SKKN KINH NGHIỆM sử DỤNG kết hợp các PHƯƠNG TIỆN và PHƯƠNG PHÁP dạy học vào GIẢNG dạy bài “cảm xúc mùa THU”(THU HỨNG) của đỗ PHỦ SGK NGỮ văn 10 BAN cơ bản - Pdf 50

MỤC LỤC
TÊN ĐẦU ĐỀ

TRANG

1.MỞ ĐẦU..............................................................................................................
1
1.1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................
1
1.2. Mục đích nghiên cứu........................................................................................
3
1.3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................
3
1.4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................
4
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ......................................................
4
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.........................................................
4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm..........................
6
2.3. Sáng kiến kinh nghiệm ....................................................................................
8
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường ...........................................................................
17
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ..................................................................................
19
3.1.Kết luận ............................................................................................................
19
3.2. Kiến nghị .........................................................................................................

bắt chước - đó là một tư tưởng quan trọng, kiên quyết và mạnh mẽ;
Trong quá trình dạy học văn, chúng ta không chỉ dạy những tác phẩm văn
học trong nước mà còn dạy những tác phẩm văn học nước ngoài. Bởi “văn học
là lịch sử tâm hồn của mỗi dân tộc” và việc dạy và học những tác phẩm văn học
nước ngoài đó không chỉ giúp học sinh hiểu biết thêm về đời sống tâm hồn của
các dân tộc mà còn giúp các em tiếp thu được tri thức của các nền văn hóa trên
thế giới, từ đó góp phần bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của mình, vì dù cho có
khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa thì văn học các dân tộc đều có nét chung là
hướng tới Chân, Thiện, Mĩ, giúp con người sống tốt hơn, nhân ái hơn. Từ đó
giúp học sinh nâng cao khả năng tự tin khi bước vào thời kì hội nhập.
Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, việc dạy và học văn học nước ngoài vẫn
bị xem nhẹ, một phần là do chúng ta tiếp cận các tác phẩm từ các bản dịch và
đương nhiên các bản dịch dù ít nhiều cũng không thể chuyển tải được một trăm
1


phần trăm nguyên bản tác phẩm nên chúng ta khó cảm nhận được cái hay, cái
đẹp của văn bản. Mặt khác, mỗi dân tộc đều có một đời sống văn hóa riêng nên
khiến chúng ta cảm thấy xa lạ khi tiếp cân tác phẩm. Hơn thế nữa là, do trong
các bài kiểm tra trên lớp, đặc biệt là đề thi Ngữ văn của các kì thi trung học phổ
thông quốc gia hiện nay không thi phần văn học nước ngoài nên cả giáo viên và
học sinh đều không chú trọng đến phần này.Tôi nghĩ đây là một điều đáng tiếc.
Một trong những phần văn học nước ngoài được đề cập nhiều nhất trong
sách giáo khoa (cả THCS và THPT) là thơ Đường. Riêng trong chương trình
Ngữ văn lớp 10, chúng ta có đến 5 văn bản thơ Đường ( trong đó 2 văn bản học
chính thức và 3 văn bản đọc thêm) và chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng thơ
Đường đã ảnh hưởng sâu rộng đến văn học nước ta như thế nào. Bất cứ về là về
phương diện chọn đề tài, xây dựng hình ảnh, cấu tạo tứ thơ, sử dụng ngôn ngữ ...
Thơ Đường đều đã cung cấp cho các nhà thơ Việt Nam những chất liệu sống
động, những gợi ý quý báu. Truyền thống hiện thực, nhân đạo của thơ Đường đã



một bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học. Do yêu cầu tăng
hoạt động thực hành, nên khi xây xây dựng chương trình cần đặt đúng vị trí của
thiết bị dạy học bộ môn. Có thể nói, thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu
được cho việc triển khai chương trình sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho
việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực,chủ
động của học sinh. Đáp ứng yêu cầu này, phương tiện, thiết bị dạy học phải tạo
điều kiện thuận lợi cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt
động nhóm.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, hầu hết các nhà
trường đều được trang bị hệ thống máy vi tính, máy chiếu để phục vụ cho công
tác giảng dạy đạt chất lượng tốt hơn. Vì thế chúng ta cần tận dụng tối ưu các
thiết bị hiện đại này.
Sau nhiều năm giảng dạy, tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi để sử dụng các
phương tiện dạy học tốt hơn.Cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạy thì
việc sử dụng phương tiện đã giúp cho tôi có các tiết dạy trên lớp đạt hiệu quả
cao hơn, đặc biệt là các tiết dạy về thơ Đường. Từ đó, tôi đã tự tích lũy cho mình
một số kinh nghiệm nhỏ về việc sử dụng kết hợp các thiết bị, phương tiện dạy
học và các phương pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy các tiết đọc văn, cụ
thể là bài học “Cảm xúc mùa thu” (Thu hứng) của tác giả Đỗ Phủ. Bài học này
được học trong thời gian một tiết học.
1.2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi viết đề tài này tôi có mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình
vào sự thành công chung của tiết dạy và vào lĩnh vực nghiên cứu này. Đồng
thời, qua đề tài này tôi muốn được lắng nghe, tham khảo ý kiến của các đồng
nghiệp để đề tài của tôi hoàn thiện hơn, cũng như hoàn thiện hơn phương pháp
giải dạy của mình.
Đồng thời qua đề tài này tôi cũng mong muốn lồng ghép nội dung rất thực
tế là rèn luyện kĩ năng sống, lòng yêu nước cho HS, giúp HS rút ngắn khoảng

với tư cách là những phương tiện tổ chức đều khiển hoạt động nhận thức của
người học nhằm đạt mục tiêu dạy học.
Phương tiện dạy học là toàn bộ các phương tiện mang tin, phương tiện
truyền tin và phương tiện tương tác trong sự hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy
học.
Ví dụ: sách giáo khoa, bảng viết, tranh ảnh, phim, các đoạn clip, máy
chiếu...
2.1.2 Vai trò của phương tiện dạy học
- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn.
Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề
ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng.
- Phương tiện dạy học giúp là sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng
thú học tập bộ môn.
- Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức,
đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra
những kết luận có độ tin cậy ... ).
- Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học. Giúp
giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh
giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao.
2.1.3 Khái niệm về phương pháp dạy học
- Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp (Methodos) có nghĩa là
con đường để đạt mục đích. Theo đó, phương pháp dạy học là con đường để đạt
mục đích dạy học.
- Phương pháp dạy học là một hệ thống hành động có mục đích của giáo
4


viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học
sinh lĩnh hội nội dung học vấn.
- Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

của văn bản, lúc đó mới có thể đọc diễn cảm được và ngược lại, đọc diễn cảm
văn bản cũng chính là cách giúp học sinh hiểu sâu hơn về văn bản.
* Phương pháp nêu vấn đề:
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp dạy
học mà ở đó giáo viên là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều khiển
học sinh phát hiện vấn đề, học sinh tích cực, chủ động, tự giác giải quyết vấn đề
5


thông qua quá trình đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, nhằm đạt được mục
tiêu dạy học.
- Ở phương pháp này, học sinh tích cực, chủ động, tự giác tham gia hoạt
động học, tự mình tìm ra tri thức cần học chứ không phải được thầy giảng giải
một cách thụ động, học sinh là chủ thể sáng tạo ra hoạt động học. Học sinh
không những được học nội dung học tập mà còn được học con đường và cách
thức tiến hành dẫn đến kết quả đó. Học sinh học được cách phát hiện và giải
quyết vấn đề.
* Phương pháp phân tích, bình giảng:
- Phương pháp phân tích là phân chia các vấn đề cần bàn luận thành các
bộ phận để có thể xem xét một cách cặn kẽ và kĩ càng. Trong việc giảng dạy đọc
hiểu văn bản văn học, cần phải có sự phân tích, chia nhỏ vấn đề để đi sâu vào
từng khía cạnh của tác phẩm nhằm mục đích hiểu được những tầng ý nghĩa của
văn bản và dụng ý của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm.
- Còn phương pháp bình giảng để thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm
văn học, đem đến cho học sinh những xúc cảm thẩm mĩ, và thêm yêu, thêm quý
tác phẩm văn học.
- Có thể nói trong việc dạy học môn ngữ văn không thể thiếu được
phương pháp phân tích, bình giảng bởi nếu không có phân tích, bình giảng sẽ
không thấy được ý đồ nghệ thuật của nhà văn cũng như những sáng tạo độc đáo
và tài năng của tác, thấy được những thành công của tác giả trong việc điều

