Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận về tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết trong SGK ngữ văn 11 – 12 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÝ THƯỜNG KIỆT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 – 12

Người thực hiện: Lê Thị Hồng Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Lý Thường Kiệt
Lĩnh vực: Ngữ Văn

Thanh Hóa, năm 2017
1


A.Đặt vấn đề
I. Lý do chọn đề tài:
Thứ nhất: Như chúng ta đã biết, việc hình thành và rèn luyện kỹ năng trong
quá trình làm văn cho học sinh là vô cùng cần thiết. Việc làm này cả 3 phân
môn: Tiếng Việt, Đọc văn, Làm văn cùng đảm nhận, trong đó phân môn Làm
văn giữ vai trò chủ đạo. Phân môn này giúp học sinh hình thành một hệ thống kỹ
năng đảm bảo cho quá trình hoàn thiện một bài văn có hiệu quả: từ kỹ năng tìm
hiểu đề, tìm ý, lập ý, lập dàn ý cho đến lập luận (nêu luận điểm, tìm luận cứ, sắp
xếp luận điểm, luận cứ ….) rồi mở bài, chuyển ý, chuyển đoạn, kết bài … Trên
cơ sở những kỹ năng cơ bản đó, đối với mỗi thể loại, giáo viên phải hình thành
cho học sinh những kỹ năng riêng phù hợp với đặc trưng thể loại (gọi là mô hình
chung) như nghị luận về một tác phẩm kịch, nghị luận về một tác phẩm thơ,

trình viết bài của học sinh. Vì vậy tôi luôn chú trọng đến vấn đề này. Tôi xin bày
tỏ cùng bạn bè, đồng nghiệp một số giải pháp mà tôi gọi đó là kinh nghiệm rút
ra từ thực tiễn giảng dạy với đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
rèn luyện kĩ năng nghị luận về tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết trong
sách giáo khoa Ngữ Văn 11- 12
II. Phạm vi, phương pháp nghiên cứu:
1.Phạm vi nghiên cứu:
Trong chương trình THPT ở cả 3 khối lớp, tỉ lệ các tác phẩm truyện ngắn và
tiểu thuyết tương đối lớn. Nhưng về phạm vi đề tài này tôi chỉ đề cập một số tác
phẩm của chương trình Ngữ Văn 11- 12 và một số phần kiến thức làm văn, lí
luận văn học có liên quan. Cụ thể:
- Bài lí luận: Đọc truyện ngắn và tiểu thuyết (SGK Ngữ Văn 11, chương
trình Nâng cao ,tập 1)
- Bài: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi (SGK Ngữ Văn
12, tập 2.
- Một số tác phẩm truyện ngắn, đoạn trích tiểu thuyết:
+ Hai đứa trẻ (Thạch Lam- SGK Ngữ Văn 11, tập 1)
+ Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân- SGK Ngữ Văn 11, tập 1)
3


+ Hạnh phúc của một tang gia (Trích tiểu thuyết “Số đỏ”- Vũ Trọng PhụngSGK Ngữ Văn 11, tập 1 )
+ Chí Phèo (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1)
+ Đời thừa (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1)
+ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài- SGK Ngữ Văn 12, tập 2 )
+ Vợ nhặt (Kim Lân - SGK Ngữ Văn 12, tập 2)
+ Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi- SGK Ngữ Văn 12, tập 2)
+ Một người Hà Nội (Nguyễn Khải- SGK Ngữ Văn 12, tập 2 )
+ Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu- SGK Ngữ Văn 12, tập 2)
2. Phương pháp nghiên cứu:

III.Giải pháp và cách thức thực hiện:
Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc hình thành và rèn luyện kĩ năng cho
học sinh trong quá trình giảng dạy, tôi luôn trăn trở để tìm ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề. Vì vậy tôi đã chú trọng thực hiện một số giải
pháp sau:
1. Giúp học sinh nắm vững và vận dụng linh hoạt một số kiến thức về tác
giả có liên quan, hỗ trợ hữu ích cho việc đọc - hiểu văn bản:
Trên thực tế, chúng ta biết trước khi tiếp cận các đề văn về một vấn đề trong
tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết, học sinh thường phải trải qua
quá trình đọc - hiểu các giá trị về nội dung, tư tưởng cũng như những nét độc
đáo về nghệ thuật của tác phẩm đó rồi mới viết bài. Như vậy khâu đầu tiên là
đọc - hiểu thật tốt văn bản. Để đọc- hiểu hiệu quả văn bản, tôi hướng dẫn các em
hiểu và vận dụng một số kiến thức có giá trị từ cuộc đời, phong cách hoặc một
số thông tin liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp nhà văn. Bởi lẽ tư tưởng, tình
cảm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn chi phối trực tiếp đến quá
trình sáng tạo nghệ thuật, thậm chí in đậm dấu ấn trong những hình tượng nhân
vật, qua những trang viết của những nhà văn.
Chẳng hạn: Khi đọc- hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), học sinh sẽ
có cái nhìn sâu sắc hơn về tình cảm mà nhà văn dành cho những con người. đặc
biệt những trẻ thơ cũng như cảnh vật quê hương nơi phố huyện nghèo nếu các
em nắm vững được những lời tâm sự của chị gái nhà văn là Nguyễn Thị Thế về
5


