PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, thời kỳ mà tri thức và trí tuệ sáng tạo của con người
được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, đòi hỏi ngành Giáo dục phải
đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện nhằm tạo ra những con người có đủ kiến thức,
năng lực sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt làm chủ đất nước.
Theo yêu cầu đổi mới, việc thiết kế bài học của GV phải chuyển trọng tâm
từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của học sinh trong
quá trình lĩnh hội kiến thức của bài học. Khi thiết kế bài học, giáo viên phải xác
định rõ ràng cụ thể mục tiêu dạy học.
Mục tiêu dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, là yêu cầu tối thiểu học sinh
cần đáp ứng, bộc lộ sau bài học. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào mục tiêu đó thì chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới: học sinh không được tham gia tích cực vào các hoạt động
phát hiện và giải quyết các nhiệm vụ học tập, như thế thì không rèn luyên được tính
tích cực, tự lực cho học sinh. Vì vậy giáo viên cần phải biết cách tự xác định mục
tiêu trên cơ sở mục tiêu theo tiêu chuẩn kiến thức kỹ năng.
Vậy thì vấn đề đặt ra là: “Mục tiêu dạy học phải như thế nào để đáp ứng
được yêu cầu đổi mới dạy học ? ”
Mục tiêu dạy học phải bao gồm cả mục tiêu quá trình học và mục tiêu kết
quả học mà trong đó việc xác định và thực hiện mục tiêu quá trình học có thể
đáp ứng được yêu cầu rèn luyện tính tích cực, tự lực, và sáng tạo cho học sinh.
Bởi vì theo lý thuyết thích nghi của J.Piaget: “Tri thức và năng lực nảy sinh và
hình thành từ hoạt động”. Trong dạy học thì đó là những hoạt động nhằm giải
quyết các nhiệm vụ học tập.
Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng,
hiệu quả dạy và học vật lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDHVL ở trường phổ
thông tôi chọn đề tài : “Nghiên cứu xác định và thực hiện mục tiêu dạy học các
kiến thức “ Công của lực điện, thế năng của điện tích trong điện trường ” - Vật
lý 11 THPT. ”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Xác định được mục tiêu dạy học theo yêu cầu đổi mới đối với các kiến
- Vấn đề thiết lập sơ đồ tiến trình nhận thức khoa học đối với trí thức cần dạy.
- Vấn đề xác định mục tiêu dạy học trí thức cụ thể.
- Tổ chức tình huống học tập trong dạy học.
- Vấn đề định hướng khái quát chương trình hóa hành động nhận thức tích
cực tự chủ của học sinh.
- Thiết kế phương án dạy học từng đơn vị kiến thức cụ thể.
2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG, THIẾT KẾ MỤC TIÊU VÀ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC CÁC KIẾN THỨC “CÔNG CỦA LỰC ĐIỆN TRƯỜNG”
“THẾ NĂNG CỦA ĐIỆN TÍCH TRONG ĐIỆN TRƯỜNG” TRONG
CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH, ĐIỆN TRƯỜNG” - VẬT LÝ 11 THPT.
2.1. Tìm hiểu chương trình, SGK vật lý 11 THPT ở cả hai bộ sách cơ bản và
nâng cao.
2.1.1. Về nội dung.
Nội dung các kiến thức nêu trên trong SGK vật lý 11 của cả 2 bộ sách (cơ
bản và nâng cao) có một số điểm khác biệt trong cách tiếp cận vấn đề như sau:
+ SGK vật lý 11 (cơ bản): Xây dựng khái niệm thế năng của diện tích trong diện
tường (SGK vật lý 11 CCGD không xây dựng khái niệm này). Tuy nhiên cách xây
dựng khái niệm thế năng có tính chất áp đặt khi thông báo “lấy số đo thế năng của
diện tích trong điện trường là công mà điện trường có thể sinh ra khi cho diện tích di
chuyển từ điểm mà ta xét đến điểm mốc để tính thế năng (Trang 24- SGK vật lý cơ
bản) và trong trường hợp điện tích q nằm tại điểm M trong một điện trường bất kỳ thì
2
thế năng của điện tích tại một điểm trong điện trường bằng công mà điện trường sinh
ra khi điện tích dịch chuyển từ điểm đang xét đến ∞.
