Bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người việt - Pdf 44

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------

TĂNG TẤN LỘC

BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ SÔNG NƯỚC
TRONG TRI NHẬN CỦA NGƯỜI VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------

TĂNG TẤN LỘC

BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ SÔNG NƯỚC
TRONG TRI NHẬN CỦA NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trịnh Sâm


1. LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI ...............................................................................1
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .....................................................3
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU......................................................4
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................................5
5. ĐÓNG GÓP MỚI................................................................................................6
6. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN................................................................7
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN ..................................................................................7
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ
THUYẾT................................................................................................................9
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ....................................................9
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước...................................................................9
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước .................................................................12
1.2. CÁC VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ..............................19
1.2.1. Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận .............................................................19
1.2.2. Bức tranh ngôn ngữ .....................................................................................21
1.2.3. Lí thuyết phạm trù và phạm trù tỏa tia .........................................................29
1.2.4. Ý niệm và ý niệm hóa ..................................................................................39
1.2.5. Lược đồ và điển dạng ..................................................................................41
1.2.6. Tính nghiệm thân.........................................................................................42
1.2.7. Ẩn dụ ý niệm ...............................................................................................44
1.2.8. Khái niệm miền, miền nguồn và miền đích ..................................................49
1.2.9. Khái niệm về “sông nước” ...........................................................................51
1.3. TIỂU KẾT......................................................................................................52
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CHUYỂN DI NGỮ NGHĨA CỦA MIỀN Ý NIỆM
SÔNG NƯỚC TRONG TIẾNG VIỆT ...............................................................53
2.1. DẪN NHẬP ...................................................................................................53
2.2. CÁC DẠNG NƯỚC .......................................................................................54
2.3. ĐỊNH DANH NƯỚC .....................................................................................61
2.3.1. Mô hình: “X + nước” ...................................................................................62
2.3.2. Mô hình: “nước + X”...................................................................................64

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH................................................................... 139
ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............... 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................. 140
PHỤ LỤC………………………………………………………………………...150


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CLB

Câu lạc bộ

ĐH

Đại học

ĐHKHXH&NV

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

ĐHQG

Đại học quốc gia

ĐHQGHN


Nxb

Nhà xuất bản

T/c

Tạp chí

THVL

Truyền hình Vĩnh Long

Tp.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

VH-TT&DL

Văn hóa – Thể thao và Du lịch

VHTT

Văn hóa thông tin

VTV

Truyền hình Việt Nam

VTC


để thanh tẩy, tưới tiêu, hay còn là nơi cung cấp thực phẩm (sản vật dưới
nước), v.v. Chính vì tầm quan trọng của nước mà các cộng đồng dân cư trên
thế giới đều tập trung và phân bố dọc theo các nguồn nước. Từ cơ sở thực tiễn
đó mà ngôn ngữ và văn hóa của các tộc người đều gắn liền với các yếu tố có
liên quan đến “sông nước”.
1.3. Là một quốc gia gắn với nền văn minh nông nghiệp, nước có vai
trò đặc biệt trong văn hóa cũng như trong tâm thức của người Việt. Nước có
mặt trong hầu hết các lĩnh vực, từ ý niệm thiêng liêng đến những điều thông
tục hay hướng đến những khái niệm có tính khái quát cao, đặc biệt là trong
tục ngữ, ca dao: nước chảy đá mòn, nước khe đè nước suối, nước đổ đầu vịt,
nước đổ lá khoai, nước đến chân mới nhảy, uống nước nhớ nguồn, nước sông
công lính, còn nước còn tát, một giọt máu đào hơn ao nước lã, v.v.

