tổ chức dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh lớp 4 - 5 - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của các kiến thức làm văn trong dạy học
tập làm văn
Những nội dung kiến thức tập làm văn được đưa vào trong chương
trình, sách giáo khoa Tiếng Việt líp 4-5 phân môn Tập làm văn là thiết thực,
cần thiết. Kiến thức trong phân môn Tập làm văn không phải là lí luận thuần
tuý mà là kiến thức về kiểu bài, về các kĩ năng làm văn. Kiến thức tập làm
văn có vai trò định hướng, hướng dẫn cho một kiểu bài, ví dụ Thế nào là kể
chuyện, Thế nào là miêu tả (SGK Tiếng Việt 4, tập 1) ; kiến thức tập làm
văn còn là những khái niệm lí thuyết làm cơ sở để rèn luyện kĩ năng, ví dụ
Cốt truyện, Nhân vật, Đoạn văn trong bài văn kể chuyện, Đoạn văn trong
bài văn miêu tả đồ vật (SGK Tiếng Việt 4, tập 1),
Kiến thức tập làm văn không phải là tất cả, là quyết định, là đích cuối
cùng của phân môn Tập làm văn nhưng vẫn phải quan tâm thích đáng vì nó
góp phần làm cho nhiệm vụ rèn luyện các kĩ năng làm văn cho học sinh diễn ra
thuận lợi hơn, tốt hơn. Không nên vì Tập làm văn là phân môn thực hành tổng
hợp mà coi nhẹ nhiệm vụ dạy hình thành kiến thức tập làm văn ở tiểu học.
1.2. Xuất phát từ thực tế dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm
văn ở tiểu học
Thực tế cho thấy hiện nay việc dạy học các bài hình thành kiến thức tập
làm văn gặp rất nhiều khó khăn: học sinh không làm được bài tập, không trả lời
được nhiều câu hỏi hoặc mất quá nhiều thời gian cho các câu hỏi, bài tập phần
nhận xét. Các ngữ liệu (bài mẫu) để rót ra ghi nhớ còn nhiều vấn đề phải bàn.
Việc thiết kế và sử dụng câu hỏi đÓ tổ chức hình thành kiến thức tập làm văn
cho học sinh ở một số bài chưa thật phù hợp. Giáo viên áp dụng máy móc cách
1
dạy trong sách giáo viên mà chưa chú ý vận dông sáng tạo, linh hoạt cho phù
hợp với đối tượng học sinh.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Tổ chức dạy học các bài
hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh líp 4 - 5”.

khắc phục.
6.3. Vận dụng các biện pháp đề xuất để thiết kế kế hoạch bài học, dạy
thực nghiệm một số bài hình thành kiến thức tập làm văn cho học sinh líp 4 - 5.
3
PHẦN NỘI DUNG
Chương
1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ TỔ CHỨC DẠY
HỌC CÁC BÀI HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
TẬP LÀM VĂN LỚP 4 – 5
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và phương hướng
vận dông trong dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn
Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ: con đường nhận
thức của nhân loại là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư
duy trừu tượng lại quay trở lại kiểm nghiệm trong thực tiễn. Thực tiễn là cội
nguồn, động lực của nhận thức và cũng là mục đích cuối cùng của nhận thức.
Nghĩa là “học sinh sẽ đi từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống, thông qua
việc phân tích, tổng hợp đến những khái quát hoá, những định nghĩa lí thuyết,
những quy tắc và từ đó lại quay về thực tiễn giao tiếp lời nói sống động trong
dạng nói và dạng viết” (Lê Phương Nga, PPDHTV1, NXBĐHSP).
Cách làm nh trên không chỉ tuân thủ những quy luật chung của quá
trình nhận thức chân lí của loài người mà còn đáp ứng được những đòi hỏi
của lí luận dạy học hiện đại.
Dạy hình thành kiến thức tập làm văn theo con đường nhận thức của
chủ nghĩa Mác- Lênin cần theo các bước:
- Cho HS quan sát, đọc, tìm hiểu các bài văn mẫu theo câu hỏi định hướng.