+ SGK vật lý 11 (nâng cao): Đưa ra mối quan hệ giữa công của lực điện
sinh ra khi điện tích dịch chuyển từ điểm này đến điểm kia trong điện trường và
hiệu thế năng của điện tích ở hai điểm đó. Từ đó xây dựng khái niệm hiệu điện
2.1.4. Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm phổ biến của học sinh
Theo tôi có những nguyên nhân sau dẫn đến sai lầm của HS:
2.1.4.1. Về nội dung chương trình, SGK.
- Có những hạn chế như đã nêu ở trên (2.1.1)
2.1.4.2. Về phía giáo viên.
- Một số GV xác đinh mục tiêu bài học hoàn toàn dựa vào hướng dẫn thưc hiện
chương trình phần mức độ cần đạt, thậm chí còn không biết cách xác định mục tiêu.
3
Và do đó các giáo án chỉ tóm tắt lại nội dung chính trong SGK mà không thiết kế một
tiến trình dạy học cụ thể với hệ thống câu hỏi định hướng hoạt động của học sinh.
- Nhiều GV chưa biết cách tổ chức giờ học tạo ra hứng thú nhận thức ở học sinh,
mà chỉ chú ý tới việc thông báo giảng giải những nội dung chính sao cho rõ ràng, dễ
hiểu, hầu như không quan tâm tới việc rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, phát triển
kỹ năng vận dụng và hình thành kiến thức một cách sâu sắc vững chắc.
2.1.4.3. Về phía học sinh
- Khi học lý thuyết thường có thói quen chỉ cần ghi nhớ công thức cuối cùng của định
luật, khái niệm vật lý một cách máy móc. Khi có nhiều công thức phải ghi nhớ thì HS thường
nhầm lẫn và vận dụng thường sai trong những trường hợp có biến đổi so với lý thuyết.
- HS thường ít quan tâm đến những bài tập định tính. Đó là những bài tập
có tác dụng nhằm khắc sâu ý nghĩa của kiến thức vật lý được học.
2.1.5. Các biện pháp khắc phục khó khăn khi dạy học.
- Tổ chức lại nội dung kiến thức: Công của lực điện, Thế năng của điện tích
trong điện trường; nghiên cứu xác định mục tiêu và thiết kế hoạt động dạy học
thực hiện các mục tiêu đó (dùng chung cho cả hai bộ sách)
- Trong phương án dạy học chúng tôi đặc biệt quan tâm: Thực hiện tốt khâu đảm bảo trình
độ xuất phát cần thiết - đề xuất vấn đề - đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề và hệ thống các câu
hỏi định hướng giúp HS phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ, năng động sáng tạo.
N1 Nur1′
từ M có tọa độ dM đến điểm N có tọa độ dN :
M
N2
N
Do dN = nên AMN = qEd = qEdM – qEdN
● Trường hợp q di chuyển theo đường cong: chia đường
cong đó thành n đoạn thẳng rất nhỏ MN1, N1N2,…Nn-1N:
AMN = A1+A2+…+An = F.MN1cosα1+F.N1N2cosα2+…F.Nn-1 Ncosαn
F
N 2′
N′
x
= =qEdM – qEdN
+ Trường hợp điện tích điểm q > 0, tương tự trên ta cũng tính được công của lực điện
trường : AMN = qEdM – qEdN =qE(dM – dN). Đặt d = dM – dN thì AMN = qEd
Công của lực điện trong sự dich chuyển của điện tích trong điện trường đều từ M đến N là
AMN = qEdM –qEdN , tỉ lện với độ lớn của điện tích trong điện trường đều từ M đến N là A MN =
qEdM – qEdN , tỉ lệ với độ lớn của điện tích, không phụ thuộc vào hình dạng đường đi mà chỉ
phụ thuộc vào điểm đầu M và điểm cuối N của đường đi.
