PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. 1.Xuất phát từ vị trí, vai trò của các kiến thức làm văn trong dạy học tập
làm văn
Những nội dung kiến thức tập làm văn được đưa vào trong chương trình,
sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - 5 phân môn Tập làm văn là thiết thực, cần thiết.
Kiến thức trong phân môn Tập làm văn không phải là lí luận thuần tuý mà là kiến
thức về kiểu bài, về các kĩ năng làm văn. Kiến thức tập làm văn có vai tròđịnh
hướng, hướng dẫn cho mét kiểu bài, ví dụ Thế nào là kể chuyện,Thế nào là miêu
tả (SGK Tiếng Việt 4, tập 1) ; kiến thức tập làm văn còn là những khái niệm lí
thuyết làm cơ sở để rèn luyện kĩ năng, ví dụ Cốt truyện, Nhân vật, Đoạn văn
trong bài văn kể chuyện, Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật (SGK Tiếng Việt
4, tập 1),
Kiến thức tập làm văn không phải là tất cả, là quyết định, là đích cuối
cùngcủa phân môn Tập làm văn nhưng vẫn phải quan tâm thích đáng vì nã góp
phần làm cho nhiệm vụ rèn luyện các kĩ năng làm văncho học sinh diễn ra thuận lợi
hơn, tốt hơn. Không nên vì Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp mà coi nhẹ
nhiệm vụ dạy hình thành kiến thức tập làm văn ở tiểu học.
1. 2.Xuất phát từ thực tế dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn ở
tiểu học
Thực tế cho thấy hiện nay việc dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm
văn gặp rất nhiều khó khăn: học sinh không làm được bài tập, không trả lời được
nhiều câu hỏi hoặc mất quá nhiều thời gian cho các câu hỏi, bài tập phần nhận xét.
Các ngữ liệu (bàimẫu) để rút ra ghi nhớ còn nhiều vấn đề phải bàn. Việc thiết kế và
sử dụng câu hỏi đÓ tổ chức hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh ở mét sè
bài chưa thật phù hợp. Giáo viên áp dụng máy móc cách
dạy trong sách giáo viên mà chưa chú ý vận dụng sáng tạo, linh hoạt cho phù
hợp với đối tượng học sinh.
Tõ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Tổ chức dạy học các bài hình
hình thành kiến thức tập làm văn, những nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
6. 3. Vận dông các biện pháp đề xuất để thiết kế kế hoạch bài học, dạy thực
nghiệm mét sè bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh lớp 4 - 5.
PHẦN NỘI DUNG
Chương1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC
CÁC BÀI HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
TẬP LÀM VĂN LỚP 4 – 5
1. 1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và phương hướng
vậndông trong dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn
Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ: con đường nhận thức
của nhân loại làtõ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu
tượng lại quay trở lại kiểm nghiệm trong thực tiễn. Thực tiễn là cội nguồn, động
lực của nhận thức và cũng là mục đích cuối cùng của nhận thức. Nghĩa là “học sinh
sẽ đi từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống, thông qua việc phân tích, tổng hợp
đến những khái quát hoá, những định nghĩa lí thuyết, những quy tắc và từ đó lại
quay về thực tiễn giao tiếp lời nói sống động trong dạng nói và dạng viết” (Lê
Phương Nga, PPDHTV1, NXBĐHSP).
Cách làm nh trên không chỉ tuân thủ những quy luật chung của quá
trình nhận thức chân lí của loài người mà còn đáp ứng được những đòi hỏi
của lí luận dạy học hiện đại.
Dạy hình thành kiến thức tập làm văn theo con đường nhận thức của chủ
nghĩa Mác- Lênin cần theo các bước:
- Cho HS quan sát, đọc, tìm hiểu các bài văn mẫu theo câu hỏi định hướng.
- HS trả lời các câu hỏi là đã tù rút ra kiến thức tập làm văn.
- Tổ chức cho HS vận dụng kiến thức, thực hành nhận diện, xây dựng đoạn
văn, bài văn theo yêu cầu.