kỉ niệm tuổi thơ của 2 chị em: “ Năm Thạch Lam lên 7 tuổi, cha của ông qua
đời, cảnh nhà khó khăn, mẹ Thạch Lam phải tảo tần buôn bán để nuôi con
cái ăn học. Các anh của Thạch Lam đi học ở Hà Nội thi thoảng mới về.
Thạch Lam và chị Thế được mẹ giao trông coi một cửa hàng tạp hoá”.Trong
cuốn Hồi kí về gia đình Nguyễn Tường, chị Thế tâm sự: Tôi không ngờ em
Sáu (tên lúc nhỏ của nhà văn Thạch Lam) lại có trí nhớ dai đến thế như

cây xà nu từ đó. Ông thực sự xúc động trước cây xà nu, bởi ấy là một loại cây
hùng vĩ và cao thượng, man dại mà trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ
nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự
ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô
tận” .
Như vậy cung cấp và giúp học sinh hiểu kỹ những kiến thức về tác giả sẽ là
một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả đọc – hiểu văn bản. Từ đó
sẽ hình thành ở học sinh khả năng tư duy, vận dụng, liên kết kiến thức trong việc
viết bài.
2. Nắm vững đặc trưng thể loại và vận dụng có hiệu quả trong khâu đọc –
hiểu văn bản.
Sẽ thật khó thành công khi đọc - hiểu một văn bản mà học sinh không hiểu,
không nắm được kiến thức về đặc trưng thể loại. Vì vậy trong quá trình dạy các
tiết văn xuôi, tôi rất quan tâm đến việc hướng dẫn các em nắm vững và vận dụng
kiến thức đó khi đọc truyện và tiểu thuyết.
a. Về hình tượng nhân vật:
Đây là yếu tố đầu tiên, quan trọng hàng đầu của thể loại truyện ngắn và tiểu
thuyết. Khi đọc văn bản học sinh cần phân biệt đâu là nhân vật chính, đâu là
nhân vật phụ và các nhân vật được chú trọng miêu tả theo phương diện nào. Từ
đó hiểu được ý nghĩa của các phương tiện mạ tác giả đã sử dụng trong việc xây
dựng nhân vật.
Ví dụ: Đọc truyện “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), các em cần thấy được ở
hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài không chú trọng miêu tả những nét chân dung,
ngoại hình mà ông quan tâm miêu tả tâm lý của Mị. Từ đó để khắc hoạ cuộc đời,
số phận bất hạnh cũng như ngợi ca sức sống tiềm tàng, mãnh liệt ở người con
7


gái Tây Bắc này. Hoặc tương tự đọc truyện “Vợ nhặt”, học sinh cần thấy rằng ở
nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân không quan tâm nhiều trong việc miêu tả chân dung