- HS trả lời các câu hỏi là đã tù rót ra kiến thức tập làm văn.
- Tổ chức cho HS vận dụng kiến thức, thực hành nhận diện, xây dựng
đoạn văn, bài văn theo yêu cầu.

5
• Trước hết, cần khẳng định, câu hỏi, bài tập có vị trí rất quan trọng
trong lý luận dạy học, cho dù sự đổi mới mang tính cách mạng cả về nội dung
và phương pháp dạy học (bao gồm cả phương tiện) thì câu hỏi, bài tập vẫn
phải có mặt và vẫn chiếm mét tỷ trọng đáng kể. Để xác định được mục tiêu
dạy học, giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, nội dung của từng
bài học. Mục tiêu đặt ra là cái đích mà học sinh phải đạt được, là những nội
dung học tập mà học sinh phải lĩnh hội được kể cả về kiến thức, kĩ năng và
thái độ, hành vi.
Khi xác định mục tiêu dạy học, câu hỏi, bài tập góp phần cụ thể hoá
mục tiêu và cũng là phương tiện để cụ thể hoá mục tiêu dạy - học, giúp lượng
hoá được mục tiêu đề ra, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của mục
tiêu và điều chỉnh quá trình tiến tới mục tiêu dạy học.
Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy - học còn tuỳ thuộc vào nội dung
mà câu hỏi, bài tập được sử dụng nh là một phương pháp hay một biện pháp
tổ chức quá trình dạy học. Câu hỏi, bài tập đóng vai trò là phương pháp khi
nó được giải quyết sẽ đem lại kiến thức cơ bản trọng tâm, quyết định tới việc
giải quyết vấn đề học tập giúp học sinh tự chiếm lĩnh được tri thức, làm tăng
hiệu quả của việc sử dụng phương tiện đó. Lúc này, câu hỏi, bài tập đóng vai
trò là biện pháp.
Trong các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau thì câu hỏi, bài tập là
phương tiện để tổ chức quá trình nhận thức kết hợp các phương tiện dạy học
khác nhau để tạo thành hệ phương pháp dạy - học tích cực. Điều này khẳng
định tính nguyên tắc khi sử dụng bất kỳ phương pháp dạy học nào đều không
thể tách rời việc sử dụng phương tiện dạy học.
• Có thể nêu một số ý nghĩa cơ bản thể hiện vai trò câu hỏi, bài tập
trong dạy học nh sau:
- Câu hỏi, bài tập dùng để mã hoá nội dung sách giáo khoa, khi đó
6
chúng là nguồn tri thức mới. Nếu giả thuyết sách giáo khoa được biên soạn ở

thể hiện trong câu trả lời, có những loại câu hỏi sau:
- Câu hỏi thu thập và tái hiện thông tin.
Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: Nhớ lại, kiểm kê, quan sát, kể
lại, lựa chọn.
- Loại câu hỏi xử lý hay tạo nghĩa cho thông tin.
Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: Giải thích, so sánh, phân tích,
tổ chức.
- Loại câu hỏi hoạt động ứng dụng hay đánh giá:
Loại câu hỏi này gồm những yêu cầu: áp dụng, dự báo, khái quát, đánh
giá.[10]
Câu hái trong các bài hình thành kiến thức tập làm văn chủ yếu là
những câu hỏi phân tích ngữ liệu theo định hướng của bài dạy. Bên cạnh đó
là những câu hỏi so sánh, giải thích, khái quát hoá để rót ra kiến thức tập
làm văn mà HS cần nắm vững (các câu hỏi, bài tập ở phần nhận xét).
