Dạy học phát huy năng lực đọc hiểu của học sinh thông qua bài cảm xúc mùa thu ( đỗ phủ) - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG PT NGUYỄN MỘNG TUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

DẠY HỌC PHÁT HUY NĂNG LỰC ĐỌC - HIỂU CỦA
HỌC SINH THÔNG QUA BÀI "CẢM XÚC MÙA
THU"(Đỗ Phủ)

Người thực hiện: Phạm Thị Thương
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2016
MỤC LỤC


Trang
I. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài...........................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu....................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................1
II. NỘI DUNG.....................................................................................................3
Chương1. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI..........................................................................3
1.1. Cơ sở lí luận..................................................................................................3
1.2. Cơ sở thực tiễn..............................................................................................4
Chương 2. DẠY HỌC PHÁT HUY NĂNG LỰC ĐỌC - HIỂU CỦA HỌC SINH
THÔNG QUA BÀI "CẢM XÚC MÙA THU" (Đỗ Phủ)....................................6
2.1. Tiếp nhận văn bản từ thao tác đọc................................................................6
2.2. Ứng dụng thi pháp học..................................................................................6

phương pháp dạy học, tôi đã không ngừng nghiên cứu, học hỏi tìm ra giải pháp
để làm sao những giờ dạy đọc-hiểu thơ Đường thật sự hiệu quả, nhất là với các
em học sinh học khối C, D, để có thể phát huy được vốn kiến thức cũng như
niềm đam mê và yêu thích văn chương sẵn có của các em. Qua những năm dạy
học chương trình Ngữ văn lớp 10 , cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi, từ mục
đích đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi xin trao đổi kinh nghiệm của
bản thân về một số giải pháp nhằm góp phần giúp học sinh đọc - hiểu thơ Đường
hiệu quả và thiết thực nhất.
3. Đối tượng nghiên cứu
Thơ Đường được đưa vào chương trình Ngữ văn ở cấp THCS và THPT,
tổng số tiết là 7 tiết (THCS: 4 tiết; THPT: 3 tiết), riêng với chương trình Ngữ
văn 10 là 3 tiết. Trong khuôn khổ của đề tài, tôi chỉ đi vào nghiên cứu phương
pháp dạy học phát huy năng lực đọc - hiểu của học sinh thông qua bài "cảm
xúc mùa thu"(Đỗ Phủ)
- Thông qua đề tài này giúp các em học sinh khối C,D có kiến thức sâu
rộng hơn về thơ Đường nói chung và bài "cảm xúc mùa thu" nói riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng thành tựu của nhiều ngành: nghiên cứu văn học, lý luận văn
học, ngôn ngữ học, giáo dục học… trong đó đặc biệt chú trọng vận dụng những

1


thành tựu của những công trình nghiên cứu về thơ Đường, thi pháp thơ Đường
và những thành tựu khoa học về phương pháp dạy học văn.
- Kết hợp điều tra, thăm dò có phân tích thống kê, dự giờ và học hỏi kinh
nghiệm của đồng nghiệp.
- Đúc rút kinh nghiệm từ bản thân trong quá trình giảng dạy môn ngữ văn ở
trường THPT.
- Tham khảo một số tài liệu nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học

đó hình thành cho họ cách đọc - hiểu một văn bản, nhất là văn bản văn học đồng
thời hướng dẫn, gợi mở, tránh nhầm lẫn cho học sinh, chủ yếu là dạy về phương
pháp đọc chứ không đọc hộ, biến học sinh thành thính giả thụ động của mình.
Giáo án của thầy chủ yếu phải là giáo án về phương pháp đọc cho học sinh.
Muốn thế học sinh phải được trang bị trên hai phương diện: những kiến thức để
đọc văn và phương pháp đọc văn. Những kiến thức và phương pháp này chỉ có
thể có được qua việc thực hành trong quá trình đọc văn thông qua các văn bản
tác phẩm cụ thể, tiêu biểu cho các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử văn học. Tất
nhiên thông qua hệ thống văn bản tác phẩm tiêu biểu, chương trình cung cấp và
hình thành cho học sinh những hiểu biết sơ giản về lịch sử văn học, lý luận văn
học, tác gia văn học, nhưng đối tượng chính vẫn là văn bản- tác phẩm.
Sách giáo khoa biên soạn theo tinh thần trên là sách phục vụ cho mục đích
dạy văn thực chất là dạy cách đọc - hiểu, cách giải mã văn bản. Trong đó nhấn
mạnh việc coi trọng văn bản với tất cả các biểu hiện cụ thể của hình thức ngôn
từ nghệ thuật; hình thành và rèn luyện kỹ năng phân tích văn học trên cơ sở phân

