Thực trạng an ninh lương thực tại Việt Nam và các biện pháp khắc phục - Pdf 44

Chuyên đề thực tập
Phần Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Trong nhiều thập kỷ qua, an ninh lương thực luôn là vấn đề bức xúc
của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Tìm kiếm giải pháp đảm bảo an ninh lương thực cho tất cả mọi người
không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nghèo mà nó đã trở
thành vấn đề thời sự mang tính toàn cầu. Nhiều sách báo, nhiều tổ chức và
cá nhân, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế đã thường xuyên đề cập
và thảo luận về chương trình an ninh lương thực quốc gia và toàn cầu. Từ
đó họ đã rút ra một kết luận hết sức có ý nghĩa đó là: giải quyết kịp thời vấn
đề lương thực là trung tâm của mọi cố gắng hiện nay để phát triển kinh tế
xã hội một cách bền vững.
Ở Việt Nam, sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và
Chính phủ, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói
riêng đã có bước phát triển nhanh, liên tục và tương đối ổn định. Sản xuất
nông nghiệp tăng trưởng nhanh với tốc độ bình quân 4.3%/năm. Từ năm
1988 đến nay, sản lượng lương thực (gạo, ngô, sắn) liên tục tăng với mức
hơn 1 triệu tấn/năm, tốc độ tăng bình quân là 5%, gấp 2 lần mức tăng dân
số. Năm 2000 sản lượng lương thực đạt trên 34 triệu tấn, bình quân lương
thực đầu người đạt gần 450 kg. Nhờ vậy hầu hết dân cư đã có đủ lương
thực để dùng. Sản xuất các loại thực phẩm, như rau, quả, cá, thịt,… cũng
tăng nhanh đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước và có dư để xuất
khẩu. Sau đổi mới, Việt Nam từ một nước thiếu lương thực phải nhập khẩu
hàng năm trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo chủ yếu trên thế
giới với số lượng lương thực xuất khẩu trên 3 triệu tấn/năm.
An ninh lương thực ở nước ta đang được thiết lập và đã đạt được
những thành công to lớn trên nhiều mục tiêu. Tuy nhiên, việc đảm bảo an
Thiều Đình Trọng KTNN 47
1
Chuyên đề thực tập

Chuyên đề thực tập
3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề an ninh lương thực tại Việt Nam nhằm phản ánh
thực tiễn tình hình an ninh lương thực quốc gia, đồng thời tìm hiểu những
ảnh hưởng của tình hình an ninh lương thực thế giới đối với Việt Nam, từ
đó góp phần làm sáng tỏ nội dung, yêu cầu về an ninh lương thực ở Việt
Nam trong quá trình phát triển đất nước. Đồng thời, góp phần bổ sung
phương pháp nghiên cứu, đánh giá an ninh lương thực quốc gia, phân tích
điều kiện, khả năng cũng như các trở ngại của Việt Nam trong quá trình phát
triển để đề ra giải pháp thực hiện an ninh lương thực một cách bền vững
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan vấn đề an ninh lương
thực. Sau đó, phản ánh thực tiễn tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam,
khẳng định những thành công đã đạt được và tìm ra những khó khăn bất ổn
còn tồn tại trong hoạt động bảo đảm an ninh lương thực tại Việt Nam để có
những giải pháp phù hợp.
4. Vấn đề nghiên cứu
Tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài luận văn được viết ra dựa trên phương pháp nghiên cứu là phương
pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải các tài liệu thu được từ Tổng công ty
lương thực Miền Bắc và kết hợp với quan sát, phỏng vấn đề thu thập thông
tin thực tế .
Kết cấu của chuyên đề gồm có ba phần:
Chương I : Những vấn đề lý luận cơ bản về an ninh lương thực.
Chương II : Thực tiễn tình hình an ninh lương thực tại Việt Nam
Chương III : Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những bất ổn.
Sau đây ta đi vào dàn ý chi tiết từng chương :
Thiều Đình Trọng KTNN 47