Ở phần luyện tập, câu hỏi, bài tập thường yêu cầu vận dụng kiến thức
để nhận diện hoặc nói, viết thành đoạn, bài.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy học các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4 -
5
1.2.1.1. Những ưu điểm
Qua dự giờ và tìm hiểu tại một số trường tiểu học thuộc huyện Mỹ Đức,
tỉnh Hà Tây, chúng tôi nhận thấy thực tế dạy học các bài hình thành kiến thức
tập làm văn đã đáp ứng được phần nào yêu cầu đổi mới trong dạy học phân
môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. Học sinh tích cực,
8
hứng thú khi chính các em, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, khám phá những
đoạn văn, bài văn mẫu để tự rót ra được những kiến thức tập làm văn cần ghi
nhí.
1.2.1.2. Những hạn chế, khó khăn của giáo viên và học sinh
Trong những năm đầu dạy theo chương trình sách giáo khoa mới ở bất

các kĩ năng làm văn) sau đây:
a - Văn kể chuyện
- Thế nào là kể chuyện (trang 10 SGK, tuần 1, Tiếng Việt 4, tập 1).
- Nhân vật trong truyện (trang 13 SGK, tuần 1, Tiếng Việt 4, tập 1).
- Kể lại hành động của nhân vật (trang 20 SGK, tuần 2, Tiếng Việt 4, tập 1).
- Tả ngoại hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện (trang 23 SGK,
tuần 2, Tiếng Việt 4, tập 1).
- KÓ lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật (trang 32 SGK, tuần 3, Tiếng Việt
4, tập 1).
- Cốt truyện (trang 42 SGK, tuần 4, Tiếng Việt 4, tập 1).
- Đoạn văn trong bài văn kể chuyện (trang 53 SGK, tuần 5, Tiếng Việt
4, tập 1).
- Mở bài trong bài văn kể chuyện (trang 112 SGK, tuần 11, Tiếng Việt
4, tập 1).
- Kết bài trong bài văn kể chuyện (trang 122 SGK, tuần 12, Tiếng Việt
4, tập 1).
b - Văn miêu tả
• Các kiến thức về văn miêu tả được dạy ở lớp 4 gồm:
- Thế nào là miêu tả (trang 140 SGK, tuần 14, học kì I).
- Miêu tả đồ vật.
10
+ Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật (trang 143 SGK, tuần 14, học kì
I).
+ Quan sát đồ vật (cách quan sát) (trang 153 SGK, tuần 15, học kì I).
+ Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật (trang 169 SGK, tuần 17, HKI).
- Miêu tả cây cối:
+ Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối (trang 30 SGK, tuần 21, học kì II).
+ Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối (trang 52 SGK, tuần 23, HK II).
- Miêu tả con vật: Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (trang 10 SGK,
tuần 1, học kì I).

em sẽ hạn chế các lỗi về kiểu bài, về loại văn bản.
Tuy nhiên, nội dung các kiến thức làm cơ sở để rèn luyện các kĩ năng
làm văn trong sách giáo khoa chưa thật hợp lý. Chẳng hạn cách đưa các kiến
thức về lời nói, ý nghĩ, hành động của nhân vật trong bài văn kể chuyện như
sách giáo khoa dễ gây Ên tượng nặng nề về lý thuyết.
b. Nhận xét ngữ liệu hình thành kiến thức tập làm văn
b
1
. Ngữ liệu các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4-5 bao gồm
các văn bản nghệ thuật (Bài văn Bãi ngô, Hoàng hôn trên sông Hương, ),
văn bản truyền thông (Bài báo Vịnh Hạ Long được tái công nhận là di sản
thiên nhiên thế giới - Bài Tóm tắt tin tức, ), văn bản điều hành (văn bản
Biên bản đại hội chi đội - Bài Làm biên bản cuộc họp, ) và văn bản nhật
dụng (Phiếu khai báo tạm trú, tạm vắng, Thư chuyển tiền - Bài Điền vào giấy
tờ in sẵn, ).