5
ur
ur
ur
ur
tại mọi vị trí của điện tích trong điện trường; F ↑↑ E khi q > 0 và F ↑↓ E khi q < 0.
r
ur
- Công của lực F không đổi, trong sự dịch chuyển của điện tích được độ dời s tính
theo công thức:
A = F.s.cosα
Trường hợp dịch chuyển là đường cong thì tính công của lực F không đổi
trong sự dich chuyển đó bằng cách chia đường cong thành nhiều đoạn đường rất
nhỏ ∆s (coi như là đoạn thẳng thẳng) liên tiếp thì AMN =
∑ F .∆s.cosα
∆s
*Vậy vấn đề đặt ra là :
Công A của điện trường đều( có cường độ E) tác dụng lên điện tích q khi điện tích
này di chuyển từ điểm M( có tọa độ d M) đến điểm N ( có tọa độ d N) trong điện
trường có thể tính theo E, q, dM, dN bằng công thức như thế nào? Công này có
phụ thuộc hình dạng đường đi không?
* Giải pháp cho vấn đề đặt ra như sau :
Áp dụng công thức A = Fscosα để tính công của lực điện trường khi điện tích
điểm q di chuyển trong điện trường từ điểm M( có tọa độ dM) đến điểm N có tọa
độ dN ( với s.cos α là độ dài đại số hình chiếu đường đi lên phương đường sức
của điện trường )
Để tính công trên quãng đường có hình dạng bất kỳ, ta tính tổng của công trên
các đoạn đường rất nhỏ (có thể coi là đoạn thẳng) liên tiếp.
* Thực hiện giải pháp trên như sau:
6
-++
-++
-++
-++
-++
2.2.2. Sơ đồ tiến trình khoa học xây dựng khái niệm: Thế năng của điện tích
trong điện trường đều :
- Mối tương quan giữa công và năng lượng: Công là số đo sự biến đổi năng lượng.
* Một vật ở trong trường trọng lực thì: A12 = mgh1 – mgh2 (1) và A12 = (2)
- Trong công thức (1), tích mgh thay đổi khi vị trí của vật thay đổi từ vị trí h1 đến vị trí h2.
Hiệu của tích mgh ở hai vị trí 1 và 2 bằng công trọng lực sinh ra. Do đó mgh là biểu thức
năng lượng của vật và gọi là thế năng.
- Trong công thức (2), tích thay đổi khi vị trí của vật thay đổi từ vị trí v1 đến vị trí v2. Hiệu
của tích ở hai vị trí 2 và 1 bằng công trọng lực sinh ra. Do đó là biểu thức năng lượng
của vật và gọi là động năng.
* Công thức tính công của lực điện trường trong trường hợp điện trường đều là: AMN = qEdM –qEdN
Công thức tính công của lực điện AMN = qEdM – qEdN
cho thấy có đại lượng nào đặc trưng cho điện tích q trong điện
trường đều mà sự biến đổi giá trị của nó phụ thuộc vào sự thay đổi vị
trí của điện tích và có mối tương quan với công sinh ra bởi lực điện
trường đều tác dụng lên điện tích này?
- Trong công thức (1), tích mgh thay đổi khi vị trí của vật thay đổi từ vị trí h 1 đến
vị trí h2. Hiệu của tích mgh ở hai vị trí 1 và 2 bằng công trọng lực sinh ra. Do đó
mgh là biểu thức năng lượng của vật và gọi là thế năng.
- Trong công thức (2), tích
vị trí v2. Hiệu của tích
mv 2
thay đổi khi vị trí của vật thay đổi từ vị trí v1 đến
2
mv 2
ở hai vị trí 2 và 1 bằng công trọng lực sinh ra. Do đó
2
mv 2
là biểu thức năng lượng của vật và gọi là động năng.
