SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN, ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ GÓP PHẦN TẠO SỰ HỨNG
THÚ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT BÁ THƯỚC 3
Người thực hiện: Trịnh Thanh Tâm
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Lịch sử
THANH HOÁ, NĂM 2016
MỤC LỤC
Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU
3
1.1. Lý do chọn đề tài
3
1.2. Mục đích nghiên cứu
2.3.1. Sử dụng bản đồ, lược đồ
9
2.3.3. Sử dụng phim tư liệu, video
10
2.3.4. Sử dụng loa phát thanh trường học
11
2.3.5. Sử dụng bảng tin tổ chức giải kiến thức lịch sử
12
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
13
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
15
3.1. Kết luận
15
3. 2. Kiến nghị
tính tích cực, chưa gây hứng thú cho học sinh. Vẫn còn tình trạng học sinh thờ ơ
với môn lịch sử, chỉ coi môn lịch sử là môn phụ, chưa thực sự chú ý, quan tâm
nhiều đến môn này.
Chúng ta cũng đã biết, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
2 khóa VIII đã nhấn mạnh: " Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của
người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện
đại vào quá trình dạy - học đảm bảo các điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên
cứu cho học sinh…".
Với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học : lấy học sinh làm trung tâm,
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, thì
việc áp dụng phương pháp dạy học truyền thống chưa thật sự tạo ra sự hứng thú
cho học sinh. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy môn lịch sử người giáo viên
phải chủ động, tích cực tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp với
thực tiễn giảng dạy và nâng cao hiệu quả giảng dạy của bộ môn, thường xuyên
áp dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau để khai thác tiềm năng và phát
triển tâm lực của học sinh, phát triển tính tích cực hoạt động tự nhận thức một
cách tốt nhất cho học sinh. Với tư cách là người tổ chức hướng dẫn, phát huy
tính tích cực, độc lập của học sinh trong quá trình học tập việc sử dụng các
3
phương tiện, đồ dùng trực quan có vai trò rất quan trọng, góp phần to lớn nâng
cao chất lượng tạo sự hứng thú cho học sinh khi dạy môn lịch sử. Là cầu nối
giữa hiện thực với quá khứ, khách quan với đời sống hiện tại.
Sau nhiều năm học tôi đã thực nghiệm phương pháp sử dụng một số
phương tiện, đồ dùng trực quan vào dạy học lịch sử cho học sinh khối 10, khối
11 và thu được những kết quả nhất định.
Trong quá trình sử dụng các phương tiện, đồ dùng vào giảng dạy phải căn
cứ nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn những phương tiện, đồ
dùng trực quan cho tương ứng, thích hợp. Có phương pháp thích hợp đối với
việc sử dụng mỗi loại phương tiện, đồ dùng để phát huy tính tích cực của học
sinh. Tùy theo yêu cầu của bài học và loại hình phương tiện, đồ dùng mà có cách
sử dụng khác nhau.
2. NỘI DUNG
4
2.1. Cơ sở lý luận
Hiện nay hầu như học sinh không còn ham thích học tập bộ môn Lịch sử ở
nhà trường phổ thông, việc này có rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ
bản làm cho các em nhàm chán vì yêu cầu của giáo viên bắt các em nhớ qúa
nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách máy móc khô khan, mà trong giờ
học lịch sử nào thầy giáo cũng bắt buộc.
Việc học sinh chán học môn lịch sử nói trên là đúng nhưng không phải do
bản thân bộ môn lịch sử gây ra mà chính là do quan niệm và phương pháp dạy
học của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu của người học hay nói khác hơn là
người thầy giáo chưa gây hứng thú học tập trong giờ học và trong quá trình
giảng dạy bộ môn lịch sử.
Thực trạng hiện nay đa số giáo viên đều có cố gắng trong việc đổi mới
phương pháp dạy và học bộ môn Lịch sử, song hầu hết giáo viên giảng bài các
kiến thức bài giảng đều trùng khớp với sách giáo khoa, dẫn đến học sinh nhàm
chán không muốn nghe thầy giảng mà còn nói chuyện riêng hoặc làm bài môn
học khác….
