Những giải pháp để mở rộng thị trường của Công ty TNHH Thương mại Du lịch và Đầu tư Tân An thông qua công cụ Marketing - Mix - Pdf 44

LỜI MỞ ĐẦU
Giữ vững và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường là một điều rất
khó khăn, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có các biện pháp tiếp cận thị trường một cách
chủ động và sẵn sàng đối phó với mọi nguy cơ, đe doạ, cũng như áp lực cạnh tranh từ
phía thị trường. Để làm được điều này doanh nghiệp phải thực hiện sản xuất kinh
doanh hướng theo thị trường, tìm được biện pháp hiệu quả để tiêu thụ được các sản
phẩm và dịch vụ của mình một cách nhanh nhất nhằm tìm kiếm lợi nhuận và nâng
cao sức cạnh tranh, vị thế của mình trên thương trường. Có rất nhiều cách để đạt
những mục đích đó. Tuy nhiên, một trong những cách được đánh giá là hiệu quả hơn
cả là việc áp dụng các hoạt động Marketing vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh
doanh trên thị trường trong mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động như tài chính,
nhân sự, kỹ thuật… của một doanh nghiệp. Trong hoạt động Marketing thì việc xây
dựng và hoàn thiện một chính sách Marketing-Mix với những chiến lược và biện
pháp cụ thể sẽ là công cụ cạnh tranh sắc bén và hiệu quả của doanh nghiệp để đi đến
thành công. Chính vì vậy em chọn đề tài “Những giải pháp để mở rộng thị trường
của Công ty TNHH Thương mại Du lịch và Đầu tư Tân An thông qua công cụ
Marketing - Mix” để viết báo cáo thực tập.
Bài viết này sẽ đi sâu phân tích những vấn đề lí thuyết về chính sách
Marketing-Mix với quan điểm cho rằng đây chính là một công cụ quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Lí thuyết ấy sẽ được minh chứng cụ thể
thông qua ví dụ cụ thể ở Công ty TNHH Thương mại Du lịch và Đầu tư Tân An.
Mục tiêu của bài viết chủ yếu nhằm mô tả và phân tích rõ hoạt động phân phối
sản phẩm của một doanh nghiệp nói chung và của Công ty TNHH Thương mại du
lịch và Đầu tư Tân An nói riêng.
1
Kết cấu của bài viết này gồm các phần
Chương 1 : Một số vấn đề căn bản về Marketing- mix
Chương 2 : Quá trình thực hiện chiến lược Marketing - mix và việc phân
phối sản phẩm ở Công ty TNHH Thương mại du lịch và Đầu tư Tân An.
Chương 3 : Một số biện pháp chủ yếu hoàn thiện chiến lược Marketing-mix
nhằm mở rộng thị trường của Công ty TNHH Thương mại du lịch và Đầu tư Tân An.

thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức”.
(Quản trị Marketing - Philip Kotler)
1.3- Khái niệm marketing của Philip Kotler
“Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân
và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán
và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác ”.
( Marketing căn bản - Philip Kotler)
1.4- Khái niệm về marketing hiện đại
“ Marketing là làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi với mục
đích thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người hoặc marketing là một
3
dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thoả mãn các nhu cầu và
mong muốn thông qua trao đổi.
(Marketing - NXB Thống kê 2006 - Trang 17)
2- Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Hoạt động marketing trong doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến vị trí
của doanh nghiệp trên thị trường. Bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lập danh
mục hàng hoá đến việc thực hiện sản xuất, phân phối và khi hàng hoá được bán hoạt
động marketing vẫn tiếp tục, cho nên chức năng quản trị marketing có liên quan chặt
chẽ đễn các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp và nó có vai trò định hướng,
kết hợp các chức năng khác để không chỉ nhằm lôi kéo khách hàng mà còn tìm ra các
công cụ nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nói chung, chức năng của hoạt động marketing trong doanh nghiệp luôn luôn
chỉ cho doanh nghiệp biết rõ những nội dung cơ bản sau đây:
- Khách hàng là ai? Họ mua hàng ở đâu? Họ mua bao nhiêu? Họ mua như thế
nào? Vì sao họ mua?
- Họ cần loại hàng hoá nào? Loại hàng hoá đó có những đặc tính gì? Vì sao họ
cần đặc tính đó mà không phải đặc tính khác?
- Hàng hoá này có những hạn chế gì? Có cần phải thay đổi không? Cần thay
đổi đặc tính nào? Nếu không thì sao? Nếu thay đổi thì gặp điều gì?