b
2
. Ngữ liệu ở một số bài gắn bó với chủ điểm của tuần học và được lấy
từ những bài tập đọc, kể chuyện, chính tả đã học. Chẳng hạn, ở lớp 4, gắn với
chủ điểm Thương người như thể thương thân, học sinh được làm quen với
12
văn kể chuyện với vật liệu mẫu là câu chuyện Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Sự
tích hồ Ba Bể (là bài tập đọc, kể chuyện đã dùng trong chủ điểm). Ở líp 5,
gắn với chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em, học sinh được làm quen với văn tả
cảnh với bài mẫu là văn bản Quang cảnh làng mạc ngày mùa (là bài tập đọc
đã dùng trong chủ điểm), Điều này giúp học sinh có nhiều thuận lợi trong
quá trình khảo sát bởi các em đã được tìm hiểu nội dung các bài đó trong các
giờ học trước. Việc lấy ngữ liệu từ các bài tập đọc, kể chuyện, chính tả đã học
còn thể hiện tính tích hợp trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
b

chúng, giao hẹn ai thu hoạch được nhiều thóc thì sẽ truyền ngôi cho.
- Sự việc 2 (Có chú bé mồ côi chẳng nảy mầm): Chú bé Chôm nhận
thóc, dốc công chăm sóc mà thóc chẳng nảy mầm.
- Sự việc 3 (Đến vụ thu hoạch thóc giống của ta): Mọi người nộp
thóc, Chôm tâu sự thật, vua nói việc thóc giống đã được luộc chín.
- Sự việc 4 (Đoạn còn lại): Nhà vua khen ngợi Chôm trung thực, dũng
cảm, quyết định truyền ngôi cho Chôm.
Học sinh dễ dàng xác định được sự việc chính thứ nhất và thứ hai bởi
vì hai sự việc này dễ nhận biết, được kể thành hai đoạn văn rõ ràng.
Hai sự việc 3 và 4, học sinh khó xác định hơn, đặc biệt là sự việc 3 bởi
vì nó gồm nhiều sù việc nhỏ. Hơn nữa, đoạn văn thứ ba lại có những lời thoại,
phải xuống dòng nhiều lần mới hết đoạn do đó học sinh cũng khó xác định
đoạn văn thứ ba của bài. Điều này chưa thật phù hợp với ghi nhớ của bài (Mỗi
sự việc được kể thành một đoạn văn).
Ví dô 3: Bài Thế nào là miêu tả, bài mẫu là một đoạn văn tả cảnh.
Trong khi đó, ghi nhớ của bài là "Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm
nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình
dung được các đối tượng Êy". Như vậy, bài văn không tả đặc điểm của người,
của vật. Do đó, khi rót ra ghi nhớ, học sinh chỉ nêu được một vế nhỏ là tả đặc
điểm của cảnh. Có những học sinh còn lầm tưởng miêu tả chỉ là tả cảnh
14
không thôi chứ không tả người, vật. Trên thực tế, giáo viên có thể kết luận bổ
sung để ghi nhớ của bài được đầy đủ nhưng làm như vậy bài học mang tính
chất áp đặt. Một điều nữa dễ khiến cho học sinh nhầm lẫn đó là câu văn “Một
làn gió rì rào chạy qua, những chiếc lá rập rình lay động như những đốm lửa
vàng, lửa đỏ bập bùng cháy”. Ở đây, “những chiếc lá” chính là lá sòi và lá
cơm nguội nhưng HS lại lầm tưởng đó là một sự vật được miêu tả trong bài.
Ví dô 4: Bài Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật, bài mẫu Cái cối tân
rất hay, có cấu tạo rõ ràng, phù hợp với kiến thức ghi nhí. Tuy nhiên, cái cối
xay gạo là đồ vật đã lâu người nông dân ở đồng bằng Bắc Bộ không dùng.

(2) Nếu chúng ta chấp nhận đoạn 1 của bài văn là phần mở bài nh giáo
viên hướng dẫn học sinh trong thực tế dạy học hiện nay thì đoạn văn có
những điểm sau chưa phù hợp:
Giữa phần mở bài và phần thân bài của bài văn không có sự cân đối cả
về nội dung và hình thức. Mở bài của bài văn có 4 câu, thân bài cũng có 4 câu.