1


1.4. Môi trường sông nước với tư cách là đối tượng tri nhận đã hình
thành nên một kho tàng ý niệm đa dạng, phong phú trong ngôn ngữ giao tiếp
của người Việt. Từ việc định danh và tương tác gắn liền với địa hình sông
nước, hoạt động trên sông nước, dần dần ngôn ngữ hình thành nên những
miền ý niệm sông nước. Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh sông nước ăn
sâu vào ngôn ngữ Việt: buôn tàu buôn bè không bằng làm ăn hà tiện, chớ
thấy sóng cả mà rã tay chèo, ăn cỗ đi trước lội nước theo sau, “Thuyền về có
nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”,v.v. Người Việt
thường nói: chìm đắm trong suy tư, đắm đuối nhìn nhau, thời gian trôi nhanh,
ăn nói trôi chảy, hồ sơ bị ngâm lâu, mặt trời lặn, v.v.
Ngay cả khi đi trên bộ, người Việt vẫn mượn hình ảnh sông nước để
diễn đạt: lặn lội đến thăm nhau, đi nhờ xe ai một đoạn thì gọi là quá giang
(qua sông), người Nam Bộ gọi xe khách liên tỉnh là xe đò, v.v. và hàng loạt
cách diễn đạt thú vị khác: công việc làm ăn trôi chảy, thuận buồm xuôi gió,

2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, luận án hướng đến các
mục đích nghiên cứu sau:
Thứ nhất, khái quát hóa bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri
nhận của người Việt, đặc biệt là người Việt tại Nam Bộ, trên cơ sở miêu tả
những đặc điểm đặc thù trong tri nhận sông nước.
Thứ hai, làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa ngôn ngữ - tư duy và văn
hóa trong tri nhận của người Việt trên lĩnh vực sông nước.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận án tập trung giải quyết các
vấn đề chính, đó là:
- Tìm hiểu ngôn ngữ học tri nhận, cụ thể là một số vấn đề lí thuyết có
liên quan đến khoa học tri nhận, như: bức tranh ngôn ngữ, phạm trù tỏa tia,
miền nguồn và miền đích, ẩn dụ/hoán dụ ý niệm, v.v.
3


- Tìm hiểu về miền ý niệm sông nước và trên cơ sở đó đi vào thế giới tư
duy của người Việt trong phạm trù sông nước.
- Mô tả và phân tích miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt.
- Chỉ ra đặc điểm chuyển di ngữ nghĩa của miền ý niệm sông nước
trong tiếng Việt.
- Tìm hiểu nghĩa biểu trưng các miền ý niệm về sông nước trong tiếng Việt.
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa bộ ba ngôn ngữ - tư duy và văn hóa của
người Việt được thể hiện trong bức tranh ngôn ngữ về sông nước.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi sẽ tiến hành
nghiên cứu bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người Việt, cụ

[5*] Hoàng Phê (chủ biên), (2010), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển
Bách khoa.
[6*] Trịnh Công Sơn (1998), Tuyển tập những bài ca không năm tháng,
Nxb. Âm nhạc.
[7*] Thơ tình Xuân Diệu tuyển chọn (2008), Nxb. Thanh niên.
[8*] Truyện ngắn 5 cây bút nữ (2004), Nxb. Hội Nhà văn.
[9*] Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam (2001), Nxb. Phụ nữ.
[10*] Lê Ngọc Tú (2006), Từ điển thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn, Nxb.
KHXH.
[11*] Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành (1993),
Từ điển thành ngữ Việt Nam, Nxb. Văn hóa.
Cùng một số website, các trang báo điện tử, các trang mạng xã hội, v.v.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng các thủ pháp và phương pháp
nghiên cứu sau:

5


- Thủ pháp thống kê, phân loại: đây là thủ pháp giúp chúng tôi tập hợp
và phân loại các miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt trên cơ
sở các ngữ liệu được khảo sát, từ đấy rút ra những nhận xét, hữu quan.
- Phương pháp miêu tả: đây là phương pháp chính cùng với phương
pháp phân tích ý niệm để giải quyết các vấn đề của luận án. Từ nguồn ngữ
liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành phân tích miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa
và nghĩa biểu trưng của từ thuộc miền ý niệm “sông nước” trong tiếng Việt.
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng chủ yếu ở chương 2 và chương 3.
- Phương pháp phân tích ý niệm: luận án tiến hành phân tích các biểu
thức ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh cụ thể, hướng đến tìm hiểu các đặc trưng văn
hóa tư duy ẩn sau chúng, được thể hiện rõ nhất trong chương 3.