2
- Công thức tính công của lực điện trường trong trường hợp điện trường đều là:
AMN = qEdM –qEdN
* Vậy vấn đề đặt ra là :
Công thức tính công của lực điện AMN = qEdM – qEdN cho thấy có đại lượng nào
đặc trưng cho điện tích q trong điện trường đều mà sự biến đổi giá trị của nó phụ
thuộc vào sự thay đổi vị trí của điện tích và có mối tương quan với công sinh ra
bởi lực điện trường đều tác dụng lên điện tích này?
* Giải pháp của vấn đề này như sau:
Từ công thức AMN = qEdM – qEdN , lập luận để rút ra câu trả lời.
* Thực hiện giải pháp :
- Vế phải của biểu thức là hiệu của tích qEd ở hai vị trí M và N. Do đó có thể
nói công thức AMN = qEdM – qEdN cho thấy công của lực điện trường sinh ra khi
dự trữ cho điện tích, tỉ lệ với điện tích và phụ thuộc vị trí điện tích trong điện trường.
- Mối quan hệ giữa công của lực điện sinh ra trong sự dịch chuyển của điện
tích từ điểm M đến điểm N trong điện trường với hiệu thế năng của điện tích tại
M và N là AMN =WtM –WtN.
2. Mục tiêu đối với kết quả học.
- HS chứng minh lại được công thức AMN = qEdM – qEdN trong tđiện trường đều.
- HS nêu được đặc điểm công của lực điện sinh ra khi điện tích điểm dịch
chuyển trong điện trường.
- HS chứng minh được công của lực điện trường trong sự dịch chuyển của
điện tích theo quỹ đạo kín thì bằng 0.
- HS nêu được khái niệm thế năng của điện tích tại một điểm trong điện trường, mối quan
hệ giữa công của lực điện với hiệu thế năng của điện tích tại hai điểm trong điện trường.
- Học sinh vận dụng được kiến thức đã học để giải bài tập trong đề kiểm tra dưới đây.
3. Mục tiêu đối với quá trình học:
- HS tham gia đề xuất giải pháp và thực hiện giải pháp trả lời câu hỏi: Công A
của điện trường đều (có cường độ điện trường E) tác dụng lên diện tích q khi điện
tích này di chuyển từ điểm M (tọa độ dM) đến điểm N (tọa độ dN) trong điện trường
có thể tính theo E,q,dM,dN bằng công thức như thế nào? Công này có phụ thuộc
hình dạng đường đi không ? (câu hỏi 1).
- HS rút ra được kết luận trả lời cho câu hỏi 1
- HS tham gia đề xuất và thực hiện giải pháp trả lời câu hỏi: Công thức tính công
của lực điện AMN = qEdM – qEdN cho thấy có đại lượng nào đặc trưng cho điện tích q
trong điện trường đều mà sự biến đổi giá trị của nó phụ thuộc vào sự thay đổi vị trí của
điện tích và có mối tương quan với công sinh ra do lực điện trường tác dụng lên điện
tích này? (câu hỏi 2).
- HS khái quát rút ra kết luận trả lời câu hỏi 2
9
Phát biểu khái niệm điện trường đều ?
- Dự kiến HS trả lời : Điện trường đều là điện trường mà véc tơ điện trường
tại mọi điểm đều bằng nhau.
Đặc điểm véc tơ lực điện trường
tác dụng lên điện tích ở trong điện trường đều ?
ur
ur
- Dự kiến HS trả lời : F = qE Xét hai trường hợp :
ur
ur
ur
ur
Khi q > 0 thì F ↑↑ E và khi q < 0 thì F ↑↓ E .
Véc tơ lực điện trường là không đổi tại mọi vị trí của điện tích trong điện
trường và luôn cùng phương với véc tơ cường độ điện trường.
Khái niệm công cơ học ?