Môn lịch sử ở nhà trường phổ thông nói chung, nội dung và chương trình
thật sự không khô khan, không kém phần hấp dẫn, nếu thầy giáo biết cách sử
dụng và khai thác nó một cách có hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Để làm
được việc đó, yêu cầu ở người giáo viên rất cao trong tất cả mọi hoạt động mọi
2.2.1. Thuận lợi
Về phía giáo viên:
Đa số giáo viên giảng dạy bộ môn còn trẻ, nhiệt tình và có trách nhiệm
trong công tác giảng dạy, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin vào giảng dạy,
có ý thức đổi mới phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh thông qua các phương tiện, đồ dùng dạy học.
Về phía học sinh:
Đa số học sinh của trường đều ngoan, biết nghe lời thầy cô, chú ý nghe
giảng, tích cực trong học tập, khi học các em luôn chú ý để chiếm lĩnh kiến thức,
khi giao bài tập về nhà các em đều hăng hái tham gia và làm bài đầy đủ.
2.2.2. Khó khăn
Về phía giáo viên:
Việc sử dụng những phương pháp mới nhìn chung đã được các thầy cô áp
dụng, nhưng mức độ còn ít, giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương
pháp dạy học cho phù hợp, chưa tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh
và nắm vững kiến thức như vẫn còn sử dụng phương pháp cũ. Do đó, nhiều học
sinh chưa nắm vững được kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, học
vẹt...
Về phía học sinh:
Đa số học sinh của trường là con em dân tộc thiểu số ( dân tộc Thái chiếm
98%) học sinh toàn trường, lại ở các thôn, xã vùng cao, vùng kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn, phương tiện và đồ dùng học tập của các em còn thiếu thốn, nhất là
máy tính và kết nối internet còn chưa có, nên sự hiểu biết và nhận thức của các
em còn chậm. Cho nên việc truyền tải kiến thức cũng như xác định động cơ học
tập của nhiều học sinh còn hạn chế. Vì vậy, việc chủ động học tập qua việc khai
thác các phương tiện và đồ dùng trực quan vẫn còn nhiều khó khăn trong giảng
dạy bộ môn ở nhà trường. Phần lớn học sinh chưa quen với phương pháp học tập
thông qua các phương tiện và đồ dùng trực quan, nhiều khi khai thác theo cảm
xúc, lệch hướng, thiếu chính xác, nhiều học sinh chưa có sự độc lập suy nghĩ và
tư duy.
nên miêu tả hình dạng bên ngoài của nhân vật mà phải hướng dẫn học sinh phân
tích nội tâm, tài, đức, quan điểm thể hiện ở hành động của nhân vật. Chẳng hạn
tranh chân dung của Phiđen Catxtơrô ở mục 1- Vài nét khái quát về quá trình
giành và bảo vệ độc lập ở các nước Mĩ La Tinh, đây là bức ảnh chụp chân dung
người anh hùng của đất nước Cu Ba, giáo viên gợi ý bằng một số câu hỏi:
- Nhìn vào diện mạo bên ngoài của Phiđen Catxtơrô, em thấy ông là một người
như thế nào?
- Ông có vai trò ra sao đối với cách mạng Cu Ba?
- Vì sao Phiđen Catxtơrô được gọi là anh hùng giải phóng dân tộc của đất nước
Cu Ba?. Sau khi học sinh giới thiệu cả lớp tập trung chú ý lắng nghe và quan sát
bức tranh, giáo viên nhận xét, kết luận. Cuối cùng giáo viên đặt câu hỏi để học
sinh nhận xét về vai trò của Phiđen Catxtơrô. Với phần giới thiệu chân dung anh
hùng dân tộc của Cu Ba, các em học sinh lớp 12 không chỉ biết ông có ngoại
hình như thế nào mà còn ngưỡng mộ khi biết những thông tin về công lao của
ông trong thời kì đất nước khó khăn cũng như trong thời kì đất nước hòa bình,
cải cách và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa….
