoán chưa phát triển nên ngân hàng là kênh
huy động vốn chính của doanh nghiệp không chỉ vốn ngắn hạn tài trợ cho tài
sản lưu động mà còn cả vốn trung và dài hạn đầu tư vốn lưu động thường
xuyên và tài sản cố định. Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế đất nước. Sự phá sản của một ngân hàng sẽ có hiệu ứng lây lan và
phản ứng dây chuyền làm suy yếu hệ thống ngân hàng và làm suy thoái nền
kinh tế ảnh hưởng tất cả mọi lĩnh vực kể cả đời sống xã hội. Ngân hàng hoạt
động trong lĩnh vực tài chính gặp nhiều rủi ro nh rủi ro do các dịch vụ nó
cung cấp và các rủi ro vĩ mô, các rủi ro khác… và nh trên đã thấy tác động
của ngân hàng đối với nền kinh tế. Vì vậy mà ngân hàng được kiểm soát đặc
biệt, an toàn phải được ưu tiên trên hết, và ngân hàng phải quản lý các rủi ro
một cách chặt chẽ.
Ở Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một ngân hàng thương
mại được đánh giá là “ngân hàng tốt nhất” do một tạp chí tài chính thế giới có
uy tín bình chọn. NHNT VN thực hiện phong phú, đa dạng loại hình dịch vụ
và chất lượng các dịch vụ đều được đánh giá cao. Trong đó có dịch vụ bảo
lãnh ngân hàng, một dịch vụ mới, dịch vụ thuộc về tài sản ngoại bảng được
NHNT VN cung cấp chiếm thị phần chủ yếu ở nước ta. Hoạt động bảo lãnh
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
được thực hiện dùa trên năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng chính. Bảo
lãnh là một bộ phận quan trọng của hoạt động tín dụng, và thông thường mỗi
mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.” Trong đó “Hoạt động ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vô thanh toán”.
Ngân hàng là một kênh dẫn vốn hiệu quả thúc đẩy sự phát triển kinh tế, và
ngược lại sự phát triển của nền kinh tế tác động đến sự phát triển của hệ thống
ngân hàng. Các nước phát triển có loại hình ngân hàng rất phong phú và đa
dạng, trong đó có thể nói ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất về
quy mô tài sản, thị phần và số lượng ngân hàng. Ngân hàng thương mại có thể
được tiếp cận trên phương diện nhẽng loại hình dịch vụ cung cấp. Ngân hàng
thương mại là tổ chức tài chính trung gian cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất-Đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
Ngân hàng đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, xuất phát từ ngân hàng thợ vàng và nay đã là những ngân hàng
thương mại hiện đại, từ ngân hàng tư nhân với quá trình tích tụ tập trung vốn
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
trong ngân hàng dẫn đến ngân hàng cổ phần. Ngày nay để phục vụ cho các
nhu cầu phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế,
các nhu cầu về tiết kiệm và các dịch vụ khác của cá nhân, ngân hàng thương
mại phải thực hiện rất phong phú và đa dạng các loại hình dịch vụ. Các dịch
vụ của của ngân hàng giúp cho không chỉ hoạt động tích tụ, tập trung và phân
phối vốn mà còn giúp sử dụng vốn của các doanh nghiệp, cá nhân hiệu quả
hơn. Ngân hàng thương mại với những tiện Ých và những dịch vụ gia tăng
không ngừng như một phần không thể thiếu của nền kinh tế mỗi nước.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Xuất phát từ ngân hàng của những người thợ vàng với chức năng cất trữ
hộ, gửi tiền, đổi tiền có thể gọi là kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng thương mại
thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của chính phủ, bảo lãnh,
cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung
cấp dịch vụ mối giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm,
cung cấp các dịch vụ đại lý.
1.1.3. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại thực hiện nhiều nghiệp vụ và nó có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại có vai trò to lớn trong nền kinh tế nó là một kênh
tích tụ tập trung và phân phối vốn. Nó thu hót tiền nhàn rỗi và đáp ứng nhu
cầu tiết kiệm của người dân và có thể tài trợ cấp vốn để giúp doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh. Ngân hàng tạo ra một kênh đầu tư tương đối an toàn cho
những người có tiền nhàn rỗi và tạo ra một kênh huy động vốn cho những
người cần vốn.
Ngân hàng góp phần điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh
tế. Nó là một công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của quốc gia. Ngân hàng
còn tạo ra nhiều phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt rất tiện lợi góp
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
phần giảm sự lưu thông tiền giấy trên thị trường chống được nạn tiền giả và
tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch mua bán.