3


tích ngôn ngữ; từ việc nghiên cứu các văn bản văn học để đạt tới những suy nghĩ
sâu sắc về các cấu trúc văn học và ngôn ngữ…
Như vậy, đọc - hiểu là con đường để dẫn học sinh đến với cảm thụ văn học.
Đó là hình thành xúc cảm, tưởng tượng và gần gũi, “nhập thân” với những gì đã
đọc, nhập thân vào tác phẩm, suy tư về một số các câu chữ, hình ảnh, lập luận và
sống cùng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật, nhân vật trữ tình hoặc của tác giả.
Người cảm thụ đồng thời vừa là người tiếp nhận vừa là người phản hồi về tác
phẩm. …Như nhà văn Anh Đức đã tâm sự: “Khi đọc, tôi không chỉ thấy dòng
chữ mà còn thấy cảnh tượng ở sau dòng chữ, trí tưởng tượng nhiều khi dẫn tôi đi
rất xa, vẽ thêu ra lắm điều thú vị”.
1.2. Cơ sở thực tiễn

cũng gặp rất nhiều khó khăn về phía người học và người dạy.

4


Về phía người học, nội dung thơ Đường thường có nhiều điển tích, điển cố,
từ ngữ cổ. Niêm luật thơ Đường khó nên học sinh không cảm thấy hấp dẫn. Thơ
Đường hàm súc, cô đọng nên đôi lúc gây khó hiểu cho học sinh... Mặt khác, bản
phiên âm và bản dịch thơ nhiều khi chưa sát nghĩa, gây lúng túng cho cả học
sinh và giáo viên khi học và dạy thơ Đường. Do khoảng cách về không gian,
thời gian lịch sử và một phần là do khoảng cách về tâm lí học nên việc tiếp nhận
nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm thơ Đường rất khó khăn. Học sinh chưa
vượt qua được “rào chắn” của từ ngữ, vì thế chưa thực sự hiểu và rung cảm với
bài học.
Về phía người dạy, chính những điều trên đã ảnh hưởng ít nhiều đến xúc
cảm của giáo viên cũng như học sinh khi đến với những tác phẩm thơ Đường.
Bên cạnh đó số lượng thơ tuy không nhiều nhưng những bài được chọn vào
giảng dạy là tiêu biểu mà việc phân bố thời gian dạy chỉ bốn mươi lăm phút cho
một bài thơ là quá ít, không đủ để phân tích đầy đủ nội dung và thi luật. Chính
do phân phối thời gian giảng dạy trong khuôn khổ tiết học đã được quy định sẵn
như vậy nên giáo viên gặp rất nhiều khó khăn. Sự hạn chế thời lượng của những
tiết học đã khiến cho người thầy không có cơ hội thực hiện một số công việc
nhằm kích thích hứng thú học tập ở học sinh. Thời gian dạy bài thơ"cảm xúc
mùa thu"(Đỗ Phủ) là 1 tiết thì làm sao giáo viên có thể đủ thời gian để truyền
tải kiến thức đầy đủ đến học sinh, buộc giáo viên phải dạy lướt qua nên học sinh
cũng gặp những khó khăn trong việc lĩnh hội tri thức.
Về phương pháp giảng dạy thơ Đường hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, việc
diễn giảng một bài thơ Đường khiến việc dạy học không hiệu quả. Đa số giáo
viên chủ yếu tập trung vào nội dung, nghệ thuật, điển tích, chưa chú ý đến bức
tranh toàn cảnh của thơ Đường trong trào lưu chung của thời đại. Bên cạnh đó