đan lồng 2 câu truyện: Đó là câu chuyện của cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man
và cuộc đời bi tráng của Tnú. Trong đó câu chuyện về cuộc đời Tnú là câu
chuyện chính. Và học sinh phải nắm vững những sự kiện liên quan đến cuộc đời
của nhân vật này: Sinh ra, lớn lên như thế nào? Cuộc đời, số phận của Tnú ra
sao? …
Cùng với việc nắm cốt truyện, tôi lưu tâm học sinh để ý đến các chi tiết trong
tác phẩm.
Chi tiết được hiểu là những biểu hiện cụ thể, lắm khi nhỏ nhặt nhưng lại cho
thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng, đồng thời thể hiện sự
quan sát và nghệ thuật kể chuyện của nhà văn. Ví dụ đọc “Chiếc thuyền ngoài
xa’ của Nguyễn Minh Châu học sinh cần nắm vững ý nghĩa của chi tiết cái vái
lạy của người đàn bà hàng chài, chi tiết ngọn đèn chị Tý trong tác phẩm “ Hai
đứa trẻ” (Thạch Lam), chi tiết bát cháo hành thị Nở, tiếng chửi của Chí Phèo
trong truyện ngắn “Chí Phèo” – Nam Cao, chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa
xuân “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài. Hoặc chi tiết khiêng bàn thờ ba má sang gửi
nhà chú Năm của chị em Chiến – Việt trong tác phẩm “Những đứa con trong
gia đình” – Nguyễn Thi, rồi câu chuyện về cây si già ở đền Ngọc Sơn trong
truyện ngắn “Một người Hà Nội” – Nguyễn Khải …
Những chi tiết này có giá trị lớn đối với tác phẩm. Vì vậy việc nắm vững,
hiểu rõ các chi tiết nhỏ để vận dụng trong quá trình làm bài là rất hữu ích.
c. Bối cảnh đời sống xã hội :
Đọc – hiểu văn bản cần thấy được bối cảnh đời sống xã hội, lịch sử, văn hoá
mà nhà văn sáng tác. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để học sinh hiểu
giá trị văn bản. Vì vậy tôi luôn ý thức việc cung cấp kiến thức này cho các em:
Chẳng hạn học sinh sẽ không hiểu hết được tình đời, tình người, cũng như
tinh thần lạc quan của người lao động trong truyện ngắn “ Vợ nhặt ”, đặc biệt là
niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào người lao động, nếu các em không có hiểu
biết về bối cảnh của lịch sử xã hội Việt Nam vào năm 1945. Đó là nạn đói thảm
khốc chưa từng có trong lịch sử – nạn đói năm Ất Dậu (1945) với hơn 2 triệu
9

nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. Mục đích của tiết học này ở cả
10


hai chương trình là đều hình thành mô hình chung cho học sinh khi giải quyết
một vấn đề trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. Giáo viên có thể triển khai tiết
dạy bằng nhiều hướng đi khác nhau. Có thể từ những đề văn rồi rút ra các bước
cần thiết đảm bảo trong bài làm cho các em. Cụ thể:
Bước 1: giới thiệu tác giả hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận.
Bước 2: Phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề
hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.
Bước 3: Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.
Từ mục tiêu đó, trong quá trình hướng dẫn giải đề, giáo viên cần linh hoạt
để giúp học sinh hình thành một dàn ý cụ thể hơn so với từng kiểu đề nếu không
vẫn chỉ là một mô hình trừu tượng, chung chung trong tư duy của học trò.
Nhận thức rõ điều này, tôi đã thực hiện từng công việc cụ thể ở khâu hướng
dẫn giải để từ đó giúp các em có kỹ năng làm bài hiệu quả hơn. Cụ thể:
a). Bước 1: Ở bước này, tôi lưu ý học sinh về đối tượng (hay còn gọi là kiểu
đề) của bài văn nghị luận về tác phẩm, về đoạn trích văn xuôi là vô cùng phong
phú, đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật, có thể chỉ là một phương
diện, thậm chí chỉ là một khía cạnh nhỏ của nội dung hoặc nghệ thuật … trên cơ
sở đó theo mỗi chuyên đề tôi giới thiệu cho học sinh những dạng câu hỏi (đề
văn) cơ bản.
Chẳng hạn: sau khi đọc – hiểu “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, tôi giới
thiệu hệ thống câu hỏi ôn tập cho các em bao gồm:
1. Trình bày hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề tác phẩm “Vợ nhặt”?
2. Phân tích tình huống truyện “Vợ nhặt”?
3. Vẻ đẹp của các nhân vật: Tràng, Thị, bà cụ Tứ?
4. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong phần kết thúc truyện “Vợ nhặt”?
5. Hình ảnh bữa cơm ngày đói trong truyện ngắn “Vợ nhặt”?

phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi, cần nghị luận (nói cách khác cần nêu vấn đề
nghị luận), tôi cụ thể hoá cho học sinh những nội dung cần triển khai để có một
mở bài thu hút người đọc.
Cụ thể: học sinh có thể mở bài trực tiếp hay gián tiếp tuỳ theo khả năng, năng
lực riêng của mình. Thông thường các em hay giới thiệu về tác giả, tác phẩm rồi
12


