SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG LÀM
VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG
ĐỜI SỐNG
Người thực hiện: Đỗ Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2016
STT
1
2
3
4
5
Mục lục
NỘI DUNG
Mở đầu
- Lý do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
Lí do chọn đề tài
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 35 ghi rõ: “Giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài...” Đại hội đại biểu toàn quốc
của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX cũng khẳng định “Phát triển giáo dục đào
tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền vững...” Xác định được nhiệm vụ
quan trọng đó nên những năm qua Bộ giáo dục đã không ngừng đưa ra nhiều giải
pháp mang tính cải tiến để thúc đẩy phát triển giáo dục. Đứng trước thềm thế kỉ
XXI, Bộ giáo dục đã có những đổi mới tích cực như đổi mới chương trình giáo
khoa, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, lồng ghép giáo
dục kĩ năng sống vào các môn học.... Đặc biệt Bộ giáo dục thay đổi cấu trúc đề thi
phải có một câu thuộc dạng nghị luận xã hội, ra đề theo hướng mở... nhằm khơi gợi
trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo của học sinh khi làm bài, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu của đất nước.
Trong xu hướng chung của đổi mới, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh là một lĩnh vực quan trọng, hình thành nhân cách, phát triển ý thức con người.
Giúp học sinh có ý thức ứng xử, hành động, việc làm đúng đắn trong học tập, đời
sống cũng như đối với môi trường tự nhiên.
Cuộc sống của con người ngày nay luôn chịu sự tác động của môi trường tự
nhiên. Những gì chúng ta có đều do thiên nhiên cung cấp: từ khí thở, nguồn nước
uống, sinh hoạt hàng ngày...cho tới thịt cá, rau quả-thực phẩm mỗi bữa ăn... Con
người chúng ta đã dựa vào những gì có sẵn trong tự nhiên để tự mình làm nên
những sản phẩm có ích. Trong những bước tiến hiện đại hoá về sản xuất công
nghiệp, con ngươi đã sử dụng năng lượng chiếu sáng và sưởi ấm của mặt trời để
tạo nên những thiết bị sử dụng nguồn năng lượng mặt trời tiên tiến để áp dụng vào
đời sống. Đối với những con suối, những dòng sông, hồ nước, trước đây chỉ đơn
thuần là phong cảnh thiên nhiên, cung cấp nguồn nước, tôm cá; nhưng giờ đây, với
những con đập thuỷ điện thì đó là cả một mạng lưới điện năng khổng lồ. Một yếu
- Học sinh các khối lớp 10, 11 và 12.
- Khảo sát tình hình vệ sinh trường học và ý thức bảo vệ
môi trường của học sinh.
- Lĩnh vực nghiên cứu: Môi trường - trường THPT Lê Lợi. Khảo sát ý thức bảo vệ
môi trường học sinh trường THPT Lê Lợi ở: phòng học, thư viện, phòng máy tính,
nhà thi đấu, sân vui chơi, địa phương…
- Phương pháp nghiên cứu:
+ PP nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: nghiên cứu và khảo lược các tài liệu
trên sách, báo, mạng internet…
+ PP điều tra khảo sát thực tế: Phỏng vấn trực tiếp khoảng 100 học sinh về vấn đề
môi trường bằng bảng câu hỏi(chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng(theo khóa học))
+ Phương pháp thu thập thông tin; PP thống kê, xử lý số liệu: Phương pháp thống
kê, mô tả thực trạng môi trường tại trường THPT và ý thức của học sinh phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành ý thức bảo vệ môi trường của học sinh.
4
II. Néi dung
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật
thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi
trường của Việt Nam)
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
của con người. Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực
hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
5
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất
quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường,
có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và
công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật
Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rõ trong Ðiều 6: "Bảo vệ môi trường là sự
nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi
hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường".
1.2. Nghị luận xã hội và vai trò của nghị luận xã hội trong dạy - học Ngữ văn
hiện nay
2.1.1 Nghị luận xã hội
Đối tượng của nghị luận xã hội là những vấn đề nảy sinh trong đời sống
chính trị - xã hội như đạo đức, lẽ sống, thiên nhiên, môi trường...thường được thể
hiện cô đọng trong các câu tục ngữ, danh ngôn, các ý kiến nhận định tổng quát, các
vấn đề nóng đang gây sự quan tâm chú ý của dư luận...