Đường cần lắm những yêu cầu về ngắt câu, giọng điệu. Ví dụ: với thơ ngũ ngôn,
cách ngắt nhịp thông thường là 2/3, với thơ thất ngôn, cách ngắt nhịp thường là
4/3 hoặc 2/2/3. Đọc thơ cần có nhịp chậm đều, những điểm cần nhấn để tạo âm
thanh, những từ cần kéo dài để tạo cảm xúc, có những câu có thể đọc nối nhau
với mục đích thể hiện tứ thơ. Sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên là một trong
những cách để học sinh tiếp nhận bài thơ nghiêm túc, có tâm thế để đọc diễn
cảm và sáng tạo. Giáo viên cần đọc mẫu một bản phiêm âm, dịch nghĩa hoặc
dịch thơ, và yêu cầu học sinh đọc tiếp. Đó là sự gần gũi trong quá trình “cùng
đọc-hiểu” tạo ra sự liên thông cảm xúc giữa người dạy và người học. Sau khi
đọc thơ, học sinh cần nêu cảm nhận của bản thân về sắc thái biểu cảm của câu,
từ, cảm xúc chủ đạo trong bài thơ, từ hiểu biết của mình về kết cấu của một bài
thơ Đường mà nêu bố cục của tác phẩm.
Với bài thơ "Cảm xúc mùa thu"( Đỗ Phủ) học sinh đọc cả phiên âm,
dịch nghĩa và bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ giọng đọc buồn bâng khuâng
trầm lắng, thiết tha, thể hiện được lòng yêu nước, thương nhà của nhà thơ.
2.2 Ứng dụng thi pháp học trong việc đọc - hiểu thơ Đường vào bài
"Cảm xúc mùa thu"( Đỗ Phủ)
Thành tựu của thi pháp học nghiên cứu về thơ Đường hiện nay đã đóng góp
lớn cho việc nghiên cứu, giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường. Dạy đọc
- hiểu một văn bản thơ theo hướng thi pháp đem lại nhiều hiệu quả, nhất là với
thơ Đường – nền văn học có đặc trưng thi pháp rõ nét. Khi hướng dẫn học sinh
đọc-hiểu về thơ Đường, cần đưa các em vào bức tranh chung của cả thời đại.
6


Học văn, dạy văn theo hướng thi pháp không chỉ giúp các em nắm được tác
phẩm sâu sắc mà còn cung cấp kiến thức cơ bản để các em có thể đọc-hiểu các
bài thơ Đường khác ngoài sách giáo khoa. Với đối tượng là học sinh khối C, D
thì việc giảng dạy đọc-hiểu văn bản theo hướng thi pháp sẽ giúp học sinh nâng
cao khả năng tiếp nhận văn chương, đặt cơ sở cho việc hiểu, cảm và viết văn.

là cổ thể (cổ phong và nhạc phủ) và cận thể (hay là kim thể, gồm luật thi và
tuyệt cú).
+ Thơ cổ thể không hạn định số câu, số chữ, không phải tuân thủ niêm luật,
đối ngẫu, cách gieo vần, do đó có khả năng biểu hiện được nhiều sắc thái tình
cảm phong phú, mạnh mẽ, cũng như phản ánh được hiện thực phức tạp và đầy
biến động. .
+ Thơ Đường luật (tức thơ cận thể) thì lại tuân thủ niêm luật chặt chẽ. Sự
chặt chẽ về cách luật của thể thơ này tuy có phần gò bó những nó có ưu điểm là
7