4
Chuyên đề thực tập
Mục tiêu chiến lược an ninh lương thực của Việt Nam đến năm 2020
là: “Đảm bảo vững chắc an ninh lương thực ở từng hộ gia đình và trên
phạm vi toàn quốc trong mọi tình huống bằng việc đẩy mạnh phát triển sản
xuất lương thực, chủ yếu là lúa và ngô trên cơ sở ổn định diện tích đất lúa
nước, tăng cường thâm canh tăng năng suất, sản lượng, tăng hiệu quả và
thu nhập cho người sản xuất lương thực, tăng khả năng tiếp cận đủ lương
thực của mọi người dân trong mọi tình huống”.
1.2. Vai trò của an ninh lương thực đối với đời sống xã hội
Theo các tài liệu chính thức của Liên Hợp Quốc, an ninh lương thực là
một trong 7 nhân tố cấu thành an ninh con người cùng với các nhân tố khác
đó là: an ninh kinh tế, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá
nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị.
An ninh lương thực đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cũng
như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cong người. An ninh lương
thực đảm bảo cho người dân có đủ lương thực để dùng trong một thời gian
dài. Một nền kinh tế có an ninh lương thực tốt nghĩa là người dân sống
trong đó không còn phải lo về việc thiếu lương thực hay không đủ khả năng
để mua lương thực khi cần thiết. Đặc biệt trong quá trình đô thị hóa đang
diễn ra rất nhanh ở các nước đang phát triển cùng với việc sử dụng lúa gạo
vào những mục đích khác nhau thì vấn đề an ninh lương thực ngày càng
được quan tâm hơn bao giờ hết.Theo ông Jean Ziegler, một đại diện của
Liên Hợp Quốc nhận xét: “ việc dùng cây lương thực để sản xuất khối
lượng lớn nhiên liệu sinh học là một tội ác vì nó tác động trực tiếp tới giá
lương thực trên toàn cầu, đe doạ cuộc sống của hàng triệu người”. Hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều sử dụng gạo làm lương thực để dự trữ. Số lượng gạo
dự trữ này hàng năm đều tăng do vấn đề tăng dân số. Khi gặp sự cố bất ngờ
như thiên tai bão lũ... mùa màng thất bát thì Chính Phủ các nước sẽ sử dụng
dến lượng lương thực dự trữ này cứu trợ nhân dân.

thích nghi với khí hậu ôn đới, mùa đông lạnh ẩm, năng suất bình quân khoảng
20 tạ/ha trên diện tích 210 triệu ha và tổng sản lượng thế giới là 355 triệu tấn.
Thiều Đình Trọng KTNN 47
6
Chuyên đề thực tập
Ngô là loại cốc đứng thứ ba, sản lượng ngô trên thế giới khoảng 322 triệu tấn
với 40% diện tích tập trung ở Bắc và Trung Mỹ. Xét về giá trị dinh dưỡng thì
lúa có năng lượng tổng số - 234 Kcal/100g và protein - 4,4%, còn ở ngô là 327
Kcal/100g và 7,6%. Tuy nhiên, lúa gạo có khá đầy đủ các loại axit amin cần
thiết, trong khi đó, ngô thiếu hẳn hai loại quan trọng mà cơ thể không thể tổng
hợp được là lizin và priptophan
Tuy nhiên, hiện nay an ninh lương thực đang đối diện với cuộc khủng
hoảng nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu lương thực. Con người
không có đủ lương thực để sống vì sản lượng lương thực đang giảm sút đến
mức báo động. Chính vì vậy, sản lượng lương thực là nhân tố tiên quyết đến
vấn đề an ninh lương thực không chỉ cho mỗi quốc gia mà còn cho toàn cầu.
Muốn giải quyết được cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay thì trước hết cần
có chiến lược tăng sản lượng lương thực, đảm bảo lương thực cho cả những
vùng khó khăn nhất trên thế giới.
- Khí hậu:
Khí hậu là một trong những yếu tố tác động đến sản lượng lương thực
bởi, từ xưa tới nay việc sản xuất gieo trồng các cây lương thực phần lớn
phụ thuộc vào thời tiết cụ thể là nguồn nước mưa và nhiệt độ. Hiện nay 2/3
dân số trên thế giới đang sống ở các khu vực nông thôn, đa số tại các nước
đang phát triển.
Biến đổi khí hậu sẽ gây ra tình trạng mất cân bằng về khí hậu, mưa
nhiều ở các khu vực khí hậu ôn hòa nhưng lại gây ra hạn hán ở các vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hạn hán sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động
nông nghiệp làm giảm sản lượng lương thực. Châu Phi là châu lục dễ bị
ảnh hưởng nhất khi lượng mưa giảm. Sản lượng nông nghiệp đang giảm