Mục đích của nghị luận xã hội là đưa ra những vấn đề trên ra để bàn bạc,
làm sáng tỏ đúng, sai, xấu, tốt, lợi, hại...nhằm tuyên truyền giáo dục, vận động, kêu
gọi mọi người tham gia giải quyết những vấn đề nảy sinh nói trên, góp phần làm
cho đời sống tinh thần của con người thêm phong phú, tạo cho mỗi người có ý thức
chăm sóc cuộc sống của bản thân mình và xây dựng những mối quan hệ xã hội tốt
đẹp và văn minh hơn.
2.1.2 Vai trò của nghị luận xã hội
Việc học làm văn nghị luận xã hội giúp học sinh phát triển năng lực trí tuệ,
hình thành tư duy hợp lý, khoa học, biết cách tìm tòi và xác định chân lý. Mặt
khác, biết cách diễn đạt, phát biểu ý kiến của mình một cách rõ ràng. Sách giáo
khoa Ngữ văn 10 có viết: “Học làm văn nghị luận xã hội còn xây dựng cho học
Ở nước ta, tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các
giống loài, ảnh hưởng xấu sức khoẻ con người là cái giá phải trả cho quá trình tự
do hóa thương mại mới được tiến hành chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây. Theo
đánh giá mới đây của ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp
hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường,Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các
nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines đạt 66 điểm,
Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm,... Còn
theo kết quả nghiên cứu khác vừa qua tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos, Việt
Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều
nhất đến sức khỏe. Thực tế vấn đề môi trường ở nước ta đáng báo động: Rừng tiếp
tục bị thu hẹp; Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng; Ô nhiễm sông ngòi;
Bãi rác công nghệ và chất thải; Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp; Ô nhiễm ở các
làng nghề; Việt Nam cũng đang bị coi là nước có ô nhiễm không khí cao tới mức
báo động.
7
Vấn đề giáo dục ý thức trách nhiệm và tình cảm của học sinh với môi trường
là một quá trình lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức, tâm huyết của nhà trường và tập
thể đội ngũ giáo viên. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ quản lý trong nhà trường phải thấy
được trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường, có những biện pháp giáo dục học
sinh thường xuyên, tổ chức các hoạt động mang tính giáo dục cao và có sức thu hút
học sinh tham gia một cách tự nguyện, thích thú.
Nhận thức được vai trò và trách nhiệm to lớn đó ngành giáo dục và đào tạo
tỉnh Thanh Hóa đã triển khai nhiều hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong
các nhà trường phổ thông trên địa bàn tỉnh.
Thực trạng hoạt động giáo đục bảo vệ môi trường trong trường học ở tỉnh ta
đã được tiến hành từ nhiều năm trước. Đặc biệt, hoạt động này được tăng cường và
vứt bừa bãi giấy gói, bao bì thức ăn, chai lọ, vỏ đồ hộp... Ngoài ra giáo dục cho các
em ý thức tiết kiệm như tận dụng vỏ chai làm đồ dùng, giảm thiểu dùng bao bì
nilon, tránh mua hàng hóa có bao bì quá nhiều và cầu kỳ, nên chọn mua sản phầm
có ghi "sản phẩm xanh", sản phẩm không độc hại với môi trường, hàng hóa có bao
bì dễ thiêu hủy trong tự nhiên hoặc có thể dùng lại nhiều lần, không tìm thức ăn từ
đặc sản quý hiếm, . . .
Tiếp tục mở các chuyên đề bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho giáo viên về
giáo dục môi trường nhằm nâng cao khả năng tích hợp, lồng ghép giáo dục môi
trường trong các giờ học chính khóa. Khắc phục những khiếm khuyết khi lồng
ghép, tích hợp về giáo dục môi trường trong giảng dạy như liên hệ gượng ép, ôm
đồm, tản mạn hoặc lạm dụng thuật ngữ khoa học chuyên ngành về môi trường, khí
hậu, làm thông tin giáo dục môi trường trở nên xa lạ, không vừa sức của học sinh
và thực tiễn ở địa phương.
Gắn việc giáo dục bảo vệ môi trường với công tác tuyên truyền phổ biến pháp
luật trong nhà trường. Bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến pháp luật như: Luật
giáo dục, luật giao thông đường bộ, luật phòng chống ma túy, tất cả các trường
phải dành thời lượng và có hình thức thích hợp để triển khai phổ biến Luật Bảo vệ
môi trường.
Huy động mọi nguồn lực, từng bước đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất trường
học, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường về ánh sáng, không khí, về cung cấp nước
sạch, và có công trình vệ sinh đạt chuẩn. Các trường có đủ tranh giáo khoa, tài liệu,
báo chí, thiết bị phục vụ công tác giáo dục môi trường. Các trường có điều kiện về
đất đai cần xây dựng vườn trường, góc sinh thái.