Điều tra bất kỳ 10 em thì có : 4 em hiểu bài, 3 em không rung động với nội
dung bài học, 3 em cho rằng câu hỏi giáo viên đặt ra rất khó.
- Bài thơ Thu hứng (cảm xúc mùa thu) là bài đầu trong chùm thơ Thu hứng
của Đỗ Phủ. Đây là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Đỗ Phủ nói riêng và
thơ Đường nói chung. Ta thấy tác giác đã vẽ nên bức tranh phong cảnh mùa thu
tại kẽm Vu (Vu Hiệp) thuộc núi Vu Sơn với cảnh sắc tiêu sơ vắng lạnh và đầy
hiểm nguy; từ đó mà biểu lộ nỗi lòng đau thương của người chạy loạn, nỗi u
hoài da diết về quê hương. Ở đây, ta thấy tình và cảnh hòa quện đến kỳ lạ, lời
thơ thì thảm đạm mà ý cảnh thì hùng tráng; thêm nữa, âm điêu mạnh mẽ, câu
chữ tinh luyện đã làm cho vần thơ có sức biểu hiện thật là cao.
- Tuy nhiên, cũng giống như nhiều bài thơ Đường khác, dạy Cảm xúc mùa
thu thực chất là dạy bản dịch thơ và “Dịch tất phản”, dịch thơ rất khó, dịch thơ
Đường lại càng khó hơn. Bản dịch của Nguyễn Công Trứ đã rất đạt nhưng còn
có một vài chỗ dịch chưa hết ý, chưa thể hiện được trọn vẹn các hàm nghĩa và
đặc sắc nghệ thuật của nguyên tác. Thêm nữa, do tính chất đặc biệt cô đọng của
bài Thu hứng cộng với những khoảng cách về không gian, thời gian sự khác biệt
về hoàn cảnh xã hội, văn hóa sẽ là những trở ngại không nhỏ đối với học sinh.
Đây là bài thất ngôn bát cú đường luật đầu tiên của Trung Quốc mà học sinh
được học trong chương trình (ở trung học cơ sở, học sinh được học và đọc thêm
ba bài thất ngôn tứ tuyệt, một bài ngũ ngôn tứ tuyệt). Vì thế học sinh sẽ không
tránh khỏi những bỡ ngỡ nhất định khi vận dụng những kiến thức về luật thơ
Đường để hiểu về bài thơ này.
- Vì vây, tôi thiết nghĩ cần phải giúp các em từ chỗ còn hiểu biết, mơ hồ,
nông cạn về bài thơ Cảm xúc mùa thu nói riêng và thơ Đường nói chung, cần
phải hiểu thật đúng, thật sâu sắc về tác phẩm này để thấy được tính chất cô
đọng, hàm súc, “lời ít ý nhiều”và cách biểu hiện tư tưởng, tình cảm của nhà thơ
trong tác phẩm cũng như nghệ thuật tinh tế, điêu luyện của tác giả.
- Để tiết học được sinh động hấp dẫn hơn, học sinh học bài được hứng
thú, say mê và nắm bắt tinh thần của bài học một cách đúng đắn và sâu sắc nhất,
tôi đã suy nghĩ và quyết định sử dụng phương tiện điện tử có sử dụng các hình