nêu luận đề. Nhưng thực tế không phải học sinh nào cũng biết cách giới thiệu
hợp lý. Ngược lại đã không ít những học sinh đã trình bày rất dài dòng, thậm chí
lan man tất cả những thông tin tiểu sử về nhà văn. Xuất phát từ thực tế đó tôi
định hướng cho học trò một số cách mở bài mà tôi cho là có hiệu quả.
Thứ nhất, học sinh có thể vận dụng những nhận định đánh giá liên quan đến
tác giả kết hợp với việc giới thiệu những thông tin cần thiết về tác giả, tác phẩm
trong phần mở bài từ đó nêu luận đề.
Ví dụ: đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ trong truyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân? Học sinh có thể mở: Kim Lân (1920-2007)là một
trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn học hiện đại Việt Nam. Ông
là nhà văn một lòng một dạ đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên
thuỷ của cuộc sống nông thôn (Nguyên Hồng). “Vợ nhặt” (1954) là một trong
những tác phẩm ưu tú của Kim Lân. Tác phẩm được viết trên nền hiện thực
của nạn đói năm 1945- Ất Dậu. Sau đó in trong tập truyện “Con chó xấu xí”
(1962). Trong tác phẩm, Kim Lân không chỉ thành công ở việc xây dựng tình
huống truyện độc đáo mà còn hấp dẫn người đọc bởi tài năng miêu tả tâm lý
nhân vật, đặc biệt là diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ .
Thứ 2, học sinh có thể trích dẫn những ý kiến hay những lời thơ phù hợp với
đề bài cần triển khai.
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh triển khai đề: Phân tích giá trị nhân đạo của
truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), tôi hướng dẫn học sinh một trong
các cách sau: lấy nhận định của Nam Cao trong truyện ngắn Đời thừa để mở:

3, Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông.
(Sao chiến thắng – Chê Lan Viên)
4, Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành
Đó là những lời thơ học sinh có thể vận dụng linh hoạt vào phần mở bài cho
các đề:
14


- Vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ qua hai tác phẩm
“Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi) và “Rừng xà nu” (Nguyễn
Trung Thành)?
- Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng nhận vật Tnú (“Rừng xà nu” – Nguyễn
Trung Thành) và hình tượng nhân vật Việt (“Những đứa con trong gia đình” –
Nguyễn Thi)?
- Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua hai tác phẩm “Những đứa con trong
gia đình” (Nguyễn Thi) và “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành)?
- Nét chung và riêng trong tính cách của Chiến và Việt trong tác phẩm
“Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi)?
Thứ 3, học sinh có thể vào bài bằng chính ấn tượng, tình cảm của mình về
tác phẩm, đoạn trích văn xuôi hoặc bằng những liên tưởng, tưởng tượng để mở
bài.
Ví dụ: Đề bài: Cảm nhận hình ảnh đôi bàn tay Tnú trong tác phẩm “Rừng
xà nu” – Nguyễn Trung Thành? Học sinh có thể mở: Gấp lại trang văn “Rừng
xà nu” của Nguyễn Trung Thành, tôi thực sự cảm phục hình tượng cây xà nu
anh dũng, kiên cường trong lửa đạn chiến tranh với một sức sống bất diệt.
Tôi cũng không tránh khỏi xót xa nhưng cũng rất đỗi tự hào về hình ảnh

+ Về phương diện nội dung.
+ Về phương diện nghệ thuật.
Ý 4: Đánh giá chung về vai trò giá trị của nhan đề đó của tác phẩm.
Ví dụ 2: Hoặc hướng dẫn học sinh triển khai kiểu đề về tình huống truyện, tôi
cũng giúp các em hình thành kỹ năng chung để vận dụng cho nhiều trường hợp.
Chẳng hạn các tác phẩm có câu hỏi tình huống truyện như: “Chữ người tử tù” –
Nguyễn Tuân, “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” – Vũ Trọng
Phụng), “Vợ nhặt” – Kim Lân, “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu,
… Từ một đề học sinh sẽ biết cách khai thác các ý cho các đề tương tự với hệ
thống luận điểm chặt chẽ như sau:
Ý1: Giới thiệu khái niệm, vai trò phân loại tình huống truyện trong tác phẩm
văn xuôi.
Ý2: Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm đó:
16


+ Giới thiệu hoàn cảnh ra đời, xuất xứ, cốt truyện của tác phẩm.
+ Nội dung tình huống truyện
+ Ý nghĩ tình huống truyện (về nội dung, về nghệ thuật)
Ý3: Đánh giá chung về tình huống truyện.
Trên cơ sở hình thành hệ thống luận điểm, học sinh sẽ không bỏ sót ý, lặp ý
hoặc thừa ý khi triển khai bài viết. Hơn nữa các em sẽ hình thành kỹ năng triển
khai bài viết một cách linh hoạt, khoa học, sáng tạo hơn.
*) Phần kết bài:
Nếu mở bài là phần thu hút, tạo ấn tượng, có thể nói là gọi mời người đọc
đến với bài viết thì kết bài có thể xem là phần neo lại lòng người những ấn
tượng về bài viết đó. Vì vậy, tôi nghĩ phần kết bài cũng không kém phần quan
trọng đối với bài văn của các em. Thông thường học sinh chỉ viết bài cho có,
thậm chí thiếu kết bài do không cân đối được thời gian hoặc chưa nhận thức rõ ý
nghĩa, tầm quan trọng của khâu kết bài. trong quá trình dạy, tôi đã rất chú ý đến