Để cấu tạo nên một bài văn, cả hai phần mở bài và thân bài đều quan trọng.
Tuy nhiên, chúng ta thường dạy cho học sinh tiểu học phần thân bài có nội
dung lớn hơn, hình thức đoạn văn dài hơn phần mở bài. Ngoại trừ những bài
văn dành cho học sinh ở các bậc học cao hơn.
Theo ghi nhớ của bài: Mở bài: Tả (bao quát) hoặc giới thiệu bao quát
về cây thì đoạn 1 của bài văn này lại tả tương đối cụ thể về cây ngô giai đoạn
còn bé đến lúc đã lớn do đó đoạn văn này chưa tiêu biểu.
(3) Có tác giả cho rằng đoạn ba của bài văn là một cách kết bài tự
nhiên. Tuy nhiên, đối với học sinh tiểu học cần rõ ràng, tiêu biểu. Do đó, nếu
đối chiếu nội dung đoạn văn thứ ba với nội dung cần ghi nhí (cho phần kết
bài) thì đoạn văn này chưa thực sự phù hợp.
16
Ví dô 6

: Bài "Cấu tạo của bài văn tả cảnh" - líp 5 (bài mẫu: Hoàng
hôn trên sông Hương), theo chúng tôi, ngữ liệu của bài dạy có những điểm
chưa phù hợp nh sau:
(1) Bài văn này dài về dung lượng, học sinh mất nhiều thời gian để tìm
hiểu trong khi thời lượng của một tiết học hạn chế. Do đó, thời gian để học
sinh luyện tập không nhiều.
Bài văn có nhiều chi tiết nghệ thuật, học sinh tiểu học chưa đủ năng lực
để cảm thụ.
Bài văn mang tính nghệ thuật cao, khó hiểu đối với học sinh tiểu học.
(2) Phần thân bài của bài văn
Ghi nhí cho phần thân bài của bài văn tả cảnh trong sách giáo khoa là

phần kết bài của bài văn tả cảnh nói chung.
Có thể nói rằng, Hoàng hôn trên sông Hương là một bài văn hay.
Nhưng để khám phá và rót ra được kiến thức cần ghi nhớ chứa đựng trong đó,
đối với trình độ học sinh líp 5, quả là khó khăn, phức tạp.
c. Nhận xét câu hỏi, bài tập ở các bài hình thành kiến thức tập làm văn
c
1
. Yêu cầu của câu hỏi, bài tập ở các bài hình thành kiến thức tập
làm văn
Phần nhận xét các bài hình thành kiến thức tập làm văn lớp 4-5 gồm
một hệ thống câu hỏi, bài tập gợi ý HS khảo sát ngữ liệu để tự rót ra kiến thức
cần ghi nhí. Do đó, yêu cầu cơ bản của các câu hỏi, bài tập ở phần này là phải
rõ ràng, dễ hiểu, vừa sức đối với HS. Đặc biệt, các câu hỏi ở phần này còn
phải giúp HS khai thác đúng trọng tâm nội dung kiến thức chứa đựng trong
ngữ liệu, định hướng cho HS đi đến kiến thức cần ghi nhớ của bài. Chúng
phải tạo thành một hệ thống mà qua đó học sinh dần dần hình thành khái niệm
18
một cách tự nhiên thông qua con đường quy nạp.