I.TÌM HIỂU PHẦN TIỂU DẪN – GIỚI THIỆU CHUNG
1. Tìm hiểu về tác giả:
- Để tạo tâm thế học tập tốt cho học sinh, giáo viên cho học sinh xem lại
chân dung Đỗ Phủ và hình ảnh căn nhà tranh của Đỗ Phủ ở Ba Thục (Tứ
Xuyên).
- Giáo viên có thể trình chiếu các ý sau để giúp học sinh thấy được ngay vị
trí của nhà thơ Đỗ Phủ:
+ Đỗ Phủ là nhà thơ được Hội đồng Hòa bình thế giới kỉ niệm như một
danh nhân văn hóa thế giới.
+ Ông được nhân dân Trung Quốc mệnh danh là “thi thánh”(Thánh thơ).
+ Ông la nhà thơ đã được chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc tới trong Di chúc và
8


đánh giá là “một người làm thơ rất nổi tiếng”.
+ Nguyễn Du đã tôn vinh Đỗ Phủ là “Thiên cổ văn chương thiên cổ sư”
(Bậc thầy muôn đời của văn chương muôn đời)
- Từ những ý hình ảnh và những ý trên,giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào
phần tiểu dẫn trong sách giáo khoa trình bày lại cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của
tác giả.
- Học sinh nêu các nét chính:
+ Đỗ Phủ (712-770) tự là Tử Mĩ, quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, xuất
thân trong một gia đình có truyền thống nho học và thơ ca lâu đời.
+ Cả cuộc đời ông chủ yếu sống trong nghèo khổ, lưu lạc, cuối đời chết
trong bệnh tật.
+ Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, được người Trung
Quốc mệnh danh “Thi thánh”. Là danh nhân văn hóa thế giới.
+ Thơ Đỗ Phủ hiện còn khoảng 1500 bài được gọi là “Thi sử” (lịch sử
bằng thơ chứa chan tình yêu nước và nhân đạo; nghệ thuật điêu luyện, phong
cách trầm uất.

- Giáo viên cung cấp kiến thức: Thu hứng là bài thơ đầu tiên trong chùm
thơ tám bài cùng tên, thường được coi là cương lĩnh của cả chùm thơ. Cương
lĩnh đó có thể tóm tắt trong tám chữ: “thân ở Quỳ Châu, lòng tại Trường An”.
Hướng về kinh đô là một biểu hiện của lòng yêu nước của nhà thơ. Trong bài
này, điều đó tập trung biểu hiện ở ba chữ “cố viên tâm” ở câu 6. “Lòng hướng về
vườn cũ” tức “lòng hướng về cố đô”. Ý đó đã được Đỗ Phủ triển khai ngay
trong hai câu đầu của bài Thu hứng 2:
Quỳ phủ cô thành lạc nhật tà
Mỗi y Bắc Đẩu vọng kinh hoa
(Thành phủ Quỳ Châu đứng trơ vơ, Mặt trời đã xế lặn - ta luôn luôn nương sao
Bắc Đẩu để ngóng về kinh đô).
c, Đọc văn bản:
- Giáo viên nêu yêu cầu cách đọc: trừ hai câu 3 - 4 giọng đọc cần mạnh mẽ,
các câu còn lại đọc bằng giọng chậm rãi, trầm lắng da diết, nhịp thơ 4/3 hoặc
2/2/3. Khi đọc hãy hình dung hoàn cảnh của người đang phải xa quê, muốn về
mà không về được.
- Giáo viên gọi học sinh đọc toàn bài cả phần phiên âm, bản dịch nghĩa,
bản dịch thơ. Giáo viên yêu cầu một học sinh đọc chú thích liên quan đến từng
cầu dịch nghĩa trong sách giáo khoa trang 146.
d, Thể thơ và bố cục:
- Giáo viên yêu cầu học sinh xác định thể thơ trong nguyên tác và trong bản
dịch thơ.
- Học sinh xác định: thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
- Giáo viên nêu vấn đề và hỏi: Với thể thơ ấy, có thể chia bài thơ theo cấu
trúc chung, phổ biến của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Lại cũng có thể
chia bài thơ thành hai phần để phân tích: 4 câu đầu (tiền giải) thường nặng cảnh
nhẹ tình; 4 câu cuối (hậu giải) thường nặng tình nhẹ cảnh. Anh, chị chọn cách
phân chia nào để tiếp cận, đi sâu tìm hiểu nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ
thuật của bài thơ? (giáo viên đã cung cấp kiến thức này trong bài Tại lầu Hoàng
Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng - Lý Bạch).