cấu trúc nội tại cân đối, âm điệu hài hòa, phù hợp với nhu cầu thể hiện những
tình cảm nội tâm sâu lắng, trầm tư. Sự qui định của luật thi rất chặt chẽ, không
được vi phạm, cụ thể như sau: Một bài thơ phải đạt sáu yêu cầu: niêm, luật, vận,
đối, tiết tấu, bố cục. Giáo viên không cần đi sâu vào yêu cầu về niêm, luật, tiết
tấu, vì sách giáo khoa đã cung cấp trong phần Tri thức đọc-hiểu, mà cần giúp
học sinh nhận diện rõ ý nghĩa và nghệ thuật đối, bố cục của tác phẩm trong quá
trình đọc-hiểu bài thơ.
Về bố cục, bài thơ cận thể thường được chia thành bốn phần: đề, thực, luận,
kết, mỗi phần 2 câu (nếu là luật thi – 8 câu), hoặc khai, thừa, chuyển, hợp (nếu
là thơ 4 câu). Nhưng thực tế thơ Đường không nhất thiết bài nào cũng có bốn
phần như vậy. Đặc biệt nhà phê bình Kim Thánh Thán (đời Thanh) thì chia bài
thơ Đường thành hai phần, ông gọi 4 câu (2 câu) đầu là tiền giải, 4 câu (2 câu)
cuối là hậu giải. Tiền giải thường nêu hoàn cảnh sự tình, cảm hứng sáng tác, hậu
giải thường là cái tình được gói ghém. Ngoài ra còn có cách chia làm 3 phần:
2/4/2. Cách chia này tương đối mới, gần với cách chia bố cục của một văn bản
hiện đại: có 3 phần (mở bài, thân bài và kết bài). Như vậy, khi phân tích bình
giảng bài thơ Đường, giáo viên có thể căn cứ vào nội dung cấu trúc cụ thể của
từng bài thơ để chọn phương án thích hợp.
Với bài thơ "Cảm xúc mùa thu"( Đỗ Phủ) giáo viên có thể chia bài thơ

con người cảm thấy nhỏ bé, cô đơn giữa vũ trụ mênh mông vô tận. Từ đó con
người luôn khao khát chiếm lĩnh không gian
+ Con người trong thơ Đường còn đặc biệt đề cao cái tâm, được thể hiện rõ
trong đề tài yêu nước. Thơ Đường nói nhiều về hiện thực nhất là thơ của Đỗ
Phủ.
- Về thời gian trong thơ Đường, ta thấy rằng, trong thơ luôn ưu tiên cho
quá khứ và chủ yếu được thể hiện dưới hai dạng: thời gian hoài cổ và thời gian
ký ức. "Cảm xúc mùa thu"( Đỗ Phủ) thời gian được tác giả nhắc tới là mùa
thu lạnh lẽo, hùng vĩ mà hiu hắt, sôi nổi mà nhạt nhòa, hiện diện của nỗi buồn xa
xót trước tình cảnh đất nước và thể hiện nỗi lòng thương nhớ quê hương Chính
điều này đã làm cho thơ Đường mang tính hiện thực và nhân văn.
Những kiến thức về thi pháp thơ Đường trên đây được đưa vào nhằm củng
cố kiến thức thơ Đường cho giáo viên, để giúp học sinh thấy được giá trị của tác
phẩm. Không nhất thiết giáo viên trình bày hết về thi pháp mà cần được lồng
ghép trong quá trình khơi gợi học sinh đọc - hiểu qua các câu hỏi nêu vấn đề.
Đặc biệt, cần phân bố thời gian phù hợp, có thể chỉ cần nhấn mạnh những từ
ngữ, hình ảnh nổi bật. Việc giới thiệu về tác giả và tác phẩm chỉ cần chú trọng
phong cách của tác giả, còn lại đã được giới thiệu trong SGK, giáo viên có thể
để học sinh làm việc với kiến thức ấy ở nhà (tóm tắt văn bản thuyết minh). Khi
hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm, giáo viên chỉ cần nhấn mạnh những chi
tiết tiêu biểu, thể hiện rõ nét đặc điểm thi pháp của bài thơ, không cần đi sâu
khai thác toàn bộ tác phẩm, vì thơ Đường có độ súc tích cao, từ ngữ, hình ảnh
nào cũng mang đậm ý tình.
Bên cạnh đó cần có sự đối chiếu, liên hệ trong quá trình phân tích tác
phẩm. Ta có thể liên hệ: Những bài thơ có những điểm tương đồng, giống nhau
giữa các tác giả. Những nét giống nhau giữa các bài thơ của cùng một tác giả.
Những nét khác biệt nhau về bút pháp và trường phái của các tác giả. Từ sự liên
hệ, đối sánh ấy, giáo viên có thể khái quát đặc điểm về nội dung hoặc về phong
cách của tác giả Đỗ Phủ
Trong quá trình khai thác bài thơ qua thi pháp học, giáo viên cần chỉ ra