- Dự kiến HS trả lời: Công của lực F trong sự dịch chuyển độ dời s tính
theo công thức: A = F.s.cosα
Trường hợp dich chuyển là đường cong thì tính công của lực F không đổi như thế nào ?
◊ Chia đường cong thành nhiều đoạn đường nhỏ ∆s liên tiếp (coi như là đoạn
thẳng) thì AMN =
∑ F .∆s.cosα
∆s
10
* Đặt vấn đề:
- Một diện tích điểm q di chuyển từ điểm M (có tọa độ d M) đến điểm M có
- Dự kiến kết quả HS làm được : chỉ đưa ra được công thức AMN = q.E.MN’= qEd
Trong đó d là độ đại số đường đi lên phương của đường sức.
Để đạt được mục đích cuối cùng là AMN = qEdM – qEdN , GV đặt tiếp câu hỏi :
Hãy tính công của lực điện theo tọa độ các điểm M và N, chú ý dấu của biểu
thức ở hai vế của công thức ?
Với câu hỏi này thì chắc chắn HS sẽ trả lời được.
+ Để thực hiện được mục tiêu HS khái quát hóa và diễn đạt kết luận, GV yêu cầu :
Vậy ta có thể trả lời cho vấn đề đặt ra như thế nào ?
- HS : Công của lực điện trường sinh ra trong sự di chuyển của điện tích trong
điện trường đều từ M đến N là AMN = qEdM – qEdN., không phụ thuộc vào hình dạng
đường đi mà chỉ phụ thuộc vào vị trí điểm đầu M và điểm cuối N của đường đi.
11
Nếu HS không nêu được đặc điểm là A tỉ lệ vơi q thì GV hỏi tiếp :
Trong công thức A MN = qEdM – qEdN thì AMN và q có mối tương quan như thế
nào ? Tại sao ?
- HS: tỉ lệ thuận vì AMN tỉ lệ thuận với lực điện trường, lực điện trường tỉ lệ
với q nên AMN cũng tỉ lệ thuận với q.
Vậy câu trả lời cho vấn đề đặt ra là gì ?
Công của lực điện trường sinh ra trong sự di chuyển của điện tích trong điện trường
đều từ M đếnN là AMN = qEdM – qEdN tỉ lệ với điện tích và không phụ thuộc vào hình
dạng đường đi mà chỉ phụ thuộc vào vị trí điểm đầu M và điểm cuối N của đường đi.
GV thông báo :
◊ Người ta cũng đã chứng minh được trong trường hợp điện trường không đều
thì công của lực điện trường cũng không phụ thuộc vào hình dạng đường đi mà
chỉ phụ thuộc vào vị trí của diện tích trong điện trường.
Những lực mà công của nó có đặc điểm như trên thì gọi là lực thế hay lực bảo toàn.
2. Thế năng của điện tích trong điện trường đều:
* Kiểm tra chuẩn bị điều kiện xuất phát:
2
2
thức năng lượng của vật và gọi là động năng.
Công của lực điện trường và công của trọng lực có điểm gì giống nhau ?
- Dự kiến HS trả lời: Công của lực điện trường và công của trọng lực đều
không phụ thuộc hình dạng đường đi, chỉ phụ thuộc vào vị trí của điện tích trong
điên trường hay vị trí của vật trong trường trọng lực.
◊ Do đó có sự tương đồng về mặt năng lượng của điên tích trong điện trường và
của vật trong trọng trường.
12
* Đặt vấn đề:
Công thức tính công của lực điện trường đều A MN = qEdM – qEdN cho thấy có
đại lượng nào đặc trưng cho điện tích q trong điện trường mà sự biến đổi giá trị
của nó phụ thuộc vào sự thay đổi vị trí của điện tích và có mối tương quan với
công sinh ra do lực điện trường tác dụng lên điện tích này ?