Các cấp quản lý giáo dục trong tỉnh phải thường xuyên quan tâm kiểm tra, giám
sát việc thực hiện các nội dung về giáo dục môi trường nêu trên, coi đó như một
hoạt động chuyên môn của ngành. Song song với việc phê bình, xử lý các hiện
tượng buông lỏng hoặc xem nhẹ công tác giáo dục môi trường, cần chú trọng việc
9
thông, bệnh thành tích trong giáo dục, bạo hành gia đình, lối sống thờ ơ vô cảm,
đồng cảm và chia sẻ... Hiện tượng đời sống có thể là những hiện tượng có ý nghĩa
tích cực (nếp sống đẹp trong đời sống gia đình hiện nay…). Cũng có thể là những
hiện tượng có ý nghĩa tiêu cực (nạn bạo hành gia đình, tiêu cực trong thi cử, bạo
lực học đường…). Thậm chí có những hiện tượng đời sống vừa có ý nghĩa tích cực
lại vừa có ý nghĩa tiêu cực (vai trò của internet đối với đời sống con người). Do
vậy, người viết cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đề bài để điều chỉnh nội dung
nghị luận cho hợp lí, tránh làm bài chung chung, không phân biệt được mặt tích
cực hay tiêu cực.
Các thao tác thường sử dụng: Giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh,
bác bỏ, bình luận.
Cách làm bài
Ở phần mở bài của kiểu bài này, người viết phải giới thiệu khái quát hiện
tượng đời sống cần nghị luận
Phần thân bài bao gồm các luận điểm:
- Luận điểm 1: Giải thích sơ lược hiện tượng đời sống: làm rõ những hình
ảnh, từ ngữ, khái niệm trong đề bài (tuy nhiên, đây không phải là thao tác bắt
buộc).
- Luận điểm 2: Nêu rõ thực trạng (các biểu hiện và ảnh hưởng) của hiện
tượng đời sống (Thực tế vấn đề đang diễn ra như thế nào? Có ảnh hưởng ra sao
đối với đời sống (tích cực, tiêu cực), thái độ của xã hội đối với vấn đề ?). Chú ý
liên hệ với tình hình thực tế xã hội, địa phương để đưa ra những dẫn chứng sắc
bén, thuyết phục, từ đó làm nổi bật tính cấp thiết phải giải quyết vấn đề.
- Luận điểm 3: Lí giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đời sống: Đưa ra các
nguyên nhân nảy sinh vấn đề (các nguyên nhân từ chủ quan, khách quan, do tự
nhiên, do con người ...).
- Luận điểm 4:
+ Đề xuất giải pháp để giải quyết hiện tượng đời sống: Từ nguyên nhân nảy
sinh vấn đề, đề xuất phương hướng giải quyết (trước mắt, lâu dài). Chú ý chỉ rõ
những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp với những lực lượng
Đề xuất các giải pháp
Kết bài: Bài học nhận thức và hành động của bản thân
12
3.2.2 Thực hành nghị luận về một hiện tượng đời sống
§Ò 1: Hãy phát biểu suy nghĩ của anh – chị về tầm quan trọng của môi trường tự
nhiên đối với cuộc sống con người.(Bài viết khoảng 600 từ)
Hướng dẫn:
Ý cần nêu ở phần thân bài
- Phân tích vấn đề (Giải thích- Nêu thực trạng- Nguyên nhân- Ích lợiTác hại)
- Môi trường tự nhiên gồm nhiều yếu tố như nước, không khí, đất.
- Môi trường tự nhiên rất quan trọng đối với cuộc sống con người
(phân tích và dẫn chứng)
- Hiện nay, môi trường đã và đang bị phá hủy ở nhiều nơi, tác động
xấu đến đời sống cộng đồng (nêu một vài dẫn chứng về tình trạng ô
nhiễm không khí, đất đai, nguồn nước, những thiên tai dây thiệt hại
lớn lao cho con người )
- Có nhiều nguyên nhân khiến môi trường bị tàn phá, do những yếu tố
tự nhiên, nhưng chủ yếu là do nhận thức và hành động sai trái của
con người (phân tích và dẫn chứng)
Đề 2: Trước hiện tượng cá chết dọc theo bờ biển các tỉnh miền Trung (trong tháng
4 năm 2016), từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, hãy phát
biểu suy nghĩ của anh – chị về những tác hại của hiện tượng ấy đến đời sống hiện
nay và ý thức bảo vệ môi trường của con người . (Bài viết khoảng 600 từ).