- Qua việc tiếp nhận văn bản, củng cố những kiến thức đã học về hình thức
và đặc điểm nghệ thuật của thơ Đường luật.
2. Kĩ năng
- Đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.
- Phân tích cảm hứng nghệ thuật, hình ảnh, ngôn từ và giọng điệu thơ.
III - HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN
1.Ổn định
2. Kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: Đọc thuộc bài thơ “Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng” và nêu giá trị của tác phẩm?
Trả lời:
- Đọc diễn cảm bài thơ.
- Giá trị: + Nghệ thuật: ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gợi cảm, hàm xúc.
+ Nội dung: Ca ngợi tình bạn sâu sắc chân thành của 2 nhà thơ
lớn. Tình bạn rất đáng trân trọng.

10


3. Bài mới:
Hoạt động của GV - HS

Yêu cầu cần đạt

GV: Dựa vào phần tiểu dẫn SGK nêu
những nét chính về nhà thơ Đỗ Phủ?
HS trả lời ->
GV: Là con trai của một quan lại bậc
thấp, thời trẻ ông đựoc tiếp thu nền giáo
dục theo tiêu chuẩn thời đó: học thuộc

GV: Thơ ĐP thấm máu và nước mắt của
nhân dân trong buổi loạn li. Nếu thơ Lí
Bạch có dòng sông hát ca, chim muông

I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả và sự nghiệp sáng tác
- Đỗ Phủ (712- 770) tự là Tử Mĩ,
quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam TQ
- Gia đình có truyền thống nho học
và thơ ca.
- Cuộc đời gặp nhiều sóng gió, sống
trong nghèo khổ, và chết trong bệnh
tật.

- Để lại khoảng 1500 bài thơ.
- Nội dung:
+ Bức tranh hiện thực sinh động và
chân xác về xã hội thời Đường ->
11


ríu rít, vầng trăng duyên dáng thì trong
thơ Đỗ Phủ, dòng sông nức nở, vầng
trăng thổn thức và cây cỏ chim muông
câm lặng úa vàng.
Nhà thơ của nhân dân đã cùng nhịp thở
với trăm họ, đứng ở vị trí của những nạn
nhân mà nói lên niềm uẩn ức ko kìm nén
đươc.
GV: Giọng thơ ĐP có gì đặc biệt?

Chú ý: Giọng chậm, buồn, da diết thể
hiện nỗi buồn tha hương và nỗi nhớ quê
tha thiết.
- Giải nghĩa từ khó.
GV: Đối chiếu phần phiên âm, phần dịch
nghĩa, em hãy nhận xét bản dịch của
Nguyễn Công Trứ?
HS: Nguyễn Công Trứ dịch rất thành
công. Tuy nhiên còn đôi chỗ còn chưa
thật sát với nguyên bản. Cụ thể:

=> Là nhà thơ hiện thực vĩ đại của
TQ, là danh nhân văn hoá thế giới
được tôn là "Thi thánh" ( thánh thơ).

2. Bài thơ “Cảm xúc mùa thu”
-Vị trí: Là bài mở đầu của chùm
thơ Thu hứng gồm 8 bài, được xem
là cương lĩnh sáng tác của cả chùm
thơ.
- Hoàn cảnh sáng tác: Sáng tác năm
766, trong thời gian nhà thơ cùng gia
đình đi chạy loạn ở Quỳ Châu.

12


+ Mây đùn, hạt móc sa.
GV: Em hãy xác định thể loại và bố cục
của bài thơ?