được đảm bảo. Ngược lại, nếu có chiến tranh, bạo động, dịch bệnh…tàn
phá thì chắc chắn an ninh lương thực sẽ bất ổn.
3. Đặc điểm tình hình an ninh lương thực thế giới và những
ảnh hưởng đối với Việt Nam
3.1. Đặc điểm tình hình an ninh lương thực thế giới
Đặc điểm 1: Thế giới đang đối phó với cuộc khủng hoảng lương
Thiều Đình Trọng KTNN 47
8
Chuyên đề thực tập
thực gây hậu quả nghiêm trọng
Chưa bao giờ, vấn đề an ninh lương thực lại được thế giới đặt ra một
cách cấp bách như hiện nay. Theo thống kê, trong 3 tháng đầu năm 2008,
giá gạo luôn ở mức cao, hiện đã tăng khoảng 70% trong bối cảnh nguồn
cung giảm mạnh. Những bất ổn về an ninh lương thực ảnh hưởng trực tiếp
tới sự ổn định của các nước và an ninh quốc tế. Khủng hoảng lương thực có
thể kích động làn sóng di cư, bạo loạn, khủng bố, trồng cây thuốc phiện...
Ðó là chưa kể các cuộc chiến tranh do nạn đói gây ra. Các nhà phân tích
cho rằng, cuộc khủng hoảng lương thực vẫn đang hiện hữu và vấn đề an
ninh lương thực vẫn là bài toán khó giải.
Đánh giá mới nhất của FAO cho thấy tình hình khẩn cấp về lương
thực vẫn còn hiện diện ở 34 quốc gia trên toàn thế giới. Con số này đã giảm
so với 39 nước theo đánh giá trước của CFS. 26 trong số 34 nước này ở
châu Phi, số còn lại chủ yếu ở châu Á và các vùng khác.
Tổng Giám đốc FAO J. Diouf cho rằng, tình trạng mất an ninh lương
thực hiện nay trên thế giới là "quá sức chịu đựng" và ông đã kêu gọi triệu
tập Hội nghị cấp cao thế giới về khủng hoảng lương thực, dự kiến sẽ họp
vào tháng 11 năm 2009 tại Roma (Italy) nhân kỳ họp lần thứ 36 của FAO.
Ông Diouf cho biết, hội nghị nhằm tạo dựng sự đồng thuận của các quốc
gia về mục tiêu cắt giảm nhanh chóng, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tình trạng
đói ăn trên toàn cầu, đồng thời hình thành một trật tự lương thực thế giới