+ Cảnh thu trong 4 câu thơ đầu là ở Quỳ Châu (Tứ Xuyên - Ba Thục, miền
núi phía Tây Trung Quốc, thượng nguồn sông Trường Giang).
+ Trong hai câu đề cảnh thu hiện lên qua các hình ảnh: sương móc trắng
xóa khiến cho rừng phong xơ xác tiêu điều; ở vùng núi Vu Sơn, thuộc thượng
lưu sông Trường Giang khí thu hiu hắt.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh đối chiếu bản dịch thơ với nguyên
tác trong hai câu đầu và giảng giải: ở câu thơ thứ nhất, bản dịch thơ chưa thể
hiện hoàn toàn đúng ý của nguyên tác. “Sương móc” không phải “sa lác đác”
mà “làm tiêu điều cả rừng cây phong”. “Rừng phong” không phải là trạng ngữ
chỉ nơi chốn (nhưng trong bản dịch thơ) mà là đối tượng bị “sương móc” làm
cho “tiêu điều”, bị “sương móc” vùi dập một cách tàn nhẫn. Cấu trúc ngữ pháp
này đã gián tiếp cho thấy sương ở rất dày đặc bởi chỉ có như thế nó mới làm tiêu
điều, thương tổn cả rừng cây phong. Cảnh thu, do đó, mà mỗi rõ cái lạnh lẽo bên
cái xơ xác tiêu điều.
- Giáo viên đặt câu hỏi: nếu đưa ra nhận xét cho bức tranh mùa thu ở hai
câu đề, anh, chị có thể dùng những từ ngữ nào để thâu tóm được linh hồn của
11


bức tranh thu ?
- Học sinh suy nghĩ trả lời:
+ Hai câu đề là bức trành mùa thu ở vùng rừng núi, được gói lại trong tám
chữ: lạnh lẽo, xơ xác, tiêu điều, hiu hắt.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc và cảm nhận hai câu thực và tìm những
hình ảnh miêu tả về cảnh thu trong hai câu thực.
- Học sinh suy nghĩ trả lời:
+ Cảnh thu trong hai câu thực được miêu tả: trên sông, những con sóng
mạnh đập vào vách đá rồi vọt tung lên lưng trời; trên cửa ải, những đám mây
nặng nề sa xuống mặt đất âm u.
- Giáo viên có thể phân tích: Đó là cảnh thu được “quét” từ lòng sông lên

- Giáo viên nêu vấn đề: Trong cảnh ấy vẫn ngầm ngụ tình của người viết,
thu cảnh cũng là thu tâm. Vậy đó là cảm xúc gì, tâm trạng gì của thi nhân?
- Học sinh căn cứ vào các hình ảnh thơ, cách miêu tả để suy ngẫm và suy
luận, phát biểu ý kiến:
+ Đó là nỗi buồn lo và sự bất an của nhà thơ trước hiện thực tiêu điều, u
ám, chao đảo của đất nước lúc bấy giờ.
3, Bốn câu thơ cuối
- Giáo viên gọi một học sinh đọc lại bốn câu thơ cuối, cả phiên âm, dịch
thơ và dịch nghĩa.
- Giáo viên hỏi: Hai câu luận trong thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
thường sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Hai câu này đóng vai trò gì trong bài?
- Học sinh trả lời: Trong hai câu 5-6 thường sử dụng phép đối: đối ý, đối
từ, đối thanh. Hai câu 5-6 trong bài thơ này tiêu biểu cho tinh thần của Cảm xúc
mùa thu số 1 và ba chữ “cố viên tâm” được xem là “nhãn tự”- nơi tập trung
linh hồn của cả chùm thơ Cảm xúc mùa thu.
- Giáo viên nêu vấn đề (dành cho học sinh khá, giỏi): so với bốn câu đầu,
cảnh thu ở đây có gì khác ? Điều đó cho thấy tầm nhìn của tác giả đã có sự thay
đổi như thế nào trong bốn câu thơ cuối, nhất là hai câu 5-6 ? Vì sao có sự thay
đổi ấy? (giáo viên lưu ý học sinh sự vận động của tứ thơ thường thấy trong bài
bát cú).
- Học sinh suy nghĩ và trả lời:
+ Nếu bốn câu đầu là cảnh thu ở xa, thì bốn câu thơ cuối là cảnh thu gần,
không gian thu cận kề (khóm cúc, con thuyền). Không chỉ có cảnh mà còn có âm
thanh, có hình ảnh, có sự sống của con người (bốn câu đầu chỉ có tình người
mà không có hình ảnh con người) và đặc biệt là sự xuất hiện rõ nét của nhân
vật trữ tình với những nỗi niềm tâm sự ( lệ, tâm) trong bài thơ.
+ Như vậy, tầm nhìn của nhà thơ đã thay đổi từ không gian xa rút về không
gian gần rồi “lặn” vào không gian tâm tưởng (lệ, tâm). Những thay đổi này đã
cho thấy sự vận hành của tứ thơ là từ cảnh đến tình.
- Giáo viên nêu vấn đề: Vậy, hãy tìm hiểu “tình” của nhà thơ trong hai câu

cho những ngày nghèo đói, phiêu bạt.
- Giáo viên yêu cầu học sinh hãy đối chiếu giữa nguyên tác và phần dịch
thơ để tìm ra chỗ dịch giả đã chưa chuyển dịch được từ ngữ và hình ảnh trong
câu thơ thứ 6 của bài thơ. Từ sự đối chiếu ấy, anh, chị đã hiểu rõ hơn điều gì về
cảnh ngộ và tâm sự sâu kín của tác giả?
- Học sinh đối chiếu đánh giá:
+ Dịch giả Nguyễn Công Trứ đã bỏ qua chữ “cô” nghĩa là cô đơn, lẻ loi.
Đây không phải là con thuyền bình thường mà là “cô chu” (con thuyền lẻ loi).
Hình ảnh này gợi cảnh ngộ lẻ loi, cô đơn của nhà thơ và gia đình nơi đất khác
quê người. Nỗi buồn vì thế mà tăng thêm.
+ “Cố viên tâm” nghĩa là tấm lòng nhớ nơi vườn cũ, nhưng dịch giả viết
là “mối tình nhà” thì mới nói được nỗi nhớ quê nhà mà chưa thể hiện được tình
ý sâu kín của tác giả: nhớ nước- đất nước của thời thái bình thịnh trị.
- Giáo viên cũng nhấn mạnh: Công việc dịch thơ rất khó khăn, đặc biệt là
dịch thơ Đường, dịch giả dù tài giỏi vẫn có những chỗ chưa có thể thể hiện được
hết ý nghĩa nội dung của nguyên tác.
- Giáo viên có thể mở rộng để học sinh hiểu thêm: Nhà thơ Đỗ Phủ có
vườn cũ (cố viên) ở Lạc Dương, nên nỗi lòng quê cũ trước hết là nỗi nhớ Lạc
Dương, nhớ Đông Đô, một trong những kinh đô của không ít triều đại phong
kiến Trung Quốc. Song đặt trong văn cảnh của cả chùm thơ Thu hứng - cả bảy
bài sau đều chỉ nói đến nỗi nhớ Trường An, còn gọi là Tây Đô (kinh đô nhà
Đường) thì đây chính là cách nói kín đáo thể hiện long yêu nước sâu kín của tác
14