* Giải quyết vấn đề
+ Để thực hiện mục tiêu HS tham gia đề xuất vấn đề, sau khi HS đã có
đủ điều kiện xuất phát cần thiết, GV tổ chức tình huống như sau :
Phương hướng cho vấn đề đặt ra là gì ?
- HS :.........
GV thêm những câu hỏi gợi ý để đạt được mục tiêu:
Đại lượng đặc trưng cho điện tích về mặt năng lượng có thể tìm trong công thức nào ?
- HS sẽ trả lời được câu hỏ này: đại lượng cần tìm sẽ có mặt trong công
thức AMN = qEdM – qEdN .
◊ Vậy giải pháp là: Dựa vào công thức AMN = qEdM – qEdN để rút ra câu trả lời.
+ Để thực hiện được mục tiêu: HS tham gia thực hiện giải pháp, GV yêu
tích qEd đặt trưng cho điện tích trong điện trường về mặt năng lượng gọi là thế
năng của điện tích tại điểm có tọa độ d trong điện trường.
◊ Biểu thức WtM = qEdM là thế năng của điện tích tại một điểm M trong điện
trường đều. Từ biểu thức ta thấyWtM ~ q.
GV thông báo khái niệm thế năng tại một điểm trong điện trường:
◊ Người ta cũng đã chứng minh được rằng: Trong trường hợp điện tích ở trong điện
trường bất kỳ thì WtM tỉ lệ với q và phụ thuộc vị trí điện tích trong điện trường.
Do đó người ta có khái niệm thế năng của điện tích tại một điểm trong điện trường:
Thế năng của điện tích tại một điểm M trong điện trường là năng lượng
điện trường (trường thế) dự trữ cho điện tích, tỉ lệ với điện tích và phụ thuộc vị
trí điện tích trong điện trường.
+ Để đạt được mục tiêu: HS nêu được mối tương quan giữa công của lực điện
trường với hiệu thế năng của điện tích giữa hai điểm trong điện trường, GV đặt câu hỏi:
Điện trường đều là trường hợp đặc biệt của điện trường bất kỳ. Vậy công
của lực điện trường với hiệu thế năng của điện tích tại hai điểm trong điện
trường có mối tương quan như thế nào ?
- HS: AMN =WtM -WtN
* Khái quát củng cố kết quả:
GV nhắc lại những kiến thức cần nắm được trong bài
- Công của lực điện sinh ra trong sự di chuyển của điện tích trong điện trường đều
từ M đến N là AMN = qEdM – qEdN tỉ lệ với độ lớn điện tích, không phụ thuộc vào hình
dạng đường đi mà chỉ phụ thuộc vào vị trí điểm đầu M và điểm cuối N của đường đi.
- Công của lực điện trường sinh ra trong sự di chuyển của điện tích trong
điện trường bất kỳ không phụ thuộc hình dạng đường đi chỉ phụ thuộc vị trí
điểm đầu và điểm cuối của đường đi.
- Công thức tính công của lực điện trường đều AMN = qEdM – qEdN cho thấy
đại lượngW1 = qEd đặc trưng cho điện tích q trong điện trường đều tại một điểm
về mặt năng lượng (gọi là thế năng). Sự biến đổi giá trị củaW t phụ thuộc vào sự
thay đổi vị trí của điện tích và có mối tương quan với công sinh ra do lực điện
trường đều tác dụng lên diện tích khi nó dịch chuyển từ M đến N.
- Đánh giá tính khả thi của tiến trình dạy học và của các tình huống học tập
đã soạn thảo nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định. Trên cơ sở đó có bổ xung,
sửa đổi nhằm hoàn thiện tiến trình dạy học đã soạn thảo.
- So sánh, đối chiếu kết quả học tập ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, từ
đó có phân tích bổ sung, sơ bộ đánh giá và rút ra kết luận về hiệu quả của việc
xây dựng tình huống học tập nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định theo hướng
phát triển hoạt động nhận thức tự chủ, tích cực của học sinh.