1. 1.2. Đặc điểm tư duy, nhận thức của HS lớp 4 - 5 và việc tổ chức dạy
pháp dạy học (bao gồm cả phương tiện) thì câu hỏi, bài tập vẫn phải có mặt và vẫn
chiếm mét tỷ trọng đáng kể.Để xác định được mục tiêu dạy học, giáo viên phải
nắm vững nội dung chương trình, nội dung của từng bài học. Mục tiêu đặt ra là cái
đích mà học sinh phải đạt được, là những nội dung học tập mà học sinh phải lĩnh
hội được kể cả về kiến thức, kĩ năng và thái độ, hành vi.
Khi xác định mục tiêu dạy học, câu hỏi, bài tập góp phần cụ thể hoá mục
tiêu và cũng là phương tiện để cụ thể hoá mục tiêu dạy - học, giúp lượng hoá được
mục tiêu đề ra, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của mục tiêu và điều chỉnh
quá trình tiến tới mục tiêu dạy học.
Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy - học còn tuỳ thuộc vào nội dung mà câu
hỏi, bài tập được sử dụng nh là một phương pháp hay mét biện pháp tổ chức quá
trình dạy học. Câu hỏi, bài tập đóng vai trò là phương pháp khi nã được giải
quyết sẽ đem lại kiến thức cơ bản trọng tâm, quyết định tới việc giải quyết vấn đề
học tập giúp học sinh tù chiếm lĩnh được tri thức, làm tăng
hiệu quả của việc sử dụng phương tiện đó. Lúc này, câu hỏi, bài tập đóng
vai trò là biện pháp.
Trong các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau thì câu hỏi, bài tập là
phương tiện để tổ chức quá trình nhận thức kết hợp các phương tiện dạy học khác
nhau để tạo thành hệ phương pháp dạy - học tích cực. Điều này khẳng định tính
nguyên tắc khi sử dụng bất kỳ phương pháp dạy học nào đều không thể tách rời
việc sử dụng phương tiện dạy học.
• Có thể nêu mét sè ý nghĩa cơ bản thể hiện vai trò câu hỏi, bài tập trong
dạy học nh sau:
- Câu hỏi, bài tập dùng để mã hoá nội dung sách giáo khoa, khi đó chúng là
nguồn tri thức mới. Nếu giả thuyết sách giáo khoađược biên soạn ở dạng tường
minh và việc dạy học chỉ là sù minh hoạ lại những điều đã được trình bày một cách
tường minh trong sách giáo khoa thì việc dạy thuyết trình hay học thuộc lòng nội
dungsách giáo khoa đều có giá trị như nhau về mặt nhận thức. Ngược lại, cũng có
giả thuyết nh trên nếu nội dung sách giáo khoa đã tường minh về thuật ngữ, lôgic
- Loại câu hỏi xử lý hay tạo nghĩa cho thông tin.
Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: Giải thích, so sánh, phân tích, tổ
chức.
- Loại câu hỏi hoạt động ứng dụng hay đánh giá:
Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: áp dụng, dự báo, khái quát, đánh giá.
[10]
Câu hỏi trong các bài hình thành kiến thức tập làm văn chủ yếu là những
câu hỏi phân tích ngữ liệu theo định hướng của bài dạy. Bên cạnh đó là những
Câu hỏi so sánh, giải thích, khái quát hoá để rút ra kiến thức tập làm văn mà HS
cần nắm vững (các câu hỏi, bài tập ở phần nhận xét).
Ở phần luyện tập, câu hỏi, bài tập thường yêu cầu vận dụng kiến thức để
nhận diện hoặc nói, viết thành đoạn, bài.1. 2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4 - 5
1. 2. 1. 1. Những ưu điểm
Qua dù giờ và tìm hiểu tại mét sè trường tiểu học thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh
Hà Tây, chúng tôi nhận thấy thực tế dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm
văn đã đáp ứng được phần nào yêu cầu đổi mới trong dạy học phân môn Tập làm
văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. Học sinh tích cực, hứng thú khi chính
các em, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, khám phá những đoạn văn, bài văn mẫu để
tù rút ra được những kiến thức tập làm văn cần ghi nhớ.
1. 2. 1. 2. Những hạn chế, khó khăn của giáo viên và học sinh
Trong những năm đầu dạy theo chương trình sách giáo khoa mới ở bất cứ
một lớp học nào, môn học nào bao giờ cũng có những khó khăn. Cái khó bắt nguồn
tõ sù mới mẻ trong hệ thống kiến thức, kĩ năng được thể hiện trong sách mới.