Tìm kiếm quyền kiểm soát và sở hữu các nhà cung cấp của
doanh nghiệp.
3
Kết hợp theo chiều ngang
Tìm kiếm quyền kiểm soát và sở hữu đối với đối thủ cạnh
tranh của doanh nghiệp.
4
Thâm nhập thị trường
Tìm kiếm thị phần tăng lên cho các sản phẩm hiện tại và
dịch vụ trên thị trường hiện có của doanh nghiệp thông qua
nỗ lực marketing nhiều hơn.
5
Phát triển thị trường Đưa các sản phẩm hiện có vào thị trường mới.
6
Phát triển sản phẩm
Tăng doanh số bằng việc cải tiến, sửa đổi các sản phẩm và
dịch vụ hiện có.
7
Đa dạng hoạt động đồng tâm
Thêm vào các sản phẩm hoặc dịch vụ mới nhưng có sự liên
hệ với nhau.
8
Đa dạng hoạt động
kết khối
Thêm vào các sản phẩm, dịch vụ mới không có sự liên hệ
với nhau.
9
Đa dạng hoạt động theo chiều
ngang
Thêm vào các sản phẩm, dịch vụ theo cách cộng hoà hàng.

Xúc tiến khuyếch
trương (Promotion)
1. Các bước xây dựng chương trình Marketing - mix:
Để xây dựng được một chiến lược Marketing- mix, công ty cần thực hiện các
bước công việc sau:
Bước 1: Thiết lập các mục tiêu marketing
Bước 2: Lựa chọn thị trường mục tiêu
6
Đây là công việc nhận dạng nhu cầu của khách hàng và lựa chọn các nhóm
khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp.
Bước 3: Xây dựng các định hướng chiến lược
Những định hướng này cung cấp đường lối cụ thể cho chiến lược Marketing- mix.
Bước 4: Hoạch định chiến lược Marketing- mix
Chiến lược Marketing - mix bao gồm 4 chính sách cơ bản. Công ty cần phải
dựa vào những phân tích ban đầu về môi trường marketing, thị trường, khách hàng và
các mục tiêu chiến lược của mình để thiết lập một bộ phận 4 biến số Ps phù hợp nhất
để thoả mãn thị trường mục tiêu.
Bước 5: Xây dựng các chương trình marketing
Đó là sự cụ thể hoá chiến lược marketing bằng các biến số marketing được kế
hoạch hoá chi tiết ở thị trường mục tiêu.
2. Chính sách Marketing - mix nhằm mở rộng thị trường của doanh
nghiệp:
Việc xây dựng các chính sách bộ phận của Marketing-mix phải căn cứ vào các
căn cứ như đã nêu trên để biết đặt trọng tâm vào biến số nào, thực hiện các biến số
còn lại như thế nào để góp phần nâng cao hiệu quả chính sách Marketing-mix. Trong
Marketing-mix có hàng chục công cụ khác nhau, Mc Carthy đã đưa ra cách phân loại
theo 4 yếu tố là 4Ps cụ thể như sau:

Sản phẩm Phân phối
(Product) (Place)

công ty phải thông qua.
2.1 Chính sách sản phẩm:
Đây là biến số quan trọng nhất của chiến lược kinh doanh cũng như chiến
lược Marketing- mix. Thực hiện tốt chính sách này góp phần tạo uy tín và khả năng
cạnh tranh giành khách hàng cho công ty. Chính sách sản phẩm được thực hiện thông
qua các quyết định sau:
* Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hoá:
+ Quyết định về chủng loại hàng hoá
“Chủng loại hàng hoá là một nhóm hàng hoá có liên quan chặt chẽ với nhau
do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho một nhóm khách hàng, hay thông
qua các kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá”.
(Marketing-NXB Thống kê-2006-Trang 191)
+ Quyết định về danh mục hàng hoá
“Danh mục hàng hoá la tập hợp tất cả các nhóm chủng loại hàng hoá và các
đơn vị hàng hoá do một người bán cụ thể đem chào bán cho người mua.
(Marketing-NXB Thống kê-2006-Trang 192-193)
Các thông số đặc trưng trên cho danh mục sản phẩm mở ra cho công ty các
chiến lược mở rộng danh mục sản phẩm:
+ Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ sung sản phẩm mới.
+ Kéo dài từng loại sản phẩm làm tăng chiều dài danh mục.
+ Bổ sung các phương án cho tưng loại sản phẩm.
+ Tăng hay giảm mật độ của sản phẩm tuỳ thuộc công ty có ý muốn tăng uy
tín vững chắc trên một lĩnh vực hay trên nhiều lĩnh vực.
* Quyết định về nhãn hiệu và bao gói sản phẩm:
Các quyết định có liên quan đến nhãn hiệu thường là:
(1) Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không?
(2) Ai là chủ nhãn hiệu sản phẩm? Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào?
(3) Tương ứng với nhãn hiệu thì chất lượng sản phẩm có đặc tính gì?
(4) Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không?
8