nơi có tổng dân số lên tới 550 triệu người, khi giá gạo tăng đột biến trên thị
trường. Là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Thái-lan sẽ lập các kho dự
trữ riêng để phục vụ kế hoạch an ninh lương thực của ASEAN. Bên cạnh
đó, mỗi nước thành viên cùng đóng góp vốn hoặc thóc gạo cho quỹ này.
Chính phủ các nước khu vực sẽ tính toán giá gạo dựa trên giá thị trường.
Thái-lan đề nghị quỹ gạo dự phòng của ASEAN mỗi năm sẽ ở mức khoảng
ba triệu tấn. Thái-lan đánh giá kế hoạch trên không chỉ giúp tăng cường vai
trò quản lý và bảo đảm an ninh lương thực cho ASEAN, mà còn nâng cao
năng lực điều hành chương trình dự trữ gạo của chính phủ và góp phần
Thiều Đình Trọng KTNN 47
10
Chuyên đề thực tập
bình ổn giá gạo trên thị trường, giúp Thái-lan có thêm kênh bán gạo cho
các nước thành viên ASEAN khác.
Tại Ấn Độ, quốc gia xuất khẩu 4 triệu tấn gạo/năm cũng áp đặt lệnh
cấm xuất khẩu tất cả các loại gạo, trừ gạo basmati, để đảm bảo có đủ lương
thực cung cấp cho hơn một tỉ người và giảm sức ép tăng giá trong nước...
Theo FAO, lượng dự trữ lúa mì của thế giới hiện ở mức thấp nhất trong
vòng 25 năm qua. Những năm trước, Quỹ Dự trữ an ninh lương thực thế giới là
140 triệu tấn gạo, nhưng đến năm nay chỉ còn 76 triệu tấn. Trong năm 2007,
nhu cầu lương thực trên thế giới cần 245 triệu tấn gạo, trong khi các nước sản
xuất lương thực chỉ có thể sản xuất khoảng 240 triệu tấn.
Với Pháp, đây là năm thứ ba liên tiếp nước này phải chứng kiến cảnh mất
mùa lúa mì. Năm 2006, đợt nắng nóng khủng khiếp đã làm cho ngành nông
nghiệp Pháp thất thu, sản lượng nông nghiệp sụt giảm nghiêm trọng. Bộ Nông
nghiệp Pháp thông báo, sản lượng lúa mì năm nay sẽ tiếp tục giảm, chỉ có thể
đạt 32,5 triệu tấn, thấp hơn 2,5% so với năm 2006.
Ở Australia, sản lượng ngũ cốc theo vụ trong năm 2007 đã giảm từ 25
triệu tấn xuống còn 10 triệu tấn. Ukraine cũng phải hạ chỉ tiêu xuất khẩu lương
thực xuống dưới mức 2,5 triệu tấn để bảo đảm an ninh lương thực quốc nội.

mức tới vấn đề lương thực. Ðiều đó được thể hiện rõ tại Hội nghị cấp cao
Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20) mới đây khi an ninh
lương thực không phải là chủ đề ưu tiên. Các chuyên gia cảnh báo, những
hình ảnh về nạn đói và tình trạng bạo động do thiếu lương thực tại châu Á,
châu Phi, Mỹ la-tinh cách đây đúng một năm vẫn còn nóng hổi.
Đặc điểm 3: Giá lương thực tăng đến mức chóng mặt
Kể từ năm 2002, giá lương thực quốc tế bắt đầu có dấu hiệu tăng và thể
hiện rõ nét nhất qua những năm gần đây. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc,
chỉ tính riêng năm 2007, giá lương thực đã tăng 42%. Đến năm 2008, giá mặt
hàng này tiếp tục leo thang. Các chuyên gia đã đưa ra những nguyên nhân chủ
yếu đó là: nhu cầu về lương thực trên thế giới cao, sự phát triển của nhiên liêu
sinh học đã lấn át nguồn lương thực, giá dầu tăng dẫn đến việc gia tăng giá
thành sản xuất và vận chuyển lương thực, biến đổi khí hậu dẫn đến chất lượng
Thiều Đình Trọng KTNN 47
12
Chuyên đề thực tập
nguồn lương thực bị giảm sút và ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ trên thị
trường.
Đến cuối nửa năm 2008, tuy giá lương thực, dầu mỏ và các mặt hàng khác
có dấu hiệu lắng xuống nhưng vẫn duy trì ở mức cao. Theo thống kê của Tổ
chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), khoảng cách giá lương thực thế giới
đầu và cuối năm đã giảm 50%. Tuy nhiên so với những năm trước đây, giá gạo
trên thế giới vẫn cao. Tính đến tháng 10, chỉ số giá lương thực theo FAO tăng
28% so với năm 2006.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động không nhỏ đến giá lương
thực. Tháng 10 vừa qua, chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) Robert B. Zoellick
đã chỉ ra rằng: "trong khi nhân dân các quốc gia phát triển quan tâm chủ yếu
đến khủng hoảng kinh tế thì rất nhiều người thuộc các nước đang phát triển lo
lắng về ảnh hưởng của giá lương thực và nhiên liệu đang đè nặng lên nền kinh
tế của họ". Theo thống kê của WB, năm 2008 số người bị suy dinh dưỡng vì