Ngoài ra, khó khăn còn do nguyên nhân từ nếp nghĩ và cách tổ chức lớp học đã
thành nếp quen thuộc của giáo viên, trong đó có những thói quen không còn hoàn
toàn phù hợp với yêu cầu đổi mới trong dạy học nhưng không thể thay đổi ngay
2, Tiếng Việt 4, tập 1).
- KÓ lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật (trang 32 SGK, tuần 3, Tiếng Việt 4, tập
1).
- Cốt truyện (trang 42 SGK, tuần 4, Tiếng Việt 4, tập 1).
- Đoạn văn trong bài văn kể chuyện (trang 53 SGK, tuần 5, Tiếng Việt 4, tập
1).
- Mở bài trong bài văn kể chuyện (trang 112 SGK, tuần 11, Tiếng Việt 4, tập
1).
- Kết bài trong bài văn kể chuyện (trang 122 SGK, tuần 12, Tiếng Việt 4, tập
1).
b - Văn miêu tả
• Các kiến thức về văn miêu tả được dạy ở lớp 4 gồm:
- Thế nào là miêu tả (trang 140 SGK, tuần 14, học kì I).
- Miêu tả đồ vật.
+ Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật (trang 143 SGK, tuần 14, học kì I).
+ Quan sát đồ vật (cách quan sát) (trang 153 SGK, tuần 15, học kì I).
+ Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật (trang 169 SGK, tuần 17, HKI).
- Miêu tả cây cối:
+ Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối (trang 30 SGK, tuần 21, học kì II).
+ Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối (trang 52 SGK, tuần 23, HK II).
- Miêu tả con vật: Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật(trang 10 SGK, tuần
1, học kì I).
• Các kiến thức về văn miêu tả được dạy ở lớp 5 gồm:
- Tả cảnh: Cấu tạo của bài văn tả cảnh (trang 11 SGK, tuần 1, học kì I).
- Tả người: Cấu tạo của bài văn tả người (trang 119 SGK, tuần 12, HK II).
c - Các loại văn bản khác
• Lớp 4:
- Viết thư: Mục đích viết thư, cấu tạo một lá thư (trang 34 SGK, tuần 3,
học kì I).
1
.Ngữ liệu các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4 - 5 bao gồm các
văn bản nghệ thuật (Bài văn Bãi ngô, Hoàng hôn trên sông Hương, ), văn bản
truyền thông (Bài báo VịnhHạ Long được tái công nhận là di sản thiên nhiên thế
giới- Bài Tóm tắt tin tức, ), văn bản điều hành (văn bản Biên bản đại hội chi đội-
Bài Làm biên bản cuộc họp, ) và văn bản nhật dụng (Phiếu khai báo tạm trú, tạm
vắng, Thư chuyển tiền - Bài Điền vào giấy tờ in sẵn, ).
b
2
. Ngữ liệu ở mét sè bài gắn bó với chủ điểm của tuần học và được lấy từ
những bài tập đọc, kể chuyện, chính tả đã học. Chẳng hạn, ở lớp 4, gắn với chủ
điểm Thương người như thể thương thân, học sinh được làm quen với văn kể
chuyện với vật liệu mẫu là câu chuyện Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, sự tích hồ Ba
Bể (là bài tập đọc, kể chuyện đã dùng trong chủ điểm). Ởlớp 5, gắn với chủ
điểmViệt Nam – Tổ quốc em, học sinh được làm quen với văn tả cảnh với bài mẫu
là văn bảnQuang cảnh làng mạc ngày mùa (là bài tập đọc đã dùng trong chủ
điểm), Điều này giúp học sinh có nhiều thuận lợi trong quá trình khảo sát bởi các
em đã được tìm hiểu nội dung các bài đó trong các giờ học trước. Việc lấy ngữ liệu
từ các bài tập đọc, kể chuyện, chính tả đã học còn thể hiện tính tích hợp trong dạy
học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
b
3
. Mét sè bài có ngữ liệu hay, tiêu biểu như bài Cấu tạo của bài văn tả
người (bài mẫu: Hạng A Cháng), Viết thư (bài mẫu: Thư thăm bạn), Đoạn văn
trong bài văn miêu tả cây cối (bài mẫu: Cây gạo).