9
Thứ hai, Công ty xác định, ước lượng quy mô cầu và độ co dãn của cầu để có
căn cứ định giá cho thích hợp.
Thứ ba, Công ty ước tính giá thành và đây là mức giá sàn của sản phẩm.
Thứ tư, Tìm hiểu giá của đối thủ cạnh tranh để làm cơ sở xác định giá của mình.
Thứ năm, Lựa chọn phương pháp định giá, nó bao gồm các phương pháp:
định giá theo phụ giá, theo lợi nhuận mục tiêu, theo giá trị, theo sự cảm nhận của
khách hàng, định giá theo giá cả hiện hành, định giá đấu thầu.
Thứ sáu, Công ty lựa chọn giá cuối cùng của mình, phối hợp với các yếu tố
khác của Marketing - mix.
Do vấn đề cạnh tranh và sự thay đổi của thị trường làm cho công ty phải điều
chỉnh giá cho thích hợp, có thể có các chiến lược điều chỉnh như: chiết giá và bớt giá,
định giá khuyến mãi, định giá phân biệt và định giá cho danh mục sản phẩm. Khi
thực hiện việc thay đổi, điều chỉnh giá công ty cần phải xem xét thận trọng những
phản ứng của thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh.
2.3- Chính sách phân phối:
Thực hiện một chính sách phân phối thực ra là việc xây dựng hệ thống kênh
phân phối và điều này quyết định phần lớn đến sự thành công hay thất bại trong kinh
doanh của doanh nghiệp. Vậy kênh phân phối là gì?
“Kênh phân phối là một tập hợp các công ty khác hay các cá nhân tự gánh
vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với những hàng hoá
hay dịch vụ cụ thể của công ty đến người tiêu dùng”.
Kênh phân phối tồn tại ở bên ngoài doanh nghiệp nhưng không phải là một
phần cấu trúc nội bộ của doanh nghiệp. Các thành viên trong một kênh phân phối có
quan hệ với nhau theo chiều dọc để đưa hàng hoá tới tận tay người tiêu dùng, các
quan hệ thể hiện chức năng đàm phán của các thành viên. Việc thiết lập quản lý hệ
thống kênh phân phối nhằm vào mục đích cuối cùng là đạt được mục tiêu phân phối.
Trước khi thiết lập hệ thống kênh phân phối thì mục tiêu phân phối đã phải được xác
định để từ đó việc thiết kế, quản lý kênh hướng theo mục tiêu đó. Mục tiêu phân phối
có thể thay đổi và làm cho các hoạt động quản lý khác cũng thay đổi theo.