năm 2009 có hơn một tỷ người trên thế giới bị thiếu ăn, so với 963 triệu
người năm 2008. Trước khi giá lương thực tăng, bình quân mỗi năm có 850
triệu người thiếu ăn. Sau khi lên tới mức cao nhất vào đầu năm 2008, giá
lương thực thế giới đã giảm, nhưng vẫn cao hơn khoảng 19% so với giá
trung bình năm 2006.
Các chuyên gia cảnh báo, cuộc khủng hoảng lương thực có thể biến
thành khủng hoảng cơ cấu nếu không có những hành động ngăn chặn kịp
thời, và sẽ "gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với quan hệ
thương mại, mà ảnh hưởng cả tới quan hệ xã hội và quốc tế, hai yếu tố tác
động trực tiếp tới an ninh và sự ổn định của chính trị quốc tế". Theo Phó
Giám đốc Quỹ nghiên cứu MOMA của Pháp, giá một tấn lúa mì có thể sẽ
dao động từ 80 đến 320 ơ-rô trong vài năm tới. Trong những điều kiện như
vậy, rất khó hy vọng sản lượng lương thực thế giới ổn định vì nhà sản xuất
có xu hướng điều chỉnh lượng hạt gieo căn cứ vào giá cả. Một vấn đề khác
cản trở sự gia tăng sản lượng lương thực và làm tăng các rủi ro biến động
giá cả là khả năng vay vốn của người sản xuất bị hạn chế do khủng hoảng
Thiều Đình Trọng KTNN 47
14
Chuyên đề thực tập
tài chính. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) dự báo, trao đổi mậu dịch
toàn thế giới sẽ giảm mạnh trong năm 2009. Ðiều này gây lo ngại cho các
nhà nhập khẩu lương thực, nhất là đối với các nước nghèo. Chủ tịch Ngân
hàng các quốc gia Trung Phi nhấn mạnh: "Năm 2008, một số nước có thể
đưa ra giải pháp cho an ninh lương thực vì có thặng dư ngân sách nhờ
nguồn thu nhập từ dầu mỏ tăng. Nhưng năm 2009, họ không còn khả năng
can thiệp đó nữa". Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon nhấn mạnh, cuộc
khủng hoảng lương thực vẫn đang hiện hữu, dẫn đến tình trạng thiếu lương
thực ở nhiều nơi trên thế giới. Ông Ban Ki-moon kêu gọi các nước trên thế
giới tiếp tục ưu tiên cho sản xuất lương thực, nhất là tại những nước nghèo
nhất.

thực nhưng giá lương thực cũng đã tăng khá cao do tác động của thị trường
thế giới. Trước tình hình đó Chính phủ đã chủ trương tạm ngừng xuất khẩu
gạo vừa để góp phần chống lạm phát vừa để đảm bảo an ninh lương thực
vừa theo dõi diễn biến tình hình thị trường gạo thế giới để có đối sách phù
hợp.
Một vấn đề khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp phát sinh gần đây
cũng cần được đề cập. Đó là tình trạng huyện huyện, tỉnh tỉnh đua nhau lấy
đất nông nghiệp cả những vùng màu mỡ, “bờ xôi, ruộng mật” để lập khu
công nghiệp mà không ít khu lập xong không thu hút được các nhà đầu tư.
Con số thống kê cho thấy từ năm 2002 đến năm 2007, mỗi năm mất 73.000
ha đất nông nghiệp, 500.000 tấn lương thực, 2,5 triệu nông dân mất tư liệu
sản xuất rơi vào cảnh “ăn không, ngồi rồi” vì không thể chuyển nghề.
Cho đến bây giờ, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (tổng sản
phẩm quốc nội) đã giảm nhưng nước ta vẫn là nước nông nghiệp, hơn 75%
dân số sống ở nông thôn. Bởi vậy công nghiệp hóa là cần thiết nhưng công
nghiệp hóa thế nào để nông nghiệp vẫn phát triển, nông dân được đổi đời,
an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo.
Vấn đề an ninh lương thực đang thực sự nóng bỏng trên toàn cầu và
tác động trực tiếp đến nước ta. Trên thế giới nhu cầu tiêu dùng ngày càng
Thiều Đình Trọng KTNN 47
16
Chuyên đề thực tập
lớn và yêu cầu phát triển nhanh chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc, gia
cầm sử dụng lương thực vì dân số thế giới tăng nhanh (trong 10 năm qua
dân số thế giới đã tăng 2 lần), nhiều hơn mức tăng sản lượng lúa gạo, đồng
thời nhu cầu của thị trường cao cấp về lương thực thực phẩm như thịt -
trứng - sữa ngày càng tăng khiến cho một khối lượng lớn lương thực thực
phẩm được điều tiết để hỗ trợ ngành chăn nuôi. Chuyển dịch cơ cấu đất
trồng và sản phẩm lương thực thực phẩm cho mục tiêu sản xuất nhiên liệu
sinh học (biofue) thay thế xăng dầu ngày càng lớn: theo số liệu của Ngân