Trong nền kinh tế hội nhập khu vực hội nhập quốc tế thì ngân hàng phải đi
tiên phong mở rộng mối quan hệ quốc tế. Các hoạt động giữa các quốc gia
khác nhau nh hoạt động thương mại, hoạt động ngoại giao, hoạt động chính
trị, hoạt động khác thì đều đòi hỏi có sự thanh toán cho nhau, mà thường là
thanh toán qua ngân hàng.
Ngân hàng đóng góp rất nhiều dịch vụ phát triển kinh tế và các dịch vụ của
nó thúc đẩy nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Với sự có mặt của ngân hàng
thương mại thì ngân hàng đã góp phần thúc đẩy nhanh chóng giao dịch kinh
tế, tiết kiệm chi phí về thời gian và tiền bạc cho các hoạt động kinh tế.
1.2. Rủi ro và quản lý rủi ro của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về rủi ro
Tính bất ngờ xảy ra của rủi ro. Rủi ro là khách quan luôn tồn tại nhưng
rủi ro xảy ra gây tổn thất thì lại mang tính bất ngờ không xác định được. Rủi
ro có thể xảy ra hoặc không, người ta có thể liệt kê các loại rủi ro đối với một
hoạt động, nhưng lại không biết được nó có xảy ra hay không.
Mối quan hệ giữa rủi ro và sinh lợi là mối quan hệ tỷ lệ thuận, có nghĩa
là rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn. Tuy nhiên lợi nhuận sẽ cao
khi rủi ro không xảy ra, còn khi rủi ro xảy ra thì gây tổn thất cho ngân hàng vì
vậy mà lợi nhuận thu được sẽ thấp thậm chí là không có lợi nhuận và bị lỗ.
Ngân hàng có thể theo đuổi chiến lược tài trợ rủi ro cao hoặc thấp trong ngắn
hạn, song đều phải xác lập mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lợi nhằm đảm bảo
gia tăng thu nhập cho chủ sở hữu trong dài hạn.
Ngoài những đặc điểm chủ yếu ở trên, rủi ro còn một số đặc điểm khác nh
tính phức tạp, một rủi ro có thể gây các mức độ tổn thất khác nhau; sù phong
phú đa dạng của rủi ro đối với một hoạt động
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
1.2.3. Các loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian thực hiện nhiều nhất các
dịch vụ tài chính. Mỗi một dịch vụ lại có rất nhiều loại rủi ro, có thể gây tổn
thất lớn hơn cho ngân hàng, ngoài ra còn có rất nhiều loại rủi ro khác tác động
đến hoạt động của ngân hàng thương mại. Một số loại rủi ro tiêu biểu trong
hoạt động của ngân hàng thương mại.
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải
gánh chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc trả không
đầy đủ vốn và lãi.
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những tổn thất khi lãi suất thay đổi
ngoài dự tính.
Rủi ro thanh toán là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu
thanh toán thực tế vượt quá khả năng thanh toán ngoài dự toán ngoài dự kiến
làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc làm cho ngân
hàng mất khả năng thanh toán.
Thu nhập ngân hàng giảm sẽ làm giảm tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng và giá
cổ phiếu của ngân hàng. Khi giá cổ phiếu ngày càng giảm nếu không kịp thời
điều chỉnh dẫn đến sự bán hàng loạt cổ phiếu, là điểm mở đầu của quá trình
mua lại, sáp nhập, hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng. Thậm chí tổn thất đó
gây hiệu ứng dẫn đến phá sản ngân hàng. Rủi ro tín dụng và lãi suất có thể
dẫn đến rủi ro thanh khoản với hàng loạt người gửi tiền tiết kiệm rút tiền ra
khỏi ngân hàng, buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. Tổn thất
ở mức thấp là làm giảm quỹ dự phòng, giảm vốn và quỹ của ngân hàng. Đối
phó với tình huống đó ngân hàng giảm lương, lao động, các chi phí khác
dẫn tới ảnh hưởng không tốt về nhân sự, về thị trường nguồn hoặc công nghệ.
Sự phá sản của ngân hàng luôn có hiệu ứng lây lan và mang tính chất dây
chuyền gây thiệt hại cho cả hệ thống ngân hàng, lĩnh vực tài chính, nền kinh
tế, xã hội Đòi hỏi phải có những quy chế đặc biệt được quy định đối với
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
ngân hàng, trong đó quy chế về an toàn trong hoạt động kinh doanh quan
trọng nhất.