bóng của chính mình lên hiện thực.
Về thực tiễn, góp phần tìm hiểu vấn đề tri nhận sông nước trong tiếng
Việt trên cơ sở lí thuyết tri nhận, đồng thời góp phần tìm hiểu qui luật sử dụng
ngôn ngữ trong việc diễn đạt các ý niệm có liên quan đến “sông nước” của
người Việt. Từ đó nêu lên một số gợi ý về phân tích, giảng dạy các chủ đề
liên quan đến sông nước.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
gồm ba chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương này bao gồm phần tổng quan về tình hình nghiên cứu sông
nước trong tiếng Việt cũng như các nội dung lí thuyết liên quan trực tiếp đến
những vấn đề cụ thể mà luận án sẽ đề cập như: bức tranh ngôn ngữ, phạm trù
tỏa tia, miền ý niệm, miền nguồn và miền đích, ẩn dụ/hoán dụ ý niệm, v.v.
Chương 2: Đặc điểm chuyển di ngữ nghĩa của miền ý niệm sông
nước trong tiếng Việt

7


Trình bày sự phân lập các dạng của nước, liệt kê và phân tích hai kết
cấu có liên quan đến “nước”: mô hình “X + nước” và mô hình “nước + X”.
Vận dụng lí thuyết phạm trù tỏa tia của Lee (2001), Evan & Green (2006) để
tìm hiểu sự chuyển di ý niệm từ miền sông nước sang các miền ý niệm khác,
cũng như bước đầu mô tả một số biểu thức sông nước có giá trị biểu trưng
trong tiếng Việt.
Chương 3: Miền ý niệm sông nước trong tâm thức của người Việt
Tập trung nghiên cứu vai trò, chức năng và sự chi phối trong suy nghĩ
cũng như hành động của người Việt đối với sông nước với tư cách là miền ý
niệm nguồn cũng như hệ thống ánh xạ một số vấn đề trừu tượng trong miền ý

(narrows), eo biển (strait), vịnh, lạch (inlet), eo sông, biển (bight), nhánh
sông, biển (bayou), (dùng trong văn chương), vịnh hẹp, cửa sông trong địa
danh Scotland (firth), hồ, vịnh ở Scotland (loch), hồ nhỏ trên núi (tarn), giếng
9


(well), hồ nước tự nhiên hoặc nhân tạo (reservoir), bể bơi (pool), biển (sea),
đại dương (ocean), hồ (lake), ao, hồ tự nhiên và nhân tạo (pond), vịnh (bay),
cửa sông, cửa biển (estuary), vịnh hẹp, nhất là ở Na Uy (fjord), cửa sông, biển
(sound), vịnh (gulf), phá (lagoon), vịnh nhỏ (cove), cảng (harbor).
(iii) nước trong thế vận động (water in motion): lạch biển (creek), sông
(river), sóng (waves), hơi nước (billows), suối (stream), mưa (rain), sông nhỏ
(brook), sông, suối nhỏ (rivulet), sông, suối nhánh (tributary), giếng phun (spring).
(iv) nước đóng băng (frozen water): băng (ice), tuyết (snow), tinh thể
(crystal), mưa tuyết (sleet), mưa đá (hail), nhũ băng (icicle), núi, đảo băng trôi
(iceberg), sự đóng băng (rime), sương muối (hoarfrost), băng hà (băng trôi từ
núi xuống thung lũng) (glacier).
(v) thể khí của nước (gas): hơi nước, hơi sương (vapor), hơi nước nóng
(steam) [95].
Ngoài ra, phân lập trường “nước” và các yếu tố liên quan đến “nước”
còn có thể kể đến công trình của các tác giả ở trường đại học Texas [96].
Trước khi bàn đến bức tranh ngôn ngữ về sông nước, cần thiết phải có cái
nhìn tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận. Với tư cách là một khuynh hướng
nghiên cứu mới, ngôn ngữ học tri nhận đã được các học giả nghiên cứu từ những
năm 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, các thuật ngữ như: ngôn ngữ học tri nhận
(cognitive lingguistics), ngữ nghĩa học tri nhận (cognitive semantics), và ngữ
pháp tri nhận (cognitive grammar) thì mới xuất hiện trong một số công trình,
đáng chú ý là Cơ sở của ngữ pháp tri nhận của R. W. Langacker.
Các tác phẩm góp phần đặt nền móng cho ngôn ngữ học có thể kể đến
như: Metaphors we live by của G. Lakoff và M. Jonhson, Chicago - London,