giả.
- Giáo viên gợi mở: Ở câu thơ thứ 6 có một ý thơ rất hay và độc đáo, anh
chị hãy phát hiện và thử phân tích, bình giảng cái hay, cái độc đáo của câu thơ
này?
- Học sinh phát hiện và phân tích, bình giảng:

xúc cảm càng mãnh liệt, nỗi nhớ thương càng cồn cào. Trong thơ cổ Trung Hoa,
tiếng chày đập vải, nhất là về chiều và đêm, là một hình tượng âm thanh đặc biệt
có sức gợi cảm rất lớn. “Tiếng đập áo của muôn nhà” có thể làm cho người
chinh phụ xao xuyến nghĩ tới người thân nơi “quan ải” (thơ Lí Bạch), “Nghe
tiếng chày ban đêm” có thể khiến cho “sáng mai đầu bạc phau” vì “mỗi tiếng
chày nện xuống là thêm một sợi tóc trắng như tơ” (thơ Bạch Cư Dị). Bởi vậy,
15


âm thanh của tiếng chày đập áo, khép lại bài thơ nhưng đồng thời nó dường như
lại là mốt nhạc đầu tiên trong một bản nhạc của nỗi nhớ quê hương đang cất lên
những giai điệu buồn, đang lan tỏa những vòng sóng âm thanh da diết tới tận
những không gian nhỏ bé nhất trong tâm hồn nhà thơ. Đúng là “ngôn tận nhi ý
bất tận” - lời hết mà ý không hết.
III. PHẦN TỔNG KẾT BÀI HỌC
1. Chủ đề bài thơ:
- Giáo viên yêu cầu học sinh xác định chủ đề của bài thơ
- Học sinh xác định chủ đề của bài thơ: Bài thơ miêu tả bức tranh thiên
nhiên hùng vĩ mà hiu hắt, sôi động mà nhạt nhòa trong sương khói mùa thu hiện
diện của một tâm trạng buồn xót xa. Đồng thời diễn tả nỗi buồn thương nhớ quê
hương, đất nước của nhà thơ.
2. Giá trị nội dung:
- Giáo viên nêu câu hỏi: Sau khi đọc và cảm nhận về bài thơ Cảm xúc mùa
thu, ấn tượng để lại trong anh chị về cảnh thu và tình thu của bài này là gì?
- Học sinh trả lời:
+ Cảnh thu: cảnh thu buồn, hiu hắt, xao động, mang những nét đặc trưng
của núi rừng, sông nước, cuộc sống, ... ở Quỳ Châu. Cảnh thu cũng là cảnh đời.
Đó là hình bóng tang thương của đất nước Trung Quốc đương thời.
+ Tình thu: Đó là nỗi lo âu cho đất nước; nỗi buồn nhớ quê hương; nỗi
ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình của tác giả.

- Giáo viên có thể trình chiếu thêm một số bài thơ thu khác của Đỗ Phủ để
học sinh hiểu thêm. Đặc biệt là bài thơ Thu hứng số 2 và số 4.
- Giáo viên có thể liên hệ bài thơ Thu hứng với một số bài thơ Thu của các
nhà thơ Việt Nam thời trung đại như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn
Khuyến.. Ví dụ: khi đọc hai câu luận trong bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ, ta lại
nghĩ đến hai câu thơ trong bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG.
Qua việc sử dụng tốt các phương tiện dạy học và áp dụng một số phương
pháp có tính tích cực trong việc tìm hiểu tác phẩm Cảm xúc mùa thu của tác giả
Đỗ Phủ trong chương trình Ngữ Văn 10 – ban cơ bản áp dụng cho 3 lớp 10C1,
10C4 và 10C5 tôi thấy rằng:
- Hầu hết học sinh hiểu, nắm chắc, khắc sâu được kiến thức về tác phẩm.
- Học sinh hứng thú trong cách tìm hiểu tác phẩm. Tạo không khí sôi nổi
trong tranh luận tìm hiểu vấn đề, có những phát hiện mới mẻ có tính sáng tạo
trong giờ học. 100% học sinh hứng thú với tiết học và hăng say phát biểu ý kiến
xây dựng bài. 85% các em hiểu bài ngay tại lớp và làm thành công các bài tập
trong sách giáo khoa cũng như các bài tập lấy ở các tài liệu tham khảo khác
- Tránh được việc thụ động đọc chép trong bài giảng của giáo viên.
- Giáo viên rất nhàn trong quá trình lên lớp mà vẫn đạt được những mục
đích của tiết dạy. Chủ động cùng khám phá tri thức với học sinh.
- Áp dụng làm các dạng bài tập về tác phẩm đạt hiệu quả cao, đặc biệt là
với những đề bài có tính phát hiện và phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo
của học sinh.
- Đặc biệt thông qua tác phẩm này và các bài thơ Đường đã học trước đó,
các em đã hiểu một cách có hệ thống về đặc điểm thể loại, nội dung và nghệ
thuật của thơ Đường nói chung và bài thơ Cảm xúc mùa thu nói riêng. Mặt khác,
17

44/44 học sinh = 100%

10C4

40/44 học sinh

44/44 học sinh = 100%

10C5

36/40 học sinh

40/40 học sinh = 100%

Kết quả kiểm tra viết các lớp:

Lớp



Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm trung bình

số

Số
lượng


44

7

15,90 %

28

63,63 %

9

20,45 %

10C5

40

5

12,5 %

26

65,00 %

9

22,5 %

Tuy nhiên để thực hiện một cách có hiệu quả các phương pháp trên với một
tiết dạy cụ thể đòi hỏi giáo viên phải có sự sáng tạo, lòng yêu nghề, có các
phương tiện hiện đại hỗ trợ trong quá trình thực hiện. Và đây không phải là
những phương pháp duy nhất mà trong quá trình đọc hiểu tác phẩm văn học giáo
viên cần áp dụng linh hoạt các phương pháp một cách phù hợp với từng tiết dạy
cụ thể.
3.2. KIẾN NGHỊ
Với đề tài này, tôi xin kiến nghị với nhà trường và cấp trên một số vấn đề
như sau:
- Đề nghị Sở giáo dục và nhà trường tổ chức các lớp bồi dưỡng về ứng
dụng công nghệ thông tin,cách sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại cho cán bộ
giáo viên để họ tích cực hơn trong việc giảng dạy, tránh tình trạng “dạy chay,
học chay”, giúp cho bài dạy trở nên sinh động, hấp dẫn hơn và học sinh có nhiều
thời gian để trao đổi, thảo luận, tìm tòi, phát hiện ra vấn đề hơn.
- Kính mong Sở giáo dục đào tạo và nhà trường tổ chức những buổi tọa
đàm hoặc báo cáo chuyên đề về phương pháp giảng dạy các tác phẩm văn học
nước ngoài. Nếu làm được điều này, giáo viên sẽ có điều kiện trao đổi, học hỏi
kinh nghiệm lẫn nhau để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và cách giảng
dạy các tác phẩm văn học nước ngoài.
- Nên đưa các tác phẩm văn học nước ngoài vào đề kiểm tra định kì và đề
thi THPT quốc gia. Có như vậy, các em học sinh mới chịu khó tìm tòi và tích
cực học tập hơn đối với các tác phẩm văn học nước ngoài.
- Đối với giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi đề nghị giáo viên hình thành và
phát triển năng lực đọc sáng tạo cho học sinh.
Tôi rất cảm ơn các đồng chí đã dành thời gian để đọc sáng kiến kinh
19


nghiệm này.Tôi nghĩ những hiểu biết và những kinh nghiệm của mình như một
giọt nước giữa biển cả bao la, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến chân thành

dục 2007
10. Nguyễn Quốc Siêu, Thơ Đường bình giải, NXB Giáo dục,1998.
11. Lương Duy Thứ, Bài giảng văn học Trung Quốc,NXB Đại học Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh, 2000.
12. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp
10, môn Ngữ Văn - Bộ giáo dục và đào tạo.
13. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông- Bộ giáo
dục và đào tạo.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status