1.2.5. Biện pháp quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương
mại
Các ngân hàng thương mại được thành lập và hoạt động đã vấp phải những
rủi ro gây tổn thất nặng nề. Rủi ro được rất nhiều nhà quản trị rủi ro nghiên
cứu và tìm ra những biện pháp quản lý rủi ro. Trong ngân hàng để quản lý rủi
ro thì ngân hàng có những bước sau: Trước hết, ngân hàng có đội ngò chuyên
gia nghiên cứu rủi ro và đưa ra những biện pháp hạn chế rủi ro, đưa ra các dấu
hiệu nhận biết rủi ro để có biện pháp thích hợp. Tiếp đến, các cán bộ thực
hiện nghiệp vụ đồng thời thực hiện quản lý rủi ro từng nghiệp vụ, với mục
tiêu là tối đa hoá lợi Ých chủ sở hữu trên cơ sở đảm bảo an toàn.
Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro thì có hai biện pháp đối phó với
rủi ro và hậu quả do rủi ro gây ra. Đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro
và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.
Nhóm kiểm soát rủi ro bảo gồm các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngõa
lãnh tư cách Nhưng bảo lãnh ngân hàng thì lại được thực hiện muộn hơn, đó
là vào đầu thế kỷ 20. Sự xuất hiện của bảo lãnh ngân hàng là do những điều
kiện như thông tin thiếu hụt, không cân xứng giữa các bên khó tìm hiểu kỹ về
nhau, nếu muốn tìm hiểu thì mất thời gian và chi phí, cần có một tổ chức
đứng ra củng cố lòng tin và lùa chọn tốt nhất là ngân hàng, vì ngân hàng là
trung gian tài chính có mối quan hệ rộng lớn; Do trước khi có bảo lãnh, các
bên phải thực hiện đặt cọc để đảm bảo nghĩa vụ tài chính, nó có nhược điểm
là mất chi phí và thời gian để kiểm toán tiền và vốn bị tồn đọng Do tính chất
độc lập với hợp đồng cơ sở mà bảo lãnh khắc phục được tổn thất do không
nhận được tiền khi có tranh chấp xảy ra, thanh toán trước kiện tụng sau nếu
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
có. Bảo lãnh rất cần thiết trong mối quan hệ kinh tế. Nghiệp vụ bảo lãnh ra
đời như là một phương tiện phòng ngõa rủi ro góp phần không nhỏ vào việc
thông suốt quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Theo luật tổ chức tín dụng và quy chế 283/2000/QĐ-NHNN ngày
25/8/2002: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín
dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số
tiền đã được trả thay”. Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng có năng lực tài
chính và uy tín được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh; bên được bảo lãnh là
các khách hàng, người yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh bảo đảm nghĩa
vụ tài chính của mình đối với người khác; bên nhận bảo lãnh là các cá nhân,
tổ chức trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của tổ
chức tín dụng.
Bảo lãnh có ba đặc điểm cơ bản là bảo lãnh mang tính chất chứng từ, nó là
một cam kết bằng văn bản, việc ngân hàng thực hiện các nghĩa vụ tài chính
trong bảo lãnh và đòi tiền uỷ nhiệm cũng căn cứ trên văn bản đó; Bảo lãnh
mang tính độc lập, nó quan hệ trực tiếp với người hưởng bảo lãnh. Người thụ
phát hành
Ng ời đ ợc bảo
lãnh
Ng ời nhận
bảo lãnh
Ngân hàng
thông báo
(3)
(4)
(1)
(2)
(3)
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
(3)’: Ngân hàng phát hành thông báo trực tiếp cho người thụ hưởng mà không
cần đến ngân hàng thông báo.
Sơ đồ mô hình hai bên:
Trong mô hình này người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh là một.
Khách hàng vừa là người yêu cầu bảo lãnh và đồng thời là người thụ hưởng.
Khách hàng yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh cho hoạt động của mình
thành công. Ví dụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán của một công ty cổ
phần. Bảo lãnh phát hành mà ngân hàng cam kết với cam kết chắc chắn tức là
nếu doanh nghiệp không bán hết được số chứng khoán thì ngân hàng sẽ đứng
ra mua số chứng khoán còn lại đảm bảo cho đợt phát hành thành công.