Mét sè bài ngữ liệu phù hợp với kiến thức ghi nhớ như bài: Nhân vật trong
truyện (bài mẫu: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Sự tích hồ Ba Bể), Kể lại hành động
của nhân vật (bài mẫu: Bài văn bị điểm không), Tả ngoại hình của nhân vật trong
bài vănkể chuyện (bài mẫu: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu), Kể lại lời nói, ý nghĩ của
nhân vật (bài mẫu: Người ăn xin), Mở bài trong bài văn kể
hướng sau đây:
- Bạn nhỏ nói trên biết quan tâm đến người khác.
- Bạn nhỏ nói trên không biết quan tâm đến người khác.
Ở bài tập này, tõ ngữ người khác dùng chưa cụ thể, chính xác. Có những học
sinh không hiểu người khác ở đây là ai.
Ví dụ 3:Bài Kể lại hành động của nhân vật
Bài tập 2 (phần nhận xét): Ghi vắn tắt những hành động của cậu bé bị điểm
không trong truyện Bài văn bị điểm không. Theo em, mỗi hành động của cậu bé
nói lên điều gì?
Ở bài tập này, câu hỏi Theo em, mỗi hành động của cậu bé nói lên điều
gìchưa rõ ràng khiến học sinh khó trả lời.
Ví dụ 4: Bài Tả ngoại hình nhân vật trong bài văn kể chuyện
Bài tập 2 (phần luyện tập): Kể lại câu chuyện Nàng tiên Èc kết hợp tả ngoại
hình của các nhân vật.
Mặc dù học sinh đã kể bằng lời của mình câu chuyện Nàng tiên Èc trong
giờ kể chuyện, các em đã nắm được tình tiết, cốt truyện nhưng bài tập này đối với
các em vẫn khó và dài bởi lẽ:
- Bài tập không có câu hỏi hướng dẫn.
- Trong mét khoảng thời gian ngắn như vậy, học sinh vừa phải kể lại toàn bộ
câu chuyện vừa phải kết hợp tả ngoại hình của các nhân vật. Điều này dễ gây áp
lực nặng nề cho học sinh.
- Câu chuyện có ba nhân vật: bà cụ, con ốc và nàng tiên. học sinh phải kết
hợp miêu tả ngoại hình của cả ba nhân vật. Điều này tương đối khó bởi khi miêu
tả, học sinh phải chọn những nét tiêu biểu nhất của nhân vật, phải chắt lọc câu, từ
và phải chọn thời điểm thích hợp để tả.
- Đối với những học sinh trung bình, yếu, có thể các em không còn nhớ rõ
cốt truyện do đó việc kể lại câu chuyện cũng đã khó nhưng việc kết hợp miêu tả lại
càng khó hơn.
- Phần mở bài (Một lần…em rất thích): Giới thiệu chiếc quạt đồ chơi chạy
bằng pin.
- Phần thân bài:
+ Đoạn 1 (Chiếc quạt dài. . . nhuỵ đỏ): Tả bao quát chiếc quạt.
+ Đoạn 2 (Đầu nắp quạt. . . dõng hẳn): Tả các bộ phận bên trong và hoạt
động của quạt.
- Phần kết bài (đoạn còn lại): Tình cảm của tác giả đối với chiếc quạt đồ
chơi.
a
4
- Ngữ liệu thay thế bài vănBãi ngô
(Bài Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối, Tiếng Việt 4, tuần 21)
Mùa thảo quả
Thảo quả trên rừng Đản Khao đã vào mùa.
. . . Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả gieo trên đất rừng, qua mét
năm đã lớn cao tới bụng người. Một năm sau nữa, tõ mét thân lẻ, thảo quả đâm
thêm hai nhánh mới. Sù sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy. Thoáng cái, dưới bóng râm
của rừng già, thảo quả lan toả nơi tầng rừng thấp, vươn ngọn, xoè lá, lấn chiếm
không gian.
Sù sống cứ tiếp tục trong âm thầm, hoa thảo quả nảy dưới gốc cây kín đáo
và lặng lẽ. Ngày qua, trong sương thu Èm ướt và mưa rây bụi mùa đông, những
chùm hoa khép miệng bắt đầu kết trái. Thảo quả chín dần. Dưới đáy rừng,
tựa nhđột ngột, bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót, nh chứa lửa,
chứa nắng. Rừng ngập hương thơm, rừng sáng nh có lửa hắt lên từ dưới đáy rừng.
b) Mẹ con bà nông dân (trong truyện sự tích hồ Ba Bể).
Căn cứ vào đâu mà em có nhận xét nh vậy?
Điều chỉnh:
1 Ghi tên các nhân vật trong những truyện em mới học vào nhóm
thíchhợp.
- Đoạn còn lại kể về sự việc gì?: HS nhận diện đoạn văn và sự việc thứ tư
của bài.
- Nh vậy truyện có mấy sự việc chính, có mấy đoạn văn?: HS nhận ra mét
câu chuyện có nhiều sự việc chính ứng với nhiều đoạn văn.
- Những sự việc được kể thứ tự nh thế nào theo các đoạn văn?: HS biết được
mỗi sự việc chính được kể trong mét đoạn văn, đồng thời câu hỏi này địnhhướng
HS tới kiến thức cần ghi nhớ.
2 Chỗ mở đầu đoạn văn có dấu hiệu gì?: HS nhận biết dấu hiệu mở đầu
mỗi đoạn văn.
- Dấu hiệu nào giúp em nhận ra chỗ kết thúc của đoạn văn?: HS nhận biết
dấu hiệu kết thúc mỗi đoạn văn.
Ví dụ 7 : Bài Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối
Hệ thống câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa (phần nhận xét)
1. Đọc bài Bãi ngô. Xác định các đoạn văn và nội dung của từng đoạn.
2. Đọc lại bài Cây mai tứ qúy (sách Tiếng Việt 4, tập 2, trang 23). Trình tự
miêu tả trong bài Êy có điểm gì khác bài Bãi ngô?
3. Tõ cấu tạo của hai bài văn trên, rút ra nhận xét về cấu tạo của một bài văn
miêu tả cây cối.
Điều chỉnh:
- Muốn xác định được các phần mở bài, thân bài, kết bài của bài Hoàng hôn
trên sông Hương, các em cần biết bài văn có mấy đoạn?: Các phần mở bài, thân
bài, kết bài tương ứng với những đoạn văn do đó câu hỏi này giúp HS nhận biết
các phần cấu tạo một cách dễ dàng.
- Em đã dựa vào những dấu hiệu nào để nhận biết một đoạn văn?: Củng cố
dấu hiệu nhận biết một đoạn văn.
- Mở bài là đoạn nào? Đoạn này giới thiệu bao quát sự yên tĩnh của Huế ở
thời điểm nào?: Giúp HS nắm được nội dung phần mở bài của bài văn, bước đầu
nhận biết trình tự miêu tả của bài văn - trình tự thời gian.
- Kết bài là đoạn nào? Phần này, tác giả nêu cảm nhận của mình về Huế ở
- GV kết luận bài học.
- Tính cách của nhân vật bộc lộ qua hành
động, lời nói, suy nghĩ, … của nhân vật.2. Hướng dẫn ghi nhớ - HS đọc và học thuộc ghi nhớ
trong SGK
3. Hướng dẫn luyện tập
Bài tập 1 - 1HS đọc toàn bộ nội dung bài tập
1.
- Cả lớp đọc thầm lại, quan sát tranh
minh hoạ.
- GV đặt câu hỏi, yêu cầu HS trao đổi và trả lời: - HS trao đổi theo cặp.
+ Nhân vật trong câu chuyện là những ai? + Ni-ki-ta, Gô-sa, Chi - ôm - ca và
bà ngoại.
+ Nhìn vào tranh minh hoạ, em thấy ba anh em
có gì khác nhau?
+ Hành động sau bữa ăn khác nhau.
+ Nhận xét của bà về tính cách của + Ni - ki - ta chỉ nghĩ đến ý thích
của3.1.6. Bài CÊu tạo bài văn miêu tả cây cối
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- HS nắm được cấu tạo của một bài văn miêu tả cây cối (gồm 3 phần: mở
bài, thân bài, kết bài).
- HS nắm được nội dung cần có của từng phần trong bài văn miêu tả cây cối.