Ví dụ 2: Khi trình bày sự kiện ngày 29/9/1938, Anh – Pháp kí với Đức –
Italia “ Hiệp ước Muy-nich” trao vùng Xuy-đét của Tiệp Khắc do Đức âm mưu
hướng Đức tấn công Liên Xô. Để giúp học sinh nhận thức rõ bản chất hai mặt
của Anh – Pháp trong quan hệ quốc tế trước chiến tranh thế giới II đó là bản chất
“dung dưỡng”, “thỏa hiệp”với chủ nghĩa phát xít và bản chất hung hăng, hiếu
chiến của chủ nghĩa phát xít Đức, giáo viên cần sử dụng bức tranh “ Hội nghị
Muy-nich” để miêu tả hành động của Anh, Pháp, Đức, Italia: tham dự Hội nghị
này có đại biểu của 4 cường quốc là Anh, Pháp, Đức, Italia. Tại hội nghị này
7
Anh, Pháp đã thống nhất với Đức, Italia âm mưu chống Liên Xô qua việc Anh,
Pháp đồng ý nhượng cho Đức vùng Xuy-đet của Tiệp Khắc để đổi lấy việc Đức
sẽ tấn công Liên Xô. Đại biểu Tiệp Khắc được mời đến tham dự hội nghị nhưng
Tóm lại: Tranh ảnh trong SGK là một phần đồ dùng trực quan trong quá
trình dạy học. Từ việc quan sát, học sinh sẽ đi tới công việc của tư duy trừu
tượng. Thông qua quan sát miêu tả tranh ảnh học sinh được rèn luyện kỹ năng
diễn đạt , lựa chọn ngôn ngữ. Từ việc quan sát thường xuyên các tranh ảnh lịch
sử , giáo viên luyện cho các em thói quen quan sát và khả năng quan sát vật thể
một cách khoa học, có xem xét, phân tích, giải thích để đi đến những nét khái
quát rút ra những kết luận lịch sử. Như vậy, việc sử dụng tranh ảnh vừa khai thác
được nội dung lịch sử thể hiện trong tranh ảnh bổ sung cho bài giảng, vừa phát
huy được năng lực tư duy cho học sinh, kích thích trí tưởng tượng phong phú,
tạo hứng thú học tập cho các em.
8
2.3.2. Sử dụng bản đồ, lược đồ
Chuẩn bị bản đồ, lược đồ: Tùy thuộc vào nội dung bài giảng có bản đồ,
lược đồ hay không mà giáo viên cần có sự chuẩn bị. Ví dụ ở bài 18 (SGK Lịch
sử 12), giáo viên cần chuẩn bị lược đồ chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm
1947, bản đồ chiến dịch biên giới Thu - Đông năm 1950; ở bài 20 (SGK Lịch sử
12), cần chuẩn bị lược đồ hình thái chiến trường trong Đông - Xuân 1953-1954,
lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), lược đồ cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy mùa Xuân 1975 ...
Để chuẩn bị cho việc dạy tốt, giáo viên cần lấy lược đồ diễn biến các
chiến dịch đó trên các đĩa tư liệu lịch sử hoặc trên mạng internet có độ chính xác
cao vào file riêng.
Xử lý bản đồ, lược đồ: Sau khi đã tìm được bản đồ, lược đồ giáo viên cần
xử lý hiệu quả để khai thác triệt để ngôn ngữ của bản đồ, lược đồ theo ý người
dạy mà không làm sai lệch tính khoa học, tính nguyên tắc của bản đồ giáo khoa.
Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kỹ các kí hiệu, các biểu tượng, đường
biên giới trên bản đồ, lược đồ, nắm rõ diễn biến của một chiến dịch hay hình thái
chiến trường quân sự được thể hiện trên bản đồ, lược đồ. Để tạo được sự hấp
tiêu diệt căn cứ này ra sao? Sau khi học sinh trao đổi, phát biểu ý kiến, giáo viên
cho học sinh xem Slide mà giáo viên đã chuẩn bị trên màn hình…
Chú ý: Khi sử dụng bản đồ, lược đồ nhất thiết phải giới thiệu cụ thể cho
các em kí hiệu ghi trên bản đồ, lược đồ đồng thời tập cho các em quan sát, đọc
bản đồ, lược đồ và tìm hiểu nội dung lịch sử được thể hiện trên đó.
Tóm lại: Thông qua việc sử dụng bản đồ, lược đồ giáo viên hướng dẫn
học sinh rèn luyện được các kỹ năng bản đồ, lược đồ; Đọc tên bản đồ, lược đồ
để biết đối tượng lịch sử được thể hiện trên đó là gì?; Hiểu và đọc được bản chú
giải để biết cái người ta thể hiện đối tượng đó trên bản đồ, lược đồ như thế nào?
bằng các ký hiệu gì ? Bằng màu sắc gì?; Xác định vị trí, phương hướng của các
địa điểm trên bản đồ, lược đồ. Cao hơn nữa giáo viên hướng dẫn học sinh biết
dựa vào bản đồ, lược đồ kết hợp với các kiến thức lịch sử để phân tích, so sánh,
giải thích các mối quan hệ của các sự kiện, các đối tượng. Thông qua bản đồ,
lược đồ giúp học sinh hiểu và nhớ lâu hơn các sự kiện từ đơn giản sau đó thực
hành với các chiến dịch, các trận đánh có quy mô lớn hơn. Qua việc sử dụng bản
đồ, lược đồ các em cũng có thể đánh giá được tác động của các điều kiện tự
nhiên liên quan đến sự kiện lịch sử và cũng qua đó giáo viên có thể đánh giá
được khả năng lĩnh hội của các em và có hướng điều chỉnh, sửa chữa kịp thời
cho các em và đây cũng là phương pháp kích thích khả năng tìm tòi, sáng tạo
của các em.
2.3.3. Sử dụng phim tư liệu, video
Chuẩn bị các đoạn video tư liệu: Giáo viên có thể tìm kiếm tư liệu phim
lịch sử trên internet hoặc các đĩa tư liệu dạy học lịch sử do nhà xuất bản giáo dục
phát hành đảm bảo tính chính xác và khoa học. Sau đó giáo viên lưu file, sắp
xếp theo bài học, khối học cho phù hợp để phục vụ nội dung giảng dạy.
Sử dụng các đoạn phim tư liệu, video vào tiết học cụ thể: Đối với mục 2 Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 (Bài 23 - Lịch sử 12), về
diễn biến của 3 chiến dịch, giáo viên nên để các em chủ động nghiên cứu và
lược thuật ngắn gọn trên lược đồ. Học sinh trình bày xong giáo viên có thể cho
các em xem đoạn video về trận Buôn Ma Thuột, chiến dịch Đà Nẵng và trận
phía đông của chiến dịch Hồ Chí Minh. Với việc xem những đoạn phim ngắn
thiện, mĩ.
Tóm lại: Cách sử dụng đồ dùng trực quan cơ bản nói trên đã thực sự giúp
học sinh có hứng thú với bộ môn lịch sử. Từ đó, các em phát huy sự sáng tạo và
rèn các kỹ năng thực hành khác. Bởi vậy, bài học lịch sử sẽ thấm vào các em
một cách nhẹ nhàng, sâu sắc, tạo tình huống có vấn đề để kích thích tư duy sáng
tạo của học sinh. Học sinh có thể dễ dàng hình dung và có khái niệm chính xác
về các hình ảnh, sự vật, hiện tượng khi tiếp xúc với chúng bằng những hình ảnh
trực quan (hình tư liệu, bản đồ, những đoạn phim tư liệu …)
Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ của xã hội loài người. Nó đã
tồn tại cách chúng ta hàng chục năm, hàng trăm năm, thậm chí hàng triệu năm.
Do đó, việc tiếp cận và tái hiện lại lịch sử gần giống như nó đã từng tồn tại là
một việc rất khó khăn. Vì vậy, nếu giáo viên sử dụng những tư liệu lịch sử như:
hình ảnh, bản đồ, lược đồ và đặc biệt là phim tư liệu vào giảng dạy thì sẽ góp
phần rất lớn giúp học sinh có thể tái hiện lại được sự kiện lịch sử gần giống như
nó đã từng tồn tại – đây là điều rất quan trọng với môn Lịch sử. Do đó, việc sử
dụng đồ dùng trực quan vào giảng dạy Lịch sử là vừa mang tính lịch sử, vừa
mang tính thời đại.
2.3.4. Sử dụng loa phát thanh trường học
Hệ thống loa phát thanh là phương tiện rất hiệu quả đối với hoạt động dạy
– học ở nhà trường nói chung và môn học lịch sử nói riêng. Đây là phương tiện
góp phần truyền tải những thông tin, những kiến thức đến học sinh một cách
hiệu quả và thiết thực.
Hàng tuần tổ chức 3 buổi phát thanh toàn trường, vào các ngày thứ hai,
thứ tư và thứ sáu. Thời gian phát thanh vào lúc ra chơi giữa buổi học, hoặc vào
các ngày tổ chức các hoạt động tập thể, với thời lượng phát thanh từ 10-15 phút,
tuỳ theo nội dung do các thầy dạy sử biên tập và soạn tin.
11
Tổ chức giải kiến thức lịch sử trên bảng tin khác với việc dạy theo bài học
thông thường nhưng vẫn phải đảm bảo các chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của
chương trình và sách giáo khoa hiện hành, câu hỏi đặt ra không dừng lại ở biết
lịch sử mà nâng cao trình độ nhận thức lịch sử. Những câu hỏi đưa ra để học
sinh thi giải phải là những kiến thức về lịch sử đã được dạy và học trong chương
trình giáo dục phổ thông, có mối quan hệ mật thiết với nhau, có những điểm
tương đồng về nội dung kiến thức và các vấn đề học tập cần giải quyết. Từ
những kiến thức đó để học sinh có thể tổng kết, hệ thống hoá kiến thức, củng cố,
thực hành, rút ra quy luật, bài học lịch sử và tự nghiên cứu, đào sâu kiến thức đã
học. Nội dung câu hỏi cần đảm bảo tính toàn diện, có tính hệ thống, thể hiện mối
quan hệ của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc. Nội dung câu hỏi gồm các cột
mốc lịch sử quan trọng của đất nước; các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa,
anh hùng liệt sĩ, những người Việt Nam tiêu biểu xuất sắc trên các lĩnh vực, qua
12
các thời kỳ; thành tựu trên các lĩnh vực của đất nước trong thời kỳ đổi mới, đặc
biệt những câu hỏi mở để học sinh có thể trình bày suy nghĩ và phát huy tính tư
duy, suy nghĩ của bản thân, tăng cường khả năng vận dụng các kiến thức đã học
vào giải quyết những vấn đề khác trong học tập và thực tiễn...
Ví dụ 1: Hãy phát biểu suy nghĩ của em khi học nội dung sau trong Tuyên
ngôn Độc lập ngày 2- 9-1945 của Hồ Chủ Tịch “…Toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền
tự do và độc lập ấy” trong bối cảnh Trung Quốc đang có những hành động vi
phạm đến quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta ở biển Đông?.
Ví dụ 2: Qua tìm hiểu mục đích, nguyên tắc hoạt động của tổ chức Liên
Hợp Quốc. Hiện nay, Việt Nam đã vận dụng nguyên tắc hoạt động của tổ chức
Liên Hợp Quốc trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quan hệ quốc tế như
thế nào?.