- Bảo lãnh gián tiếp (bảo lãnh đối ứng):
Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnh (bên bảo
lãnh đối ứng) phát hành bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh theo chỉ thị của một
ngân hàng trung gian (bên bảo lãnh) phục vụ cho bên được bảo lãnh. Bảo lãnh
gián tiếp được thực hiện do người nhận bảo lãnh muốn ngân hàng mà họ tin
tưởng (thường là ngân hàng nước đó) phát hành. Vì vậy, người được bảo lãnh
yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ định ngân hàng bảo lãnh đối ứng phát
(1)
(2)
Ngân hàng A
Ngân
hàng đầu
mối
Ngân hàng A
Ngân hàng A
Ng ời nhận
bảo lãnh
Ng ời đ ợc
bảo lãnh
(3)
(1)
(2)
Nõng cao hiu qu qun lý ri ro bo lónh
(1): Hai bờn ký kt hp ng c s.
(2): Bờn c bo lónh nộp n xin cỏc ngõn hng bo lónh cho mỡnh.
(3): Quan h thanh toỏn gia cỏc ngõn hng tham gia ng bo lónh v bờn
nhn bo lónh
- Bo lónh cho mt ngha v m nhiu khỏch hng tham gia thc hin
v cựng chu trỏch nhim liờn i. Ngõn hng c bo lónh cho mt ngha
v m nhiu khỏch hng cựng tham gia thc hin v cựng chu trỏch nhim
thụng qua hp ng liờn i trỏch nhim gia cỏc bờn, trờn c s xem xột uy
tớn, kh nng ti chớnh v cú bo m ca tng bờn tham gia thc hin ngha
vụ.
(1): Hai bờn kớ kt hp ng c s.
(2): Cỏc bờn tham gia thc hin bo lónh c i din xin bo lónh ca ngõn
hng trờn c s chu trỏch nhim liờn i.
(3): Quan h gia bờn bo lónh v bờn nhn bo lónh.
thường giá trị bảo lãnh khi bên có trách nhiệm bảo hành (bên được bảo lãnh)
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bảo hành như quy
định.
Ngoài các bảo lãnh chủ yếu trên còn một số loại bảo lãnh như bảo lãnh bảo
đảm chất lượng sản phẩm, bảo lãnh bảo dưỡng, bảo lãnh khoản tiền giữ lại
1.3.2.3. Theo phương thức đòi tiền
Bảo lãnh có điều kiện: là loại bảo lãnh mà việc thanh toán chỉ có thể
được thực hiện khi người thụ hưởng xuất trình theo thư bảo lãnh một số
chứng từ hay giấy chứng nhận được quy định trước.
Bảo lãnh vô điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán được thực hiện
ngay khi ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên bằng văn bản của người thụ
hưởng thông báo rằng bên được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng. Loại hình bảo
lãnh này đảm bảo tuyệt đối quyền lợi cho người thụ hưởng. Nhưng lại gặp
phải rủi ro đó là sự lạm dụng quyền của bên nhận bảolãnh yêu cầu không
trung thực. Hiện nay loại bảo lãnh này đang được sử dụng phổ biến.
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
1.3.2.4. theo phạm vi bảo lãnh
Bảo lãnh trong nước là bảo lãnh mà bên được bảo lãnh và bên nhận bảo
lãnh (không phân biệt nước ngoài hay trong nước) đều có đăng ký hoạt động
ở trong nước.
Bảo lãnh với nước ngoài là bảo lãnh mà bên được bảo lãnh hoặc bên
nhận bảo lãnh đăng ký hoạt động tại nước ngoài.
1.3.2.5. Theo tài sản đảm bảo
Bảo lãnh không có tài sản đảm bảo. Ngân hàng thực hiện bảo lãnh cho
khách hàng mà không yêu cầu khách hàng có tài sản bảo đảm cho cam kết
thực hiện nghĩa vụ đó. Thông thường bảo lãnh không có tài sản đảm bảo được
áp dụng đối với khách hàng truyền thống, có năng lực tài chính và uy tín trên
thị trường.
Bảo lãnh có tài sản bảo đảm. Ngân hàng khi phát hành bảo lãnh cho bên
nhận bảo lãnh thì ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản bảo đảm. Căn
nhuận càng lớn như với những hợp đồng không có tài sản đảm bảo chứa đựng
rủi ro cao nhưng phí lại cao hơn những bảo lãnh có tài sản đảm bảo Còn sau
khi phát hành bảo lãnh thì tổn thất do rủi ro bảo lãnh xảy ra càng lớn thu nhập
càng thấp. Ngân hàng phải quản lý để có thể sinh lợi trên cơ sở an toàn.
- Tổn thất rất lớn khi rủi ro bảo lãnh xảy ra. Thông thường ngân hàng cam
kết bảo lãnh với nghĩa vụ tài chính rất lớn như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh
thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng đó là những loại bảo lãnh có nghĩa
vụ tài chính rất lớn, lại không như tín dụng là có nguồn chuẩn bị sẵn. Chính vì
vậy nếu không quản lý tốt thì tổn thất là không thể lường trước được khi rủi
ro xảy ra.
- Rủi ro bảo lãnh rất phức tạp. Ngân hàng thực hiện bảo lãnh trên rất
nhiều lĩnh vực kinh tế nhiều ngành nghề cho nhiều loại hình doanh nghiệp, và
trên phạm vi rộng lớn cả trong và ngoài nước Chính vì vậy rủi ro của mỗi
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
ngành nghề mỗi lĩnh vực kinh tế, rủi ro quốc gia cũng gây ra rủi ro bảo lãnh.
Bảo lãnh còn là cam kết của nhiều bên , nên rủi ro xuất phát từ các bên cũng
ảnh hưởng tới rủi ro bảo lãnh.
- Tổn thất do rủi ro có nhiều nấc: Rủi ro xảy ra khi khách hàng không thực
hiện nghĩa vụ và ngân hàng phải thực hiện thay nhưng đây chưa phải là rủi ro
tài chính của ngân hàng. Lúc này ngân hàng chỉ bị thụ động trong việc chuẩn
bị nguồn cho khoản nghĩa vụ thực hiện thay và nếu ngân hàng không có
nguồn cho nghĩa vụ này thì dẫn tới rủi ro thanh khoản. Nhưng trong trường
hợp ngân hàng có tiền để thực hiện thanh toán hộ thì khoản bảo lãnh đó được
chuyển thành khoản tín dụng và ngân hàng coi đây là khoản cho vay và nó
vẫn có khả năng thu hồi. Lúc này khoản bảo lãnh lại có rủi ro tín dụng và khi
không thu hồi được nợ thì đó mới là tổn thất cuối cùng ngân hàng gặp phải.
1.3.4. Những nguyên nhân gây ra rủi ro bảo lãnh
Xuất phát từ quy trình, từ các loại bảo lãnh khách nhau mà nguyên nhân
gây ra rủi ro bảo lãnh cũng rất đa dạng. Nhưng xét một cách tổng quát thì rủi
ro bảo lãnh do các nguyên nhân sau:
lãnh còn do những nguyên nhân do môi trường kinh tế xã hội, khoa học công
nghệ Bảo lãnh còn là một nghiệp vụ mới họ hiểu biết về nó chưa nhiều nên
khách hàng khi yêu cầu bảo lãnh cho họ còn đòi hỏi nhiều điều khoản cam kết
mà ngân hàng khó có thể đáp ứng do có nhiều rủi ro và không nằm trong loại
hình bảo lãnh của ngân hàng.
Để quản lý rủi ro bảo lãnh có hiệu quả thì ngân hàng không chỉ hiểu rõ đặc
điểm của rủi ro bảo lãnh, nguyên nhân gây ra rủi ro bảo lãnh mà còn phải am
hiểu về hoạt động bảo lãnh và các lĩnh vực khác
1.3.5. Ảnh hưởng của rủi ro bảo lãnh đối với hoạt động của ngân hàng
thương mại.
Bảo lãnh theo đúng bản chất, chỉ là cam kết bảo đảm rằng bên được bảo
lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo lãnh. Còn việc thực
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
hiện nghĩa vụ thì do hai bên thực hiện, do đó ngân hàng không có nguồn
chuẩn bị cho bảo lãnh. Mặt khác, thường khi bảo lãnh với nghĩa vụ cam kết là
rất lớn. Nếu rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đã
cam kết, ngân hàng phải thanh toán một khoản tiền lớn. Nếu ngân hàng không
có sẵn tiền thì ngân hàng phải tìm mọi cách để có như bán chứng khoán, đi
vay như vậy sẽ mất chi phí, thu nhập từ bảo lãnh sẽ giảm. Thậm chí nó dẫn
tới rủi ro thanh khoản khiến cho ngân hàng buộc phải đóng cửa và tuyên bố
phá sản. Nếu ngân hàng không khắc phục và xử lý tổn thất do rủi ro xảy ra
không tốt sẽ mất cả vốn làm giảm giá trị của ngân hàng. Nhưng nếu ngân
hàng quản lý tốt thì rủi ro sẽ không xảy ra ngân hàng thu được khoản phí làm
thu nhập của ngân hàng và nâng cao uy tín, nâng cao khả năng cạnh tranh của
ngân hàng. Yêu cầu quản lý rủi ro một cách hiệu quả, và giải quyết tốt mối
quan hệ giữa rủi ro và sinh lợi.