mua.
11
- Đàm phán và thương lượng: Những việc thoả thuận về giá và những điều
kiện khác để thực hiện chuyển giao quyền sở hữu hay sử dụng…
- Chức năng tiêu thụ hàng hoá: bán hàng, tổ chức vận chuyển, bảo quản, dự
trữ, phân loại hàng hoá…
- Hỗ trợ các chức năng trong kênh: tìm kiếm nguồn tài chính áp dụng các điều
khoản ưu đãi về thời gian thanh toán.
- Đối phó với rủi ro: Gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh phân phối,
san sẻ rủi ro cho các hoạt động trong kênh khác.
Nếu nhà sản xuất thực hiện một phần các chức năng đó thì chi phí của nó sẽ
tăng lên tương xứng và nghĩa là giá cả sẽ cao hơn.
* Các dòng chảy trong kênh phân phối
Trong một kênh phân phối có nhiều dòng chảy, những dòng chảy này cung cấp
sự liên kết ràng buộc các thành viên trong kênh, những dòng chảy quan trọng là:
- Dòng chảy chuyển quyền sở hữu.
- Dòng sản phẩm: thể hiện sự di chuyển vật chất thực sự của sản phẩm về
không gian, thời gian qua tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng.
- Dòng đàm phán: là dòng chảy hai chiều thể hiện sự tác động qua lại lẫn nhau
của các bên mua và bán liên quan đến quyền sở hữu sản phẩm.
- Dòng thông tin: là dòng chảy hai chiều, chủ yếu gồm: số lượng, chất lượng
hàng hoá, thời gian và địa điểm giao nhận, giá cả hàng hoá, phương thức thanh toán…
- Dòng xúc tiến: là dòng hai chiều thể hiện sự hỗ trợ của người sản xuất cho
tất cả các thành viên trong kênh phân phối dưới các hình thức quảng cáo, bán hàng cá
nhân, xúc tiến bán hàng và quan hệ với công chúng. Dòng đặt hàng: thể hiện cơ chế
thu thập, tập hợp, xử lý các đơn đặt hàng từ người mua cuối cùng đến trở lại người
sản xuất.
- Dòng tiền tệ và chứng từ thanh toán: là dòng vận động ngược chiều từ người
mua cuối cùng trở lại người sản xuất. Nó tách rời sự vận động của sản phẩm và
chuyển quyền sở hữu ở các mức độ nhất định.

cùng
Bán lẻ
Bán lẻ
Bán lẻ
Bán lẻBán buôn
Bán buôn
Đại lý
1
2
3
4
tán, do quan hệ mua bán trong từng kênh nên tổ chức tương đối chặt chẽ, vòng quay
vốn nhanh, luồng vận động sở hữu có nhiều vòng hơn. Tuy nhiên, do kênh dài nên
khả năng rủi ro lớn, việc thích hợp và điều hành kênh khó khăn hơn, thời gian lưu
thông hàng hoá dài hơn, chi phí phân phối cả kênh lớn.
* Các thành viên của kênh
Trong một kênh Marketing, thông qua nhiệm vụ và trách nhiệm của các thành
viên kênh từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, người ta chia các thành viên kênh thành 2
loại: loại chính thức và loại bổ trợ.
- Thành viên chính thức của kênh
Thành viên chính thức của kênh là tập hợp các tổ chức hình thành nên cấu trúc
chính thức của một kênh phân phối, tham gia vào quá trình đàm phán để phân chia
những công việc phân phối. Thành viên chính thức của kênh gồm:
- Người sản xuất, nhà cung cấp, nhà nhập khẩu…
- Các nhà trung gian: như người bán buôn, đại lý bán buôn, môi giới, chi
nhánh và đại diện của người sản xuất, người bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng…
- Các tổ chức bổ trợ:
+ Công ty vận tải, kho vận
+ Công ty tài chính
+ Các công ty quảng cáo

doanh, hoạt động marketing, thay đổi cách tiếp cận thị trường, đổi mới các loại sản
phẩm để đạt thị phần cao, chiếm lĩnh thị trường.
2- Quá trình phát triển của công ty:
Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty cũng trải qua những khó khăn bởi sự
cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường.Tuy nhiên do sự năng động của ban lãnh đạo
đã đưa Công ty phát triển đúng hướng, phù hợp với năng lực và sực mạnh của mình.
Đặc biệt lãnh đạo, công nhân viên luôn gắn bó sát cánh bên nhau, cùng nhau vượt
qua mọi khó khăn vươn lên phía trước.
Quá trình xây dựng và phát triển của công ty có thể được chia ra thành 2 giai
đoạn sau:
2.1- Giai đoạn 1 ( Từ 2007 đến 2009)
Công ty được thành lập năm 2007 với tên gọi Công ty TNHH Thương mại Du
lịch và Đầu tư Tân An.
15
Năm 2007, do mới thành lập cho nên hoạt động kinh doanh của công ty gặp rất
nhiều khó khăn, doanh thu cả năm đạt 1.253 triệu đồng, doanh thu từ sản xuất là 993
triệu, doanh thu từ thương mại là 260 triệu, tổng lợi nhuận chỉ có 210 triệu đồng.
Năm 2008, hoạt động của công ty đã đi vào thế ổn định, vì vậy hoạt động tiêu
thụ sản phẩm khả quan hơn rất nhiều. Trong năm 2008, doanh thu của công ty tăng
rất mạnh đạt 4.248 triệu, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 3.285 triệu, doanh thu từ
hoạt động thương mại là 963 triệu, tổng lợi nhuận đạt 922 triệu đồng.
Năm 2009 hoạt dộng kinh doanh của công ty tiếp tục phát triển, công ty đã
kinh doanh thêm một số mặt hàng mới và mở rộng chi nhánh của mình.
2.2- Giai đoạn 2 ( Từ 2009 đến nay)
Năm 2009 hoạt động kinh doanh của công ty gặp khó khăn, nguyên nhân
chính là do công ty có nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, bên cạnh đó Công ty chưa có
những thay đổi mạnh cho phù hợp với nhu cầu khách hàng, vì thế mức răng trưởng
chậm và có nguy cơ suy giảm. Tuy nhiên doanh thu của Công ty vẫn tăng đạt 5.261
triệu đồng, với 3.568 triệu từ hoạt động sản xuất và 1693 triệu từ hoạt động thương
mại, lợi nhuận thu được là 1.068 triệu đồng.

đồng đều và tốt, được khách hàng chấp nhận. Chính tiêu chuẩn chất lượng được đặt
lên hàng đầu nên công ty hàng năm đạt mức doanh số tương đối cao. Điều này được
thể hiện trong bảng Doanh thu kinh doanh các mặt hàng trong 3 năm qua. (Bảng - 1).
Nhìn vào số liệu bảng - 1 cho ta thấy mức tiêu thụ và doanh thu của sản phẩm có xu
hướng tăng dần.
17
Bảng báo cáo danh thu của các sản phẩm
Chủng loại
Sản lượng sản xuất
Tiêu thụ Doanh thu
2007
2008 2007 2008 2007 2008
Kính tấm xây dựng
4.766.071
6.994.688 3.760.969 7.030.823 732.790.966 2.070.582.975
Kính mờ
150.007
325.130
108.694 336.312 148.568.889
325.393.045
Gương
742.937 936.025 639.148 988.322 45.019.056 55.557.663
Kính phản quang
44.766
42.740
28.130 69.520 66.621.089 168.555.000
Kính an toàn
- 7.733 - 5.836
-
664.911.317

có thể chia sản phẩm của công ty thành hai mảng:
+ Thứ nhất: Sản phẩm kính phục vụ cho việc xây dựng và các thiết bị cho ôtô,
tàu… đó có thể gọi là các sản phẩm công nghiệp.
+ Thứ hai: Sản phẩm kính phục vụ cho tiêu dùng như kính gương, kính bàn, tủ…
BẢNG DANH MỤC SẢN PHẨM
Tên sản phẩm Các đặc tính
Kính tấm xây dựng - Chiều dầy : 2; 2,5 ; 3 ; 4 ; 5 ; 6 ; 7
- Kích thước : 500*400 ; 600*400 ; 1200*400 ;…
Kính an toàn
- Sử dụng rộng rãi cho các phương tiên giao thông vận tải:
kính ôtô, tàu hoả,của ra vào, nhà cao tầng…
- Sản phẩm có nhiều loại kính cong, kính phẳng, trắng hoặc
màu, có chiều dầy từ 4 đến 8 mm
Sản phẩm kính phản
quang
- Kính phản quang Đáp cầu có nhiều màu: Màu bạc, màu
vàng, màu lục, màu trà (nâu)...v.v...
- Kính phản quang có chiều dày từ (4 ÷ 8)mm.
Kính mờ
- Kính mờ được sản xuất từ các loại kính tấm xây dựng (theo
TC: 14 – 97).
- Kính mờ được làm mờ 1 mặt, bằng cách phun cát áp lực
cao lên bề mặt Kính.
Gương soi
- Có 2 loại : Gương soi ( gương phẳng ), Gương trang trí
(Gương phản chiếu).
- Gương có kích thước lớn nhất là 2000 x 1500mm, thông
thường là 2000 x 1300mm. Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của
khách hàng mà có thể có các kích thước khác nhau.
- Chiều dày của gương từ 2 ÷ 7mm.