->Cảnh thu ảm đạm, tiêu điều, bi
GV: Em có nhận xét gì về cảnh thu trong thương
2 câu thơ đầu?
Chuyển: Nêú trong 2 câu đầu, cảnh sắc
đẫm màu bi thương thì 2 câu 3, 4 có gì
khác.
* Câu 3,4.
GV: Em có nhận xét gì về hình ảnh thơ
trong câu 3 và 4? Hình ảnh đó tạo nên - Hình ảnh đối lập: cảnh vật chuyển
bức tranh thu như thế nào?
động dữ dội tạo nên bức tranh thu
HS trả lời ->
vừa hùng vĩ, vừa bi tráng.
Sóng vọt lên tận lưng trời >< Mây sa
sầm …
Thấp -> cao
Cao ->
thấp
GV: Không gian như bị dồn nén đến
ngột ngạt, bất an giữa những làn sóng => Bức tranh thu buồn, bức tranh
vọt từ đáy sông đến tận trời cao. Những mang tâm trạng của con người.
13


làn mây nơi cửa ải bị gió cuốn sa sầm
giáp mặt đất.
Như vậy: Qua 4 câu thơ đầu, cảnh mùa
thu hiện lên có rừng phong nhuốn đỏ, có
núi non, sông nước mây trời nhưng tất
cả vừa hiu hắt ảm đạm, vừa hùng vĩ bi

khách, sao nhà thơ có thể vui đây?
Bởi vậy, 4 câu thơ đầu bức tranh thiên
nhiên được vẽ bằng tâm cảnh.

2. Bốn câu thơ sau
( Cảm xúc của thi nhân khi thu về
trên dất khách)
- Từ không gian xa -> dần thu hẹp
về không gian gần -> không gian nội
tâm.

Gọi HS đọc bốn câu thơ sau.
GV: Nhận xét gì về sự thay đổi của tầm
nhìn từ 4 câu thơ đầu đến 4 câu thơ sau?
14


Vì sao lại có sự thay đổi tầm nhìn như
vậy?
GV: Nghệ thuật gì được sử dụng trong 2
câu 5 và 6?
HS trả lời ->
Liên hệ: Đọc thơ của ĐP ta sẽ thấy, thời
kì ngụ cư ở Ba Thục thơ của ông thường
xuất hiện hình ảnh con thuyền. Ví dụ:
“ Môn bạc Đông Ngô vạn lí thuyền”
( Thuyền Ngô muôn dặm đỗ ngay cửa
ngoài)
Có hình ảnh này là bởi vì, từ Ba Thục
muốn về quê ở Hà Nam thì phải đi


* Câu 5,6.
- Nghệ thuật:
+ Phép đối xứng ( ý, từ, thanh)
+ Hình ảnh ẩn dụ:
. Cúc - mùa thu: nở hoa 2 lần->
tác giả nhỏ lệ vì thương nhớ quê
hương.
. Con thuyền - cuộc đời cô đơn
trôi nổi giữa dòng đời.

=> Tấm lòng thương nhớ quê hương
tha thiết sâu lắng của nhà thơ.
* Câu 7,8.
- Âm thanh tiếng chày đập vải may
áo rét (âm thanh quen thuộc của mùa
thu TQ…)
=> Xoáy sâu vào lòng người nỗi
buồn nhớ quê hương tê tái khôn
nguôi, nỗi ngậm ngùi cho thân phận,
gợi niềm mong ước được trở về quê
hương.
-> Nỗi niềm của hàng triệu người
dân TQ trong cảnh loạn li.

15


GV: Theo em, đó có phải là tâm trạng
của riêng nhà thơ hay ko? Nguyên nhân

yêu nước thương đời của tác giả.