Phần luyện tập gồm từ một đến ba bài tập thực hành đơn giản. XÐt về
mục đích, có thể chia các bài tập luyện tập thành hai nhóm: các bài tập củng cố
kiến thức (chủ yếu là bài tập nhận diện) và các bài tập rèn luyện kĩ năng vận
dụng các khái niệm vừa học (bài tập vận dụng). Các bài tập này được sắp xếp từ
dễ đến khó, từ thấp đến cao, trong đó mức độ dễ nhất là nhận diện các kiến thức
ở phần ghi nhớ. Mức độ khó hơn là các bài tập thực hành sử dụng các kiến thức
ghi nhớ vào việc rèn kĩ năng sản sinh văn bản như: viết đoạn văn, lập dàn ý cho
một kiểu bài, kể chuyện theo tình huống hoặc cốt truyện cho sẵn, kể lại câu
chuyện đã học kết hợp miêu tả,…Lệnh bài tập cần phải rõ ràng, bài tập trước là
cơ sở cho bài tập sau. Có nh vậy, học sinh mới nắm vững bài học. Ngoài tác
dụng củng cố kiến thức đã học, các bài tập luyện tập còn có tác dụng hệ thống
hoá và khái quát hoá những kiến thức đó, rèn luyện các thao tác tư duy lôgic

dùng từ Vì sao.
Bài tập 2: Cho tình huống sau: Một bạn nhỏ vui đùa, chạy nhảy, lỡ làm
ngã một em bé. Em bé khóc.
Em hãy hình dung sự việc và kể tiếp câu chuyện theo mét trong hai
hướng sau đây:
- Bạn nhỏ nói trên biết quan tâm đến người khác.
- Bạn nhỏ nói trên không biết quan tâm đến người khác.
Ở bài tập này, từ ngữ người khác dùng chưa cụ thể, chính xác. Có
những học sinh không hiểu người khác ở đây là ai.
Ví dô 3: Bài Kể lại hành động của nhân vật
Bài tập 2 (phần nhận xét): Ghi vắn tắt những hành động của cậu bé bị
điểm không trong truyện Bài văn bị điểm không. Theo em, mỗi hành động
của cậu bé nói lên điều gì?
Ở bài tập này, câu hỏi Theo em, mỗi hành động của cậu bé nói lên điều
gì chưa rõ ràng khiến học sinh khó trả lời.
20
Ví dô 4: Bài Tả ngoại hình nhân vật trong bài văn kể chuyện
Bài tập 2 (phần luyện tập): Kể lại câu chuyện Nàng tiên Èc kết hợp tả
ngoại hình của các nhân vật.
Mặc dù học sinh đã kể bằng lời của mình câu chuyện Nàng tiên Èc
trong giờ kể chuyện, các em đã nắm được tình tiết, cốt truyện nhưng bài tập
này đối với các em vẫn khó và dài bởi lẽ:
- Bài tập không có câu hỏi hướng dẫn.
- Trong mét khoảng thời gian ngắn như vậy, học sinh vừa phải kể lại
toàn bộ câu chuyện vừa phải kết hợp tả ngoại hình của các nhân vật. Điều này
dễ gây áp lực nặng nề cho học sinh.
- Câu chuyện có ba nhân vật: bà cụ, con ốc và nàng tiên. học sinh phải
kết hợp miêu tả ngoại hình của cả ba nhân vật. Điều này tương đối khó bởi
khi miêu tả, học sinh phải chọn những nét tiêu biểu nhất của nhân vật, phải
chắt lọc câu, từ và phải chọn thời điểm thích hợp để tả.

Bài tập 1: Tìm những câu văn miêu tả trong truyện Chú Đất Nung.
Lệnh bài tập này không cụ thể làm HS mất nhiều thời gian không cần thiết.
Câu chuyện Chú Đất Nung rất dài, bao gồm hai phần ở hai trang xa nhau do đó
HS không tiện quan sát để tìm câu văn miêu tả. Hơn nữa, toàn bộ câu chuyện chỉ
có một câu văn miêu tả chú Đất Nung ở phần đầu câu chuyện mà thôi.
Ví dô 8: Học sinh cũng gặp những khó khăn và sai sót khi trả lời các câu
hỏi và bài tập phần nhận xét của bài Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối.
• Câu hái 2: Đọc lại bài "Cây mai tứ quý". Trình tự miêu tả trong bài
Êy có điểm gì khác bài "Bãi ngô"?
Để so sánh được sự khác nhau trong trình tự miêu tả ở hai bài văn, học
sinh phải tìm hiểu trình tự miêu tả ở mỗi bài (tức là phải xác định cấu tạo ba
phần và nội dung từng phần ở mỗi bài văn). Trong khi đó, sách giáo khoa và
22
sách giáo viên chỉ đặt ra yêu cầu xác định đoạn văn và nội dung từng đoạn ở
hai bài văn sau đó so sánh sự khác nhau trong trình tự miêu tả. Làm như vậy
chưa rõ ràng, cụ thể bởi học sinh líp 4 mới được làm quen với lý thuyết về
cấu tạo một bài văn.
Do ba đoạn văn của bài Bãi ngô tả cây ngô ở ba giai đoạn phát triển nối
tiếp nhau cho nên khi so sánh, học sinh gặp những khó khăn và sai sót sau:
+ So sánh cho phần mở bài.
Mở bài (đoạn 1) của bài Bãi ngô, tác giả tả cụ thể bãi ngô khi cây còn
nhỏ và mới lớn (tả giai đoạn phát triển thứ nhất của cây ngô). Còn mở bài của
bài Cây mai tứ quý, tác giả lại giới thiệu bao quát về cây mai. Nh vậy, cách
mở bài ở hai bài văn khác nhau. Điều này khiến học sinh khó rót ra một nhận
xét chung cho phần mở bài của bài văn miêu tả cây cối.
Ở đoạn 1 của bài Bãi ngô, tác giả có giới thiệu bao quát về bãi ngô
nhưng chỉ là một ý rất nhỏ trong đoạn. Điều này dễ khiến học sinh mắc sai sót
khi rót ra một điểm chung rằng phần mở bài ở cả hai bài văn đều giới thiệu
bao quát về cây sẽ tả (trong khi chỉ có một bài Cây mai tứ quý).
+ So sánh cho phần thân bài.

bài, thân bài, kết bài trong bài văn tả cảnh), học sinh phải nắm được nội dung
các phần của bài văn này.
Bài tập không đặt ra yêu cầu nêu thứ tự miêu tả của bài Hoàng hôn
trên sông Hương nhưng để trả lời được bài tập 2 (so sánh thứ tự miêu tả ở
hai bài văn) học sinh phải nắm được thứ tự miêu tả của bài văn này.
Nếu giáo viên không hướng dẫn, gợi ý cụ thể, học sinh sẽ gặp nhiều
khó khăn và chỉ trả lời yêu cầu bài tập đặt ra mà thôi.
Bài tập 2
24
(1) Về ngữ liệu của bài tập:
Bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa không có phần kết bài do đó khi
nhận xét cấu tạo ba phần của bài văn tả cảnh, học sinh sẽ có những băn khoăn
vì bài Hoàng hôn trên sông Hương thì có cấu tạo ba phần còn bài Quang
cảnh làng mạc ngày mùa chỉ có hai phần.
(2) Về yêu cầu của bài tập:
Yêu cầu của bài tập là: Thứ tự miêu tả trong bài văn trên có gì khác với
bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa mà em đã học? Từ hai bài văn đó, hãy
rót ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh.
Câu hỏi này rất khó, lại không gợi ý. Để trả lời được học sinh phải thực
hiện nhiều thao tác:
+ Tìm hiểu cấu tạo của bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa, nội dung
chính của các phần trong bài văn này từ đó mới rót ra được nhận xét về cấu
tạo của bài văn tả cảnh nói chung.
+ Nắm được thứ tự miêu tả của bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa
mới sánh được sự khác nhau ở hai bài văn.
Như vậy, nếu không được hướng dẫn cụ thể các thao tác theo một trình
tự lôgíc, hệ thống câu hỏi phù hợp, học sinh có thể rót ra cÊu tạo của bài văn
tả cảnh gồm ba phần nhưng rất khó để bật ra nội dung chính của mỗi phần
trong bài văn. Những công việc này sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn nếu ngữ liệu
tiêu biểu, phù hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status