Ví dụ 3: Vì sao nói “Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là sau Chiến
Việc sử dụng một số phương tiện và đồ dùng trực quan nêu trên vào giảng
dạy lịch sử đã góp phần tạo sự chú ý, học tập một cách sôi nổi, tiếp thu bài dễ
dàng hơn, không khí học tập thoải mái, hào hứng hơn. Phát huy được tính tự
giác, chủ động, sáng tạo, qua đó góp phần rèn luyện kỹ năng tổng hợp kiến thức,
năng lực đánh giá, học tập của học sinh trong giờ học, khích lệ động cơ, hứng
thú học tập của học sinh, giúp các em yêu thích hơn với bộ môn lịch sử. Việc sử
dụng phương pháp này cũng giúp học sinh tái hiện một cách khách quan, phát
triển trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của mình.
Kết quả kiểm tra hoạt động nhận thức của các em cho thấy, các em nghiêm
túc trong học tập, hiểu được kiến thức cơ bản của bài học và biết vận dụng kiến
thức đã học vào giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống.
Sau nhiều năm áp dụng phương pháp này, tôi thấy có sự phân hóa học sinh
như sau: học sinh giỏi, khá nắm vững, vận dụng tốt kiến thức, kỹ năng, học bài,
làm bài rất tốt; Học sinh trung bình nắm được kiến thức cơ bản, học bài, làm bài
tương đối tốt; Một số học sinh chưa chăm chỉ, chưa chú ý, lười suy nghĩ kết quả
học tập chưa cao.
Kết quả xếp loại học lực môn lịch sử các năm gần đây ( chỉ tính riêng học
sinh khối 12) như sau:
Khá
SL
%
82 48.2
Học lực
T.Bình
SL
%
78
0
0
0
0
15 14.1
79
74.5
12
11.4
0
0
0
0
TT
Năm học
106
Giỏi
SL %
6 3.5
Yếu
SL %
4 2.3
Kém
SL %
0 0
Số học sinh đăng ký học và thi khối C của nhà trường ngày càng tăng: năm
2012 – 2013 mới 10 em; đến năm 2013 – 2014 là 14 em; năm 2014 – 2015 là 17
em; năm học 2015 – 2016 trong tổng số 28 em đăng ký thi ĐH của trường thì có
tới 21 em thi khối C. Kết quả thi khối C các năm, riêng điểm thi môn lịch sử học
sinh đạt tối thiểu từ 5 điểm trở lên... Mặc dù kết quả này chưa thật sự cao, nhưng
với một trường miền núi cao, học sinh chủ yếu là con em dân tộc, có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như trường THPT Bá Thước 3 thì đây là một
kết quả đáng khích lệ cần được biểu dương và phát huy.
Như vậy, so với phương pháp truyền thống thì việc sử dụng một số phương
tiện và đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung và
trường THPT Bá Thước 3 nói riêng mang lại hiệu quả cao.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
14
trực quan vào giảng dạy môn lịch sử ở trường THPT, cũng là một trong biện
pháp cách thức để gây hứng thú học tập bộ môn lịch sử đối với học sinh bậc
trung học phổ thông nói chung và ở trường THPT Bá Thước 3 nói riêng. Tuy là
một vài biện pháp nhỏ nhưng góp phần hoạt động giáo dục theo hướng tích cực
hoá trong dạy và học hiện nay.
3. 2. Kiến nghị
Để nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử ở trường THPT, bản thân
tôi có các kiến nghị sau:
- Các cấp lãnh đạo cần quan tâm, hỗ trợ, bồi dưỡng giáo viên về chuyên
môn, công tác đổi mới phương pháp dạy học,…..
- Hỗ trợ và trang bị thêm cácđồ dùng trực quan và phương tiện dạy học.
- Về phía giáo viên không ngừng học tập, nghiên cứu, tham gia sinh hoạt
chuyên môn, chuyên đề…. nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
15
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
HIỆU TRƯỞNG
Lê Việt Hồng
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Trịnh Thanh Tâm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
18
Hình ảnh về Hội nghị Muy ních
( 29/9/1938)
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát Mặt
trận Đông Khê (1950
Lược đồ diễn biến chiến dịch Điện Biên
Phủ ( 1954)
Lược đồ hình thái chiến trường trong
đông – xuân 1953 - 1954
19