- Biết phân tích cách tả một cây và lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả quen
thuộc theo mét trong hai cách đã học (tả lần lượt từng bộ phận của cây, tả từng thời
kì phát triển của cây).
+ Tõ hai bài văn, em có nhận xét gì về
cấu tạo của kiểu bài tả cảnh và nội dung
chính của từng phần?
+ Cấu tạo của bài văn tả cảnh gồm 3
phần:
Mở bài: Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ
tả.
Thân bài: Tả sù thay đổi của cảnh vật
theo thời gian hoặc tả từng phần của
cảnh.
Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ
của người viết.
- GV yêu cầu các nhóm trình bày kết
quả thảo luận.
- GV chốt lại những ý kiến HS phát
biểu và đưa ra ý đúng (treo bảng phụ
viết sẵn ghi nhớ của bài).
- Đại diện các nhóm trình bày kết quả
thảo luận, nhóm khác nhận xét, bổ
sung.
- 1 HS đọc.
3- HD ghi nhí
- GV treo bảng phụ cấu tạo bài văn tả
cây cối vào bên cạnh, yêu cầu HS so
sánh cấu tạo hai kiểu bài để HS nắm
vững bài và thấy được sự gần gũi về
cấu tạo, cách tả ở phần thân bài của hai
bài văn này.
- HS đọc và học thuộc
vắng đếnhai mí mắt khép lại. Đoạn này
tả gì?
+ Tả cây chuối và con vật trong nắng
trưa.
+ Yêu cầu 1 HS đọc tõ Con gà
nào đếnbóng chuối cũng lặng im. Đoạn
này nói gì?
+ Tiếng võng và câu hát ru em.
+Yêu cầu 1 HS đọc tõ Êy thế
mà đếncấy nốt thửa ruộng chưa xong.
+ Tả hình ảnh người mẹ tần tảo trong
nắng trưa.Người mẹ hiện lên là người nh thế nào?
+ Câu cảm thán cuối bài cho ta biết
điều gì?
+ Tình cảm thiết tha với người mẹ tảo
tần.
- GV yêu cầu HS dựa vào ghi nhí, xếp
các đoạn vào cấu tạo 3 phần của kiểu
bài tả cảnh và nêu nội dung chính của
mỗi phần.
- HS làm vào vở.
- GV tổ chức cho HS chữa bài. - 2, 3 HS đọc bài làm của mình. HS cả
lớp nhận xét, bổ sung.
- GV kết luận, đưa ra đáp án đúng. - 1 HS đọc.
3.2.2. Nội dung thử nghiệm
chúng tôi sử dụng những thiết kế bài học đã xây dựng để dạy thử nghiệm.
Đó là các thiết kế bài học:
+ BàiThế nào là kể chuyện.
+ BàiNhân vật trong truyện.
+ Bài Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật.
+ BàiCốt truyện.
+ BàiĐoạn văn trong bài văn kể chuyện.
+ Bài Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối.
+ Bài Cấu tạo của bài văn tả cảnh.
Trong quá trình dạy thử nghiệm, chúng tôi tôn trọng các mục tiêu về kiến
thức và kĩ năng cần hình thành cho học sinh trong mỗi tiết học theo đúng quy định.
3.3. Tổ chức thử nghiệm
3. 3.1. Thời gian thử nghiệm: tháng 8/2007.
3. 3.2. Phương pháp thử nghiệm
chúng tôi sử dụng phương pháp thử nghiệm đối chứng để thu được những
thông tin chính xác và khách quan.
3. 3.3. Đối tượng thử nghiệm
Đối tượng thử nghiệm là học sinh lớp 4, trường tiểu học Phù Lưu Tế(huyện
Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây).
+ Lớp thử nghiệm: 4A (33 học sinh).
+ Lớp đối chứng: 4B (32 HS).
Hai lớp này đồng đều về mức độ nhận thức và kết quả học tập các môn học
(không có sự chênh lệch).
3. 3.4. Nội dung kiểm tra
Kết quả thử nghiệm được đánh giá qua các bài kiểm tra viết ở các lớp thử
nghiệm và lớp đối chứng. Mỗi bài kiểm tra bao gồm hai câu:
Câu 1: Kiểm tra lý thuyết (khả năng hiểu và ghi nhớ các kiến thức tập làm
văn).