3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm
Tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm với đối tượng học sinh của lớp 11
trường THPT Đào Duy Từ – TP Thanh Hóa.
- Lớp đối chứng là 11A6 do cô giáo Lê Xuân Hòa dạy.
- Lớp thực nghiệm là 11A7 do tôi trực tiếp dạy
- Hai lớp này đều có điều kiện học tập và môi trường sư phạm giống nhau
- Trình độ học sinh của 2 lớp nhìn chung là tương đương nhau. Kết quả
kiểm tra chất lượng khảo sát trình độ xuất phá của học sinh 2 lớp như sau:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
Thực nghiệm 46
6
25
13
2
0
Đối chứng
48
Đánh giá kết quả học
Tôi đã tiến hành kiểm tra 10 phút kết quả hoc và thu được kết quả sau đây:
Số HS trả lời đúng
Câu
Lớp đối chứng
Lớp thực nghiệm
1
23/45
40/46
2
36/45
36/46
3
10/45
25/46
* Kết quả bài kiểm tra cho thấy:
- Với câu hỏi kiểm tra mức độ hiểu, vận dụng của HS (câu 2) thì kết quả
kiểm tra ở 2 lớp là như nhau.
- Với câu hỏi kiểm tra mức độ vận dụng linh hoạt của HS (câu 1, câu 3) thì
kết quả cho thấy HS lớp thực nghiệm làm tốt hơn.
3. 6. Kết luận
Sau đợt thực nghiệm sư phạm, qua việc tổ chức, theo dõi và phân tích diễn
biến các tình huống của các giờ dạy thực nghiệm. Qua việc trao đổi thao luận
lấy ý kiến của GV của HS sau giờ học và thông qua bài kiểm tra, xử lý các kết
qủa theo kiểm định thống kê toán học, chúng tôi có những nhận xét sau:
- Nội dung tiến trình dạy học đã được soạn thảo tương đối phù hợp với
thực tế học sinh. Việc tổ chức các tình huống học tập, định hướng hành động học
cho học sinh với hệ thống các câu hỏi hướng dẫn vừa sức đã kích thích sự suy
nghĩ và tích cực hoạt động giải quyết vấn đề trong quá trình học.
16
dạy học các kiến thức nói trên theo hướng phát triển hoạt động nhận thức tích
cực, tự chủ chiếm lĩnh kiến thức của học sinh.
3. Quá trình thực nghiệm sư phạm đã chứng tỏ rằng việc thiết lập lại sơ đồ tiến
trình hoạt động dạy học các kiến thức trên dùng chung cho cả hai bộ sách cơ bản và
nâng cao - vật lý lớp 11 đã mang tính khả thi. Tiến trình dạy học này không những
đem lại hiệu quả cao trong việc nắm vữn tính tích cực, tự lực và năng lực giải quyết
vấn đề ở học sinh. Các tiến trình dạy học này có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu
ích cho giáo viên phổ thông trung học khi tổ chức dạy học những kiến thức này.
4. Do điều kiện thời gian có hạn, tôi chỉ tiến hành thực nghiệm sư phạm hai
kiến thức trong chương và với một số lượng học sinh có hạn vì vậy việc đánh
giá tính hiệu quả của nó chưa thực sự mang tính khái quát.
Tôi sẽ tiếp tục thử nghiệm trên diện rộng hơn để hoàn thiện tiến trình dạy
học và đồng thời khẳng định: Nếu vận dụng quan điểm dạy học hiện đại một
17
cách phù hợp thì sẽ thiết kế được tiến trình hoạt động dạy các kiến thức: Công
của lực điện, thế năng của điện tích trong điện trường, sao cho phát triển được
hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh. Những kết quả của thực
nghiệm sư phạm và các kết luận rút ra từ đề tài này tạo điều kiện cho tôi mở
rộng nghiên cứu sang các phần khác nhau trong chương trình vật lý phổ thông
sao cho góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở trường phổ thông.
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
Thanh hóa, ngày 15 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiên kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác