Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trần Quang Minh
Tổ chức dạy học sinh học 11
Chương sinh sản theo hướng sử dụng
truyền thông đa phương tiện Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
CHUYẤN NGÀNH: LL&PPDH SINH HỌC
MÃ SỐ: 60.14.10
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN HỒNG
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Trang
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc trong QTDH
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa PTTQ với các yếu tố cấu trúc của QTDH
Bảng 2.5: Phân công chủ đề bài học cho các nhóm học tập
Bảng 2.6: Phân công thực hiện chuyên đề cho các nhóm học tập
Bảng 3.1. Các bài dạy thực nghiệm
Bảng 3.2. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra trong thực nghiệm
Bảng 3.3. Bảng tần suất điểm (%)
Bảng 3.4. Bảng tần suất hội tụ tiến (f%)
Bảng 3.5. Kiểm định
X
điểm trắc nghiệm
Bảng 3.6. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm
Bảng 3.7. Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra sau TN
Bảng 3.8. Bảng phân phối tần suất
Bảng 3.9. Bảng phân phối tần suất tích lũy hội tụ tiến (f%)
Bảng 3.10. Kiểm định
X
điểm trắc nghiệm
Bảng 3.11. Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm
Bảng 3.12. Phân tích kết quả thăm dò ý kiến GV
Bảng 3.13. Phân tích kết quả thăm dò ý kiến HS
34
44
46
71
72
75
76
82
87
87
89
QTDH
QTTT
SGK
SGV
SS
SSVT
SSHT
TTĐPT
TN
TV
Công nghệ thông tin
Dạy học
Đối chứng
Động vật
Giáo dục và đào tạo
Giáo viên
Học sinh
Phần mềm công cụ
Phần mềm dạy học
Phương pháp dạy học
Phương tiện dạy học
Phương tiện đa truyền thông
Phương tiện trực quan
Trung học phổ thông
Quá trình dạy học
Quá trình truyền thông
Sách giáo khoa
Sách giáo viên
Sinh sản
Sinh sản vô tính
HỌC 11 CHƢƠNG SINH SẢN SỬ DỤNG TTĐPT
2.1. Các nguyên tắc xây dựng bài giảng sử dụng TTĐPT
2.2. Quy trình xây dựng bài giảng tư liệu điện tử lớp 11 chương Sinh
sản theo hướng tích hợp TTĐPT
2.3. Tổ chức dạy học chương Sinh sản sử dụng TTĐPT 39
44 70
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Nội dung thực nghiệm
3.3 Phương pháp thực nghiệm
3.4 Kết quả thực nghiệm
82
82
82
87
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
2. Đề nghị
100
100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
điểm. Kiểm tra bài làm cụ thể của HS, chúng tôi nhận thấy đa số HS đã
nắm và trình bày được những kiến thức cơ bản nhất, nhưng khả năng so
sánh, phân tích và hệ thống hóa kiến thức cn chưa cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài:
“Tổ chức dạy học Sinh học 11 chương Sinh sản theo hướng sử dụng
truyền thông đa phương tiện”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng quy trình thiết kế bài giảng tích hợp TTĐPT
Thiết kế bài giảng Sinh học lớp 11 chương Sinh sản theo hướng sử
dụng truyền thông đa phương tiện, đặc biệt là với sự hỗ trợ của mạng
Internet.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học lớp 11 ở trường
THPT tại địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quy trình thiết kế bài giảng Sinh học 11
chương Sinh sản theo hướng sử dụng truyền thông đa phương tiện.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Tổng quan tài liệu tình hình sử dụng truyền thông đa phương tiện
trong dạy học trên thế giới và ở Việt Nam
4.2. Điều tra cơ bản về tình hình sử dụng truyền thông đa phương tiện
trong giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh tại các trường THPT
trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
4.3. Xây dựng các bài giảng sử dụng truyền thông đa phương tiện cho học
sinh lớp 11 chương Sinh sản bằng phần mềm Lecture Maker và Blog
Violet.
4.4. Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc khai thác
và sử dụng truyền thông đa phương tiện trong thiết kế bài giảng sinh học
SGK Sinh học 11 ban cơ bản, bằng phần mềm Lecture Maker.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
8.2. Xây dựng Blog cá nhân ( để cung cấp tài liệu
và hướng dn học tập cho HS trong website của Công ty Tin học Bạch Kim
()
8.3. Tổ chức dạy học theo hình thức thảo luận có sử dụng các bài giảng
và Blog cá nhân.
8.4. Đánh giá được nhu cầu và triển vọng sử dụng bài giảng tích hợp
TTĐPT trong dạy học Sinh học 11, kiến thức chương Sinh sản ở trường
THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình ứng dụng CNTT trong giáo dục trên thế giới
1.1.1. Lược sử phát triển và ứng dụng CNTT vào dạy học [27],[31],[35]
Máy tính được sử dụng trong giáo dục từ những năm 1970 và đã trở
thành công cụ không thể thay thế được trong sự phát triển không chỉ của giáo
dục mà còn của các ngành: kinh tế, an ninh quốc phòng và nghiên cứu khoa
học. Với sự phát triển nhanh của các cấu hình phần cứng và phần mềm tích
hợp mới, máy tính ngày càng trở nên mạnh mẽ và đa chức năng hơn, trợ giúp
được hầu hết những nhu cầu công việc từ đơn giản (ghi nhớ, tính toán) cho
đến phức tạp nhất (điều khiển tự động, dự báo). Nhiều nước phát triển như
Mỹ, Pháp, Anh, Nhật đã xác định chiến lược phát triển ứng dụng CNTT ở
tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó một lĩnh vực quan trọng là giáo dục.
Vì vậy, họ đã đầu tư rất lớn để xây dựng các trung tâm máy tính, siêu máy
động chung (hệ thống khai thác) và riêng (ứng dụng) cho một cách sử dụng
chính xác hay đặc thù” [17].
Vớ i thế mạ nh về kinh tế và trình độ kĩ thuậ t , các nước tiên tiến trên thế
giớ i như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Australia, Ấn Độ đã đầ u tư nghiên cứu xây
dựng và đưa vào sử dụng nhiều phần mềm dạy học về mô phỏng, thí nghiệm
ảo trong dạy và học nhiều môn học ở trường phổ thông và cho kết quả tốt
như:
- Đề án: “ Tin học cho mọi người” năm 1970 do Pháp xây dựng.
- Chương trình MEP (Microelectronics Education Programe) năm 1980
do Anh xây dựng.
- Đề án: CLASS ( Computer Literacy And Studies in School ) của Ấn Độ
năm 1985.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Chương trình phần mềm các môn học ở trung học của Australia do tổ
chức NSCU ( National Software Cadination Unit ) thành lập năm 1985.
- Hội thảo xây dựng các PMDH của các nước khu vực Châu Á- Thái
Bình Dương (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia,
Srilanca) năm 1985 ở Malaysia.
Hiện nay, có phần mềm hỗ trợ dạy và học các môn học ở mọi cấp học,
trong đó có các phần mềm về lĩnh vực Sinh học như:
- Phần mềm Biology trong Encatra, Wikipedia (Từ điển Bách khoa toàn
thư) gồm các kiến thức về phân loại thực vật, phân loại động vật, giải phẫu
sinh lý, quá trình phát triển phôi sớm
- Phần mềm trong www.dnatb.org xây dựng một số một số cấu trúc, cơ
chế của sự di truyền như phiên mã, dịch mã, cấu trúc nhiễm sắc thể.
- Các phần mềm hình ảnh, phim mô phỏng sinh động, có giá trị khoa học
trong hầu hết các website chuyên ngành Sinh học của các trường đại học và
phổ thông trên thế giới.
cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-
learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả
cao. Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng
loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các
giải pháp về E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart
Force
Tại Châu Âu: Trong những năm gần đây, các nước châu Âu đã có thái độ
tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó
trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo
dục.
Ngoài việc tích cực triển khai E-learning tại mỗi nước, giữa các nước
châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning. Điển hình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu Euro-SPACE. Đây là mạng E-
learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan
Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ -
Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, con
người… phù hợp với nhu cầu học của sinh viên đại học, học viên sau đại học,
các nhà chuyên môn ở châu Âu.
Tại Châu Á, mặc dù vẫn còn một số các rào cản tạm thời về luật pháp,
cơ sở hạ tầng cũng như sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu
Á, E-learning đang dần khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của mình.
Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại
Châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình
như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước
khác trong khu vực. Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các
công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp và dùng để đào tạo nhân
nghệ, nghiên cứu thử nghiệm và tuyển chọn các phần mềm E-learning thích
hợp, đã Việt hoá (phần mềm mã nguồn mở Moodle) và đến nay đã có khoảng
70 trường Đại học, Cao đẳng sử dụng. Cục CNTT sẽ tổ chức chuyển giao
các phần mềm công cụ tạo bài giảng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp với yêu cầu
Việt Nam cho các Sở GD&ĐT.
Hiện nay tại Bộ GD&ĐT đã kết nối đường cáp quang 34 Mbps trong
nước và 2 Mbps đi quốc tế. Viettel cung cấp gói Net+ (gói chất lượng cao
nhất) tới các cơ sở giáo dục. Kết nối cáp quang từ Bộ về các Sở giáo dục và
đào tạo với băng thông 4 Mbps. Ba bên (Cục CNTT, các Sở GD&ĐT và
Viettel) sẽ phối hợp lên danh sách các cơ sở giáo dục khó khăn để có chính
sách hỗ trợ kết nối. Các cơ sở giáo dục hưởng lợi từ dịch vụ ưu đãi này sẽ
bao gồm các trường phổ thông và cả các trường mầm non, mẫu giáo, các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
trung tâm giáo dục cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường
dạy nghề, các Phòng giáo dục.
1.2.2. Hiện trạng sử dụng CNTT trong dạy học tại Việt Nam hiện
nay [6]
Hiện nay, ở Việt Nam và trên thế giới, việc ứng dụng CNTT vào giảng
dạy được thực hiện theo những xu hướng sau đây:
a. Sử dụng CNTT như là một công cụ của người dạy: Đây có lẽ là
hình thức đang được sử dụng tương đối phổ biến ở nước ta. Người dạy thiết
kế bài giảng, các hoạt động dạy học thông qua các phần mềm như
PowerPoint, Frontpage, Acrobat và một số phần mềm thông dụng khác.
Các phần mềm này được sử dụng cho các bài giảng kiến thức đơn giản. Sự
tích hợp của các kiến thức là không cao, vai trò của người học rất thụ động,
vai trò của người dạy được chủ động và mang tính tích cực theo nghĩa một
chiều. Thật ra, thì xu hướng này thường dành cho các giáo viên không thuộc
giáo án, ngại viết bảng, thích thuyết trình. Xu hướng này không đánh giá đúng
trường vẫn chưa trang bị đầy đủ để đáp ứng cho nhu cầu dạy học kiểu này.
Nên chăng các giáo viên khai thác xu hướng này theo những hình thức gọn
gàng hơn như học tập qua mạng, thi cử, báo cáo qua mạng… cho lớp hoặc bộ
môn mình đang giảng dạy. Cấp lãnh đạo cũng cần phải quan tâm nhiều hơn
đến xu hướng mới mẻ này vì nó mở ra một vận hội lớn cho việc học tập của
mọi người và học tập suốt đời.
Trong môi trường giáo dục và đào tạo ở bậc THPT, xu hướng thứ 2 và
thứ 3 sẽ trở thành những hướng đi chính nhằm thay đổi hoàn toàn phương
thức dạy học hiện nay, đưa HS trở về đúng với vai trò “trung tâm” trong dạy
học mà các em đáng được thụ hưởng. Với mức độ ứng dụng CNTT vào dạy
học như hiện nay, hầu hết các trường THPT trên cả nước đều có khả năng thử
nghiệm và phổ biến 2 hình thức dạy và học này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
1.3. Những thuận lợi-khó khăn khi áp dụng giảng dạy tích hợp
truyền thông đa phương tiện ở Việt Nam
1.3.1. Thuận lợi [19]
CNTT và truyền thông (Information and Communication Technology -
ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện nay;
nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng
công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực hoạt động chính
trị xã hội khác. Trong giáo dục – đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các
môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội, nhân văn, các hoạt động nghiệp vụ và đào
tạo nghề. Hiệu quả rõ rệt là chất lượng giáo dục tăng lên cả về lý thuyết và
thực hành. Vì thế, nó là chủ đề lớn được Tổ chức Văn hoá giáo dục thế giới
UNESCO chính thức đưa ra chương trình hành động trước ngưỡng cửa của
thế kỷ 21 và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào
đầu thế kỷ 21 do ảnh hưởng của CNTT” [18]. Như vậy, ICT có ảnh hưởng
sâu sắc tới giáo dục đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới PPDH. CNTT góp phần
năng làm việc trong tương lai, cũng như sử dụng phương tiện máy tính và các
phương tiện truyền thông khác trong đời sống gia đình và xã hội (làm việc và
học tập với máy tính, truy cập Internet, sử dụng hộp thư điện tử, tạo lập môi
trường và trao đổi thông tin qua mạng…).
- Sử dụng ICT, đa phương tiện (multimedia) trong DH góp phần thực
hiện đổi mới PPDH trên ba lĩnh vực then chốt: gia tăng đáng kể vai trò chủ
động của HS - HS trong việc tiếp cận kiến thức và do đó nhấn mạnh phương
pháp học để chiếm lĩnh tri thức; áp dụng sư phạm phân hoá để đáp ứng thực
tiễn không đồng nhất của HS - HS thông qua việc HS tự học; thực hiện liên
môn, liên ngành về nội dung thông qua việc thu thập thông tin có bản chất
khác nhau và xử lý nó bằng sự hỗ trợ đa phương tiện.
c) Về thái độ: ICT góp phần gây hứng thú cho HS-HS nhờ các mô hình,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
hình ảnh phong phú, đa dạng, thể hiện trạng thái động của sự vật, hiện tượng
mà trong thực tế về điều kiện không gian, thời gian khó có thể diễn tả được.
d) Về đánh giá: khách quan hoá quá trình đánh giá qua việc sử dụng
phương pháp trắc nghiệm khách quan, đặc biệt người học có thể tự đánh giá
qua các nội dung và bài tập do GV thiết kế trong từng học phần, qua sử dụng
trung tâm học tập trực tuyến, góp phần thực hiện đổi mới PPDH ở bậc phổ
thông.
Nhận thức được vai trò to lớn của việc áp dụng CNTT và truyền thông
trong DH, Đảng và Nhà nước đã rất coi trọng ứng dụng CNTT, coi yêu cầu
đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của CNTT và các phương tiện kỹ thuật hiện đại là
điều hết sức cần thiết. Nghị quyết Trung ương II khoá VIII của Đảng đã
khẳng định tiêu chí đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học,
từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào
quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS. Chiến
cho giáo viên và HS cả về phần cứng lẫn phần mềm. Hầu hết các nhân viên
làm việc trong lĩnh vực học thuật ở Hoa Kỳ được trang bị máy tính ở nơi
làm việc. Tương tự, các học giả ở Anh Quốc có tài khoản cá nhân trực tiếp để
sử dụng thiết bị phần cứng và các chương trình phần mềm (OECD 2001). Kết
quả này có thể có được từ mối quan hệ hợp tác tốt giữa trường phổ thông và
các cơ quan nghiên cứu, chuyên môn.
Việc cấp tài khoản để giáo viên và HS có thể tìm được sách điện tử và tài
liệu, tạp chí chuyên ngành trên mạng giúp tiết kiệm tiền bạc, thời gian, công
sức quản lý hơn là mua sách về xếp đầy các giá sách của thư viện, nhưng
chúng sẽ có ít hiệu quả hơn nếu họ không được tập huấn rõ về cách thức sử
dụng.
1.3.2.2. Vấn đề đầu tư cho công nghệ và định hướng sự phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
giáo dục phổ thông:
Việc thay đổi một cách căn bản cách thức quản lý tri thức đang tạo ra
một thách thức khác. Quản lý tri thức không chỉ đề cập đến việc thiết lập một
hệ thống thông tin và chuyển giao thông tin, mà là vấn đề thông tin đã được
tinh luyện thành kiến thức như thế nào và kiến thức đó được sử dụng như thế
nào để có hiệu quả tốt. Kiến thức thì phải cô đọng và khái quát hơn là thông
tin. Chẳng hạn như thông tin đã giúp đưa đến một phán đoán có giá trị, hay là
thông tin đã mang lại một lợi ích thực tế nào đó, hoặc một cách ứng dụng cụ
thể của thông tin, tất cả bao hàm trong vấn đề đang được nói đến. Nó có mối
liên quan với các câu hỏi như: Kiến thức là gì? Kiến thức được phát triển theo
cách thức như thế nào? Trong tương lai kiến thức nên được phát triển theo
cách thức như thế nào?
Quản lý tri thức đang chiếm vị trí là vấn đề trọng tâm trong hầu hết các
ngành học thuật và là vấn đề rất lớn đang tồn tại ở nhiều quốc gia. Mặc dù
vấn đề quản lý kiến thức đã có sự phát triển trong các nghiên cứu về kinh
Pettigrew và D. Elliott (1999) thì có một số nguyên tắc cần lưu ý trong việc
huấn luyện kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho HS, đó là: linh hoạt, sử
dụng thường xuyên và tự tin, tài liệu học tập đa dạng và cập nhật.
Linh hoạt là khả năng xoay xở để thích nghi với sự khác biệt về phần
cứng hay các phiên bản phần mềm được trang bị khác nhau giữa học đường
và nơi làm việc. HS phải được chuẩn bị để có thể thích ứng nhanh với việc
nâng cấp các thiết bị. Việc sử dụng thường xuyên là rất quan trọng bởi vì kỹ
năng chỉ có thể hình thành và thuần thục khi được sử dụng thường xuyên. HS
cần được hỗ trợ bởi các phương pháp huấn luyện và tài liệu học tập đa dạng
để giúp họ học tập hiệu quả. Sách, các loại sổ tay hướng dẫn, làm mẫu và
hướng dẫn, trợ giúp kỹ thuật trực tiếp hoặc trực tuyến, hướng dẫn gián tiếp
qua băng hình, tất cả đều có ích để giúp HS lựa chọn phương pháp học tập tốt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
nhất đáp ứng nhu cầu học tập của họ. Điều này rất quan trọng để giúp HS đạt
được bằng cấp phổ thông bất chấp kỹ năng công nghệ thông tin của họ đã
được trang bị ở mức độ nào từ các lớp ở cấp học phổ thông.
Các giáo viên cũng cần được huấn luyện về kỹ năng sử dụng công nghệ
thông tin. Một bộ phận lớn giáo viên đã không được học về các kỹ năng này
từ các trường lớp chính thức mà chỉ tự học là chính. Xu hướng tin học hoá
trong giáo dục cũng làm gia tăng thêm áp lực nghề nghiệp và khối lượng công
việc cho nhóm giáo viên này hơn là giúp tiết kiệm sức lao động của họ. Các
cơ sở giáo dục phổ thông cần có các chiến lược để trợ giúp đội ngũ giáo viên
và nhân viên về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin mà họ còn thiếu hụt.
Hạn chế về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin của đội ngũ giáo viên và
nhân viên cũng như thiếu sự hỗ trợ của giới chuyên môn về công nghệ thông
tin sẽ là một lý do làm thất bại các chiến lược thúc đẩy việc trực tuyến hoá các
tài nguyên học tập và phương pháp giảng dạy – trong khi các chiến lược này
được đánh giá là hữu ích để kéo giảm áp lực đại chúng hoá giáo dục phổ