biết về văn hoá Tây Nguyên: đó là những sinh hoạt văn hoá cộng đồng tại nhà
Rông, rồi tiếp nhận truyện ngắn “Một người Hà Nội” – Nguyễn Khải các em
không thể không vận dụng những hiểu biết về lịch sử văn hoá của vùng đất ngàn
năm văn hiến – Hà Nội.
IV. Hiệu quả:
Qua việc tiến hành những giải pháp trên, tôi đã thu được những kết quả khả
quan xin được chia sẻ cùng bạn bè, đồng nghiệp.
Khảo sát kết quả rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận về tác phẩm văn
xuôi.
Ví dụ đề:
Phân tích ý nghĩa hành động cắt dây trói cứu A Phủ của nhân vật Mị trong
truyện ngấn “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

18


Giỏi

Nội
dung
Kĩ năng

Buổi
đầu
0

Khá

Buổi sau



2

4,4%

18

Buổi sau
16

35,5%

Buổi đầu
7

15,6%

Buổi
sau
0

Kém
Buổi
Buổi
đầu
sau
1 2,2 0

6%


35,5%

10

22,2%

0

2

0

1%

(mở

bài,
thân
bài, kết
bài)
Kĩ năng

0

4

8,9%

10


+ Bài đầu
+ Bài cuối

Giỏi
0
4

0%
8.9%

Khá
10
25

22,2%
55,6%

TB
23
16

51,1%
35,5%

Yếu
10
0

22,2%


Tôi thiết nghĩ, bản thân mỗi giáo viên cần đầu tư thích đáng hơn nữa trong
quá trình giảng dạy, đặc biệt ở những giờ hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản
và các tiết dạy hình thành và rèn luyện kỹ năng làm văn cho học trò. Có thể nói
đây là công việc thường xuyên, liên tục mà mỗi giáo viên cần nhận thức rõ và
thực hiện tốt hơn nữa để không ngừng nâng cao hiệu quả cảm thụ tác phẩm văn
học, đặc biệt là quá trình hoàn chỉnh một bài văn đạt đảm bảo chất lượng cao.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã từng tiến hành trong quá trình
hình thành và rèn luyện kỹ năng nghị luận một vấn đề trong tác phẩm truyện
ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết. Những giải pháp đó có thể chưa phải là tối ưu.
Vì lẽ đó tôi rất mong tất cả bạn bè, đồng nghiệp góp ý xây dựng để SKKN của
tôi có hiệu quả thiết thực hơn nữa, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn
Ngữ Văn trong nhà trường nói riêng và địa bàn toàn tỉnh nói chung.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Thanh Hoá, ngày 06 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác
Người viết

Lê Thị Hồng Hạnh

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 11 – 12, nhà xuất bản GD Việt Nam
2. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức – kỹ năng môn Ngữ văn - nhà
xuất bản GD Việt Nam 2010
3. Kỹ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 11 – Nguyễn Kim Phong chủ biên

2
2

phẩm cho học sinh ………………………………………………….
II. Thực trạng ở trường THPT ……………………………………
1. Đối với giáo viên …………………………………………………
2. Đối với học sinh ………………………………………………….
III. Giải pháp và cách thức thực hiện ……………………………….
1. Giúp học sinh nắm vững và vận dụng linh hoạt một số kiến thức

3
3
3
3

về tác giả có liên quan, hỗ trợ hữu ích cho việc đọc – hiểu văn bản
2. Nắm vững kiến thức đặc trưng thể loại và vận dụng có hiệu quả
trong khâu đọc hiểu văn bản ………………………………………..
3. Từ đọc hiểu văn bản đến hình thành kỹ năng làm bài cho học
sinh thông qua hướng dẫn giải đề …………………………………..
4. Hướng dẫn học sinh vận dụng linh hoạt vốn sống, vốn hiểu biết
về đới sống văn hoá xã hội trong quá trình viết bài …. …………….
IV. Hiệu quả: ……………………………………………………….
1. Với học sinh ……………………………………………………..
2. Với giáo viên …………………………………………………….
C. Kết luận và đề xuất ………………………………………………
Tài liệu tham khảo ………………………………………………….

4
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status