Hướng dẫn:
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Mở bài, thân bài, kết luận.
(Phần mở bài nêu được vấn đề; phần thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn
văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần kết bài phải kết luận
++Nâng cao ý thức con người.
++Tăng cường sự quản lí của nhà nước.
++Tiến hành áp dụng công nghệ khoa học để giải quyết hiện trạng ô nhiễm nước
thải hiện nay.
++Hiện tượng cá chết vẫn đang đặt ra cho xã hội những bài toán khó để. Để khắc
phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, chống ô nhiễm biển, du lịch biển cần sự
tham gia của các cấp, các ngành và mọi thành phần của xã hội.
Đề 3:
“Tin hạn – mặn mùa này về châu thổ
Đồng Tháp Mười trong đó có An Giang
Nơi tập trung vùng đất lúa bạt ngàn
Quê Út Nhỏ nghe sao mà thương quá
Nếu lúa thất chắc Út rời thôn dã
Bỏ xuồng trôi không chở bạn vần công
Út sẽ phải tìm về nơi phố đông
Làm công nhân tạm thời gian hạn – mặn
Mong ngọt nước phù sa về bồi lắm
Lúa đồng xa trĩu hạt sắc tươi vàng
Hết tha hương Út trở lại thôn làng
Kẻo mai một hương đồng phai theo gió !”
(Tâm sự của độc giả Sông Quê trong bài phản ánh “Miền Tây hạn, mặn nghiêm
trọng nhất 100 năm, VnExpress” )
Anh chị hãy viết một bài văn nghị luận khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ
của mình về tình trạng hạn hán kéo dài tại Đồng bằng sông Cửu Long thời gian
vừa qua.
Hướng dẫn:
1. Phân tích tác phẩm để rút ra vấn đề nghị luận:
Bằng những câu thơ với giọng buồn trĩu nặng cùng âm điệu trầm lắng, người viết
đã gợi lên “vùng đất lúa bạt ngàn” An Giang mùa hạn hán, ngập mặn; nỗi lo lắng
cho những người con phải rời bỏ quê hương, tha hương cầu thực nơi “phố đông”.
khu vực nuôi tôm đúng kỹ thuật.
2.2) Hành trình người nông dân đi tìm cơ hội việc làm nơi thành thị (luận điểm
phụ).
a) Thực trạng: Khi người nông dân bị tước đoạt sinh kế tại chính mảnh đất quê
hương mình, họ có xu hướng bỏ làng, bỏ đất, tha hương cầu thực nơi thành thị.
+ Những người vợ trẻ không chịu nổi cảnh nghèo đói bỏ lại gia đình, kiếm tìm
hạnh phúc mong manh ở xứ lạ.
+ Bao em gái “bỏ xuồng trôi”, lên thị thành đông đúc.
b) Nguyên nhân: Nghèo đói do khan hiếm việc làm ở nông thôn. Cư dân nông
thôn thiếu trình độ lao động, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội.
c) Hậu quả: Tạo ra áp lực việc làm ở đô thị khiến nạn thất nghiệp gia tăng. Nguy
cơ đánh mất những giá trị truyền thống trước những cạm bẫy, xô bồ của cuộc sống
đông đúc nơi thị thành, “hương đồng bay theo gió”.
d) Giải pháp:
- Nâng cao, bồi dưỡng trình độ lao động cho lực lượng lao động nông thôn.
- Tận dụng những ưu thế địa phương để tạo ra các cơ hội việc làm cho người dân
nông thôn.
- Người trẻ cần bồi đắp nhận thức sâu sắc về các vấn đề này, chung tay giải quyết
trong khả năng của mình.
15
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết quả đạt được
- Ý thức giáo dục về môi trường của học sinh đã được nâng cao qua việc phát huy
vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp triển khai
hoạt động dọn dẹp vệ sinh đường phố, trồng cây xanh, trồng hoa dọc theo các trục
đường giao thông. Việc mở rộng phạm vi hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ
góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh mà còn có ý nghĩa tác
- Ngoài giờ học, quá trình tự học, tự tìm kiếm tư liệu của học sinh cũng tăng lên
(Qua yêu cầu sưu tầm tài liệu làm dẫn chứng cho kiểu bài này). Nhờ vậy, khi làm
bài, dẫn chứng từ thực tế đời sống được phát huy, nhiều vấn đề mang tính thời sự
được học sinh đưa vào rất sinh động.
16
- Hơn hết là chất lượng học tập của các em tăng lên rõ rệt :
Kết quả giờ học thực nghiệm
Trước khi áp dụng:
Lớp
Sĩ số
10A6
11A8
12A5
45
46
44
Không hứng thú
Số lượng
30
35
30
%
66,6
2
4,4
2
4,3
4
9,1
Hứng thú
Số lượng %
43
95,6
44
95,7
40
90,9
17
III. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Trên đây là một số giải pháp giáo ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
THPT trong làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống được đúc kết từ
thực tế giảng dạy. Bên cạnh việc đem đến cho học sinh cảm hứng khi làm văn, đạt
điểm số cao, có kết quả tốt trong các kỳ thi mục đích cao hơn là giáo dục các em
kỹ năng sống, nhận thức các giá trị cuộc sống cũng như trách nhiệm của bản thân
đối với môi trường sống xung quanh mình.
Đầu tư nghiêm túc cho việc dạy văn NLXH, giáo viên dễ nắm bắt được tâm
tư, tình cảm, mơ ước, cá tính, óc phán đoán…của học sinh hơn là ở bài NLVH (vì
khi làm văn NLVH, các luận điểm học sinh nêu ra thường có sự tương đồng). Nếu
ngắn gọn, cho học sinh giao lưu thể hiện suy nghĩ của mình và rèn luyện kỹ năng
giao tiếp.
Về phía sở giáo dục và các cơ quan ban ngành
Đề nghị các sở giáo dục, sở tài nguyên môi trường, các cấp, các ngành chủ
động xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp nhằm cụ thể hóa chương trình
thành các hoạt động thiết thực, lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường trọng tâm
thành những hoạt động trọng điểm trong các chương trình hành động của học sinh
trên địa bàn toàn tỉnh. Cụ thể như: Thực hiện ngày chủ nhật xanh; Tổ chức các
hoạt động hưởng ứng phong trào bảo vệ môi trường; Tổ chức tuyên truyền, tập
huấn nâng cao năng lực hoạt động bảo vệ môi trường cho cán bộ đoàn và đoàn
viên, thanh niên.
Đặc biệt trong quá trình phối hợp, sở tài nguyên môi trường, sở giáo dục,
cùng với tỉnh đoàn, huyện đoàn tổ chức xây dựng kế hoạch lồng ghép các nội dung
bảo vệ môi trường vào trong các hoạt động sinh hoạt hè, định hướng cho các em
tham gia bảo vệ môi trường, thực hiện nếp sống văn minh, mỹ quan đô thị, xây
dựng môi trường sống xanh - sạch - đẹp.
Thanh hoá, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Đỗ Thị Huyền
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách Giáo viên Văn 10, 11,12 chương trình chuẩn và chương trình nâng caoBộ GDĐT- NXB Giáo dục 2006
PHỤ LỤC
Bộ GDĐT sẽ có nhiều hoạt động bảo vệ môi trường, biển đảo
Nhằm hưởng ứng Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam năm 2016 và Ngày Môi
trường thế giới 5/6/2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ đạo các cơ sở giáo
dục chuẩn bị tốt cho những ngày lễ này. Trong đó, chú trọng đến trồng cây bảo
vệ môi trường và tuyên truyền giáo dục học sinh, sinh viên về bảo vệ chủ quyền
biển đảo.
Giáo dục tuyên truyền về tài nguyên biển đảo
Trong thời gian sắp tới, Bộ GDĐT sẽ chỉ đạo các cơ sở giáo dục lồng ghép
các nội dung giáo dục tuyên truyền vào chương trình giáo dục về tài nguyên biển
đảo, chủ quyền biển đảo các cấp học, các trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Tuyên truyền và phổ biến các chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,
bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc.
Học sinh đạp xe bảo vệ môi trường biển, đảo
Tuyên truyền những cơ sở, chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ
quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; các quy định
của pháp luật trong nước, các nước trong khu vực Biển Đông và quốc tế về biển,
đảo; các văn bản thỏa thuận song phương và đa phương giữa Việt Nam với các
quốc gia, các tổ chức quốc gia, các tổ chức quốc tế có liên quan đến biển, đảo Việt
Nam
Tổ chức chiến dịch ra quân làm sạch bãi biển và các khu sinh thái biển, các
hoạt động thể thao dưới nước hoặc trên bờ biển; Thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến
sĩ, đồng bào đang sinh sống tại các bãi ngang và hải đảo có nhiều khó khăn…
Phát động trồng cây xanh, bảo vệ môi trường
Theo công văn hướng dẫn của Bộ TN&MT về hưởng ứng Ngày Môi trường
thế giới 5/6/2016, Bộ GDĐT yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, vận động,