1.4. Quản lý rủi ro bảo lãnh trong ngân hàng thương mại
1.4.1. Vai trò của quản lý rủi ro bảo lãnh của ngân hàng thương mại
Như trên đã trình bày ảnh hưởng của rủi ro bảo lãnh đối với hoạt động của
ngân hàng thương mại là rất lớn. Chính vì vậy mà quản lý rủi ro nói chung và
* Biện pháp phòng ngõa rủi ro bảo lãnh.
- Xây dựng chính sách bảo lãnh: Trong đó xác định mục tiêu bảo lãnh,
diều này phải nằm trong khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, ngân hàng
có thể theo đuổi chiến lược tài trợ rủi ro thấp hay cao theo từng giai đoạn. Xác
định thẩm quyền cán bộ để có thể quy trách nhiệm có như vậy cán bộ mới ý
thức được việc làm của mình và có trách nhiệm hơn đối với việc mình làm và
có như vậy ngân hàng mới có thể thu hồi được phần nào tổn thất khi rủi ro do
cán bộ bảo lãnh xảy ra. Ngân hàng thiết lập các tiêu thức bảo lãnh và các
phương pháp kiểm tra kiểm soát giúp cán bộ thực hiện bài bản đúng quy trình
hạn chế rủi ro.
- Thẩm định khách hàng. Đây là bước quan trọng nhất để ra quyết định có
bảo lãnh hay không. Cán bộ phải phân tích và đánh giá về mọi mặt mọi lĩnh
Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro bảo lãnh
vực hoạt động của khách hàng như về mặt pháp lý xem xét xem có đăng ký
kinh doanh, và hoạt đúng pháp luật hay không tránh rủi ro về hoạt động phi
pháp. Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính, đánh giá
chủ doanh nghiệp Nhưng quan trọng nhất trong thẩm định khách hàng ra
quyết định bảo lãnh là phân tích khả năng thực hiện hợp đồng ký kết với bên
nhận bảo lãnh, thứ đó là năng lực tài chính.
- Thực hiện phân tán rủi ro bảo lãnh bằng cách đa dạng hoá các loại bảo
lãnh, các lĩnh vực bảo lãnh, đối tượng khách hàng Ngân hàng càng đa dạng
hoá bảo lãnh thì rủi ro cho ngân hàng càng được giảm bớt hoạt động bảo lãnh
càng hiệu quả.
- Cơ chế bảo đảm bảo lãnh: Tùy theo đối tượng khách hàng mà có yêu cầu
tài sản bảo đảm hoặc không. Các loại tài sản đảm bảo gồm ký quỹ, cầm cố,
thế chấp, bảo lãnh của bên thứ ba Tiêu chuẩn về tài sản đảm bảo, giá trị
được chấp nhận Cách thức xử lý tài sản đảm bảo hướng dẫn cán bộ nhân
viên thực hiện nhanh chóng và hiệu quả.
- Cơ chế quản lý theo dõi bảo lãnh. Theo dõi khách hàng về quá trình hoạt
động trong thời hạn hợp đồng bảo lãnh còn hiệu lực như quá trình tách, sáp
Với những khoản bảo lãnh phải thực hiện thì ngân hàng tìm cách hạn chế
rủi ro ở mức thấp nhất tránh dẫn tới rủi ro thanh toán. Khách hàng của những
khoản nợ đó buộc phải nhận nợ với ngân hàng, còn ngân hàng hoạch toán
nghĩa vụ tài chính đó thành khoản nợ xấu, chuyển từ tài sản ngoại bảng
chuyển vào tài sản nội bảng. Và từ đó có biện pháp thích hợp để xử lý.
* Các biện pháp xử lý khoản bảo lãnh thực hiện.
Với những khoản bảo lãnh mà ngân hàng phải thực hiện thì ngân hàng sẽ
quản lý nó như với khoản tín dụng xấu. Khoản tín dụng xấu này được phân
loại để quản lý.
Với những khoản tín dụng có khả năng được khách hàng trả nợ. Ngân
hàng xem xét lý do khách hàng không thực hiện hợp đồng và xem xét tình