Trong công trình sau, đã được dịch ra tiếng Việt, Triệu Diễm Phương
đã giới thiệu một cách tổng quát các thành tựu của ngôn ngữ học tri nhận,
đồng thời trình bày một số nghiên cứu và những kiến giải riêng của mình về
một số vấn đề của khoa học này. Điều đặc biệt là, tác giả đã cố gắng truy tìm
ngọn nguồn của những tư tưởng cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời
11


chỉ ra được những ứng dụng của nó đối với việc nghiên cứu và giảng dạy
ngôn ngữ, nhất là ứng dụng nghiên cứu tiếng Hán dưới góc nhìn của ngôn
ngữ học tri nhận.
Liên quan trực tiếp đến đề tài đang bàn ở đây, theo quan sát bước đầu của
luận án, ẩn dụ sông nước trong các ngôn ngữ biến hình xuất hiện không nhiều.
Theo Trịnh Sâm (2016), trong văn hóa phương Tây, nó chỉ xuất hiện một vài ẩn
dụ: GIAO THÔNG LÀ MỘT CON SÔNG, VẤN ĐỀ LÀ MỘT CƠ THỂ
NƯỚC/MỘT VŨNG NƯỚC, VẤN ĐỀ LÀ MỘT VẬT CHỨA NƯỚC.
Riêng trong giới học giả Trung Quốc cũng có hai bài bàn về “nước”:
bài của Rong Chen (Water networks, the Chinese radical, and beyond in
Languages and Linguistics, Compendium of cognitive linguistics research,
Thomas Fuyin Li (ed), Nova publishers, New York, 2012) và Y. Nie and R.
Chen (Water metaphors and metonymies in Chinese, A semantics network,
Pragmatics and cognition, volume 16, number 3, 2008). Trong đó, nghiên
cứu về cấu tạo chữ Hán có bộ “thủy” và một số ẩn dụ về nước. Cũng theo
Trịnh Sâm (2016), tuy về mặt văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam có
những đặc điểm gần gũi nhưng tri nhận sông nước rất khác biệt.
Như vậy, nói không quá rằng, với tư cách là một miền nguồn, sông
nước có thể xuất hiện ở một số ngôn ngữ nhưng đậm đặc và phong phú nhất
có lẽ là trong tiếng Việt. Điều này cũng dễ hiểu vì với người Việt Nam từ
Nam chí Bắc sông nước là một thực thể rất thân thuộc và gần gũi.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

nước” (chương V). Trong chương III, nhóm tác giả nhấn mạnh vấn đề tận
dụng nước trong buôn bán, cư trú và sinh hoạt của người Việt vùng Tây Nam
Bộ. Trong chương V, khi nói về “tính sông nước”, nhóm tác giả cho rằng:
“Tính sông nước – hay nói đầy đủ hơn là “tính hòa hợp cao với thiên nhiên
sông nước” – là một đặc trưng tính cách văn hóa xuất hiện ở những vùng văn
hóa có mạng lưới sông nước dày đặc chi phối toàn bộ cuộc sống vật chất và
tinh thần của con người và con người thì biết khai thác tối đa lợi thế của thiên
13


nhiên sông nước trong khi chỉ đối phó với nó ở mức tối thiểu và đối phó mà
không xung đột với nó” [76, 647]. Có thể nói công trình đã tổng kết, kế thừa
được thành tựu nghiên cứu về văn hóa sông nước của nhiều thế hệ.
1.1.2.2. Từ góc độ ngôn ngữ
Trước đây, Nguyễn Kim Thản (1993), trong lúc đi tìm các cứ liệu để
chứng minh cho nhận định “môi trường sống thời xa xưa cũng để lại những
dấu ấn trong vốn từ vựng tiếng Việt” cũng cho rằng: “nước có nghĩa là quốc
gia, tổ quốc là từ cùng gốc với nước với nghĩa là chất lỏng, không màu,
không mùi, không vị, có công thức H20” và cũng thừa nhận rằng hai yếu tố
“đât” và “nước” có một tầm quan trọng rất to lớn trong đời sống của ngươi
Việt” [67, 33].
Trần Thị Ngọc Lang (1982, 1995), trong khi nghiên cứu về phương ngữ
Nam Bộ đã dành riêng một chương để mô tả về nhận thức khá chi tiết nhóm
từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ. Tác giả cung cấp
khá đầy đủ về bức tranh phân cắt hiện thực của người Nam Bộ trên ba nhóm
từ chỉ: địa hình, sự vận động của dòng nước, sự vận động của con người trên
sông nước và các phương tiện dùng cho hoạt động này. Những tư liệu cung
cấp ở chương này là rất lí thú và bổ ích, nhất là khi so sánh đối chiếu với các
phương ngữ khác.
Luận án của Trương Thị Nhàn (1995) với đề tài “Sự biểu đạt bằng ngôn

Lan (2012) với đề tài “Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các từ biểu đạt tình
cảm trong tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt)” [39]. Luận án tập trung so
sánh về cách thức mà người bản ngữ tiếng Anh và người bản ngữ tiếng Việt
qui chiếu tới các bộ phận điển hình của cơ thể người để biểu tưng tình cảm
theo khế ước cộng đồng mỗi người bản ngữ. Luận án nghiên cứu về cách mà
con người xây dựng các ý niệm về tình cảm và mối quan hệ giữa tình cảm với
nhận thức để vận dụng vào việc giảng dạy cũng như việc chuyển dịch ra tiếng
Việt các cấu trúc tiếng Anh có chứa đựng các từ chỉ bộ phận cơ thể người
mang ý nghĩa biểu trưng cho tình cảm. Tác giả cho rằng: “theo cách biểu
15


trưng tình cảm của người Việt, có thể thấy người Việt thiên về lối tư duy duy
tình, khác hẳn với tư duy duy lí của người Anh”.
Luận án của Trần Bá Tiến (2012) “Nghiên cứu thành ngữ biểu thị tâm
lí tình cảm trong tiếng Anh và tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận”
[78]. Luận án đã hệ thống hóa và định vị khái niệm thành ngữ, đưa ra danh
sách các thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm trong tiếng Anh và tiếng
Việt, xác định cơ chế biểu hiện một số bình diện tâm lí tình cảm của con
người được biểu đạt trong thành ngữ của hai ngôn ngữ, đặc điểm ngữ nghĩa
của thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm dưới ánh sáng của ngôn ngữ học
tri nhận cũng như chỉ ra những nét phổ quát và đặc thù ngôn ngữ, văn hóa của
thành ngữ. Ngoài ra, luận án còn tìm ra những tương đồng và khác biệt của
các yếu tố tri thức, ngôn ngữ và văn hóa tác động đến việc hình thành và sử
dụng thành ngữ trong hai ngôn ngữ Anh – Việt.
Luận án của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014) nghiên cứu mang tính chất
chuyên sâu đầu tiên về ngôn ngữ trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn [26]. Tác
giả dùng các mô hình ý niệm của ngôn ngữ học tri nhận để lí giải các thao tác
và lược đồ tư duy trong ca từ Trịnh Công Sơn, luận án đặc biệt đi sâu lí giải
các cơ chế ánh xạ giữa các miền không gian dựa trên hiệu ứng điển dạng và

ngữ có từ chỉ “Nước” và “Lửa” trong tiếng Việt và tiếng Anh từ lí thuyết ẩn
dụ tri nhận” [36]. Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thành ngữ có từ chỉ
“Nước”, “Lửa” và các hiện tượng có liên quan trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Tác giả đã chỉ ra được những đặc trưng văn hóa – dân tộc của người Anh và
người Việt trong cách tri nhận thế giới khách quan để phục vụ cho việc tăng
cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, giảng dạy tiếng Anh và tiếng
Việt như một ngoại ngữ, luận án đã miêu tả ẩn dụ tri nhận trong các thành
ngữ có từ chỉ “Nước”, “Lửa” và các hiện tượng có liên quan trong tiếng Việt
và tiếng Anh; so sánh - đối chiếu để chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt
về ẩn dụ tri nhận trong thói quen sử dụng ngôn ngữ và tư duy được thể hiện
qua các thành ngữ có từ chỉ “Nước”, “Lửa” và các hiện tượng có liên quan
trong tiếng Việt và tiếng Anh.
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status