Thời gian giao hàng là rất quan trọng đối với các sản phẩm mà công ty đang
kinh doanh. Vì đây là các sản phẩm chủ yếu là xây dựng nên nó có sự ảnh hưởng lớn
đến giá trị kinh doanh nếu có sự sai lệch về thời gian. Nhận thức được điều này công
ty đã thực hiện giao hàng rất đúng thời điểm, đảm bảo cho các hợp đồng của khách
hàng được thuận tiện, công ty cũng có đội xe vận tải phục vụ cho các hợp đồng
chuyên chở riêng, điều này đã tạo ra uy tín trong việc nâng cao hình ảnh cho công ty.
* Các dịch vụ khác
22
Dịch vụ khách hàng rất quan trọng, nó tạo cho công ty lợi thế cạnh tranh và uy
tín trên thị trường. Ngoài dịch vụ về thời gian giao hàng thì công ty còn phải thực
hiện các dịch vụ khác với khách hàng như:
- Dịch vụ tư vấn, hướng dẫn sử dụng sản phẩn cho khách hàng.
- Dịch vụ vận chuyển hàng hoá.
- Dịch vụ tài chính: các dịch vụ trả góp dành cho khách hàng…
Ngoài ra, chính sách sản phẩm của công ty cũng phải đương đầu với các sản
phẩm đang cạnh tranh trên thị trường, đó là các sản phẩm thay thế: nhựa phócmêca,
tấm lợp, trên cả bình diện chất lượng và công dụng, nhưng trên thực tế nghiên cứu
công ty cho thấy các sản phẩm đó không thể cạnh tranh với kính hay có thể thay kính
được vì do độ bền, bóng và công dụng của nó.
Như vậy với chính sách sản phẩm công ty từng bước đổi mới sản phẩm và sản
phẩm mới hay đa dạng hoá sản phẩm, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm trong
quá trình sản xuất và chất lượng dịch vụ khách hàng để nâng cao khả năng canh tranh
của sản phẩm.
2- Chính sách giá cả:
Là một yếu tố cạnh tranh của công ty trong hoạt động kinh doanh. Chính sách
giá cả cùng với chính sách sản phẩm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm, là hai vũ khí
cạnh tranh chính của công ty. Mặc dù công ty định hướng hoạt động theo nhu cầu thị
trường, sản xuất theo nhu cầu thị trường. Việc định giá của công ty vẫn dựa trên cơ
sở chi phí và phải có lãi. Chi phí là một yếu tố trong giá cả của công ty và là nhân tố
cạnh tranh chủ yếu của giá.

chất chủ quan, cảm nhận. Nó cũng là một hạn chế của công ty, mà cụ thể là của bộ
phận marketing trong quá trình định giá.
* Xác định giá thành sản phẩm
Mục tiêu cuối cùng của công ty là phải định giá như thế nào để công ty bán
được sản phẩm của mình và đạt được mục tiêu lợi nhuận. Với chiến lược giá trung
bình, muốn có được lợi nhuận thì giá thành sản phẩm phải thấp. Do vậy nỗ lực của
công ty để có giá thành thấp là hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh.
24
Giá thành sản phẩm của công ty được tính như sau:
Giá Chi phí Chi phí nguyên Chi phi Chi phí Chi phí
thành = dở dang + vật liệu trực + nhân công + sản xuất + dở dang
sản phẩm đầu kỳ tiếp t rực tiếp chung cuối kỳ
* Phương pháp định giá sản phẩm của công ty
Công ty chủ yếu định giá dựa vào chi phí và lợi nhuận dự kiến. Việc định giá
theo giá trị cảm nhận của khách hàng là không thể và đó chỉ là yếu tố để công ty điều
chỉnh giá. Do đó việc định giá của công ty là dựa vào phương pháp cộng lãi vào chi
phí.
Giá dự = Chi phí sản xuất + Lãi
kiến đơn vị sản phẩm dự kiến
Ngoài ra khi định giá, công ty còn tính đến các yếu tố như: giá cả năm trước,
thị trường tiêu thụ năm trước, xu hướng biến động giá của nguyên liệu đầu vào…
việc định giá của công ty không phân biệt theo các khu vực địa lý.
* Quản lý giá
Việc quản lý giá và công việc định giá do công ty quyết định, ở đây có sự phối
hợp giữa bộ phận marketing và bộ phận kế toán để thực hiện việc định giá cho công ty.
Sự quản lý giá của công ty và các chính sách chống nhập lậu, bảo hộ…của Nhà nước
làm cho mức giá cả sản phẩm của công ty trong ba năm qua là tương đối ổn định, đóng
góp vào doanh thu tiêu thụ ổn định, thể hiện qua các năm trong bảng giá.
- Mặc dù vậy, theo bảng giá sản phẩm cho ta thấy giá không có xu hướng
giảm mà còn có xu hướng tăng lên là do:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status