4. Luyện tập, củng cố
- GV: Khái quát nội dung cơ bản của bài
5. Hướng dẫn tự học
- Học thuộc lòng bài thơ.
- Kể tên một vài bài thơ cùng đề tài mùa thu của nhà thơ Việt Nam.
* Rút kinh nghiệm :

16


PHẦN III - KẾT LUẬN
1. Kết quả từ việc áp dụng các phương pháp trên
Qua những năm giảng dạy môn Ngữ văn 10, tôi đã liên tục đúc rút kinh
nghiệm từ thực tiễn đứng lớp và kết quả càng ngày càng được cải thiện. Với
phương pháp đọc đã nói trên, tôi nhận thấy không những học sinh ban cơ bản D,
ban C mà ngay với các em học ban A cũng cảm thấy thích thú và tạo được
không khí văn chương cho giờ học. Việc hướng dẫn học sinh đọc - hiểu thơ
Đường theo thi pháp đã giúp học sinh nắm vấn đề sâu sắc và toàn diện, thấy rõ
được cái hay cái đẹp cũng như các đặc điểm như “ý tại ngôn ngoại”, “thi trung
hữu họa”, “thi trung hữu nhạc”, phong cách thơ của từng tác giả đã nói ở trên.
Qua phiếu điều tra khảo sát (sau khi học các bài thơ Đường), kết quả thu được
như sau:
Số phiếu điều tra: 90 phiếu
+ Số HS nêu đúng tên tác giả và tác phẩm thơ Đường: 86/90 (95,8%)
+ Số học sinh hiểu nội dung và nghệ thuật của các bài thơ: 74/90 (83,3%)
+ Số học sinh muốn được học thơ Đường ở chương trình lớp 11: 59/90
(67,7%)
+ Số học sinh hiểu đúng về “ý tại ngôn ngoại”, “thi trung hữu họa” là 54/90

Với quan niệm: Người thầy như là người nhóm lửa, thổi lên ngọn lửa văn
chương trong mỗi tâm hồn của những học trò, đề tài "dạy học phát huy năng
lực đọc - hiểu của học sinh thông qua bài "cảm xúc mùa thu"(Đỗ Phủ) mặc
dù đã có sự nỗ lực trong quá trình tìm hiểu các phương pháp cụ thể nhằm tìm ra
hướng tiếp cận, khai thác tác phẩm phục vụ cho nhu cầu giảng dạy đạt hiệu quả
hơn, nhưng sáng kiến kinh nghiệm của tôi không thể không tránh khỏi những sai
sót mong được sự đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp để việc
giảng dạy bài thơ hiệu quả hơn.

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hữu Dũng (1988), Một số vấn đề cơ bản về giáo dục trung học phổ
thông, Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 – 2000 cho giáo viên.
2. Lê Giảng (1998), Đến với thơ Lí Bạch, Nxb Thanh niên.
3. Nguyễn Thị Bích Hải (1997), Thi pháp thơ Đường, Nxb Giáo dục.
4. Nguyễn Thị Bích Hải (2006), Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hóa – Huế.
5. Hồ Sĩ Hiệp (1995), Thơ Đường ở trường phổ thông, Nxb Văn nghệ Tp.HCM.
6. Hồ Sĩ Hiệp, Trần Xuân Đề (1978), Thơ Đường, Đại học Sư phạm Tp.HCM.
7. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn, Nxb Giáo dục.
8. Nguyễn Xuân Nam (1992), Làm quen với thơ Đường, Nxb Văn học, Hà Nội.
9. Lê Đức Niệm (1995), Diện mạo thơ Đường, Nxb Văn hóa Thông tin.
10.Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (1996), Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà
Nẵng.
11.Ngô Văn Phú (2001), Thơ Đường ở Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn.
12.Vũ Tiến Quỳnh (1990), Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, Nxb Khánh Hòa.
13.Nguyễn Quốc Siêu (1998), Thơ Đường bình giảng, Nxb Giáo dục.
14.Trần Đình Sử (1998), Môn văn, thực trạng và giải pháp, Báo Văn nghệ, số 7,
tr.5 - 7.

nghệ thuật của bài thơ?
100%

Xác nhận của Hiệu trưởng
Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau…
(Tì bà hành – Bạch Cư Dị)

SL
90/90
0
80/90
16/90
90/90
6/90
80/90
16/90
83/90
12/90
90/90
0
25/90

Tỉ lệ
100%
83,3%
15,7%
93,7%
6,3%
83,3%

22


2016
Tôi xin cam đoan là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của
người khác

Phạm Thị Thương

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status