trên thế giới dẫn đến giá gạo tăng cao đồng thời đẩy ngành nông nghiệp
Việt Nam đối mặt với nhiều sức ép. Các lương thực khác như bắp, khoai,
sắn đã giúp bình quân lương thực đầu người của Việt Nam tăng mạnh từ
430 kg vào năm 1996 lên hơn 550 kg hiện nay, nhưng trong đó tiêu thụ lúa
gạo đang giảm xuống còn 150 kg/người/năm, cơ cấu thực phẩm cho bữa ăn
hàng ngày đã thay đổi, bớt dùng gạo hơn.
Mặc dù giá nông sản trong nước đang hồi phục sau đợt giảm sâu vào
cuối năm 2008, nhưng một vấn đề khác được quan tâm hơn, đó là an ninh
lương thực, như tại hội nghị do Tổ chức Lương nông Liên hợp quốc (FAO)
họp ở Thái Lan đã cảnh báo: dự trữ lương thực thế giới hiện ở mức thấp
nhất trong vòng 30 năm qua. Lúa bắp tăng nhưng vẫn còn hộ thiếu lương
thực
Tình hình đói lương thực và tái nghèo vẫn còn xảy ra ở các vùng khó
khăn như vùng núi cao, vùng biên giới hải đảo và vùng thường xuyên bị
thiên tai. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, cả nước hiện vẫn
còn có 6,7% số hộ thiếu lương thực; trong đó khu vực nông thôn là 8,7% và
ngay ở thành thị vẫn có 2,2% số hộ thiếu lương thực, đây là sự phát triển
không bền vững khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới
nhưng vẫn còn một bộ phận dân cư thiếu gạo ăn. Chất lượng, vệ sinh an
toàn một số loại lương thực thực phẩm chưa cao. Bên cạnh đó, hệ thống
chế biến, bảo quản lương thực còn nhiều bất cập, hệ thống kinh doanh
lương thực hoạt động với hiệu quả thấp và dễ dẫn tới những cơn sốt lương
Thiều Đình Trọng KTNN 47
18
Chuyên đề thực tập
thực như đã từng xảy ra vào tháng 4 năm 2008. Tiêu dùng lương thực vượt
quá sản xuất
Triển vọng ngành nông nghiệp Việt Nam 2009 vào ngày 24 và 25-3 tại
TPHCM, nhiều chuyên gia quốc tế nhận định rằng giá lương thực hiện nay
không tăng không phải do thế giới dư thừa, mà thực ra là do người tiêu

động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội nước ta.
Dự báo từ nay cho đến năm 2010, tình hình kinh tế thế giới và trong
nước tiếp tục có nhiều biến động tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với
nước ta.
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006-2008
Năm 2006 2007 2008
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
(%)
8,23 8,48 6.23
Nguồn: Niên giám thống kê 2006-2008
Về tăng trưởng kinh tế, trong hai năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm
2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt mức cao hơn nhiều so với
mục tiêu đề ra. Tốc độ tăng GDP năm 2006 là 8,23%, năm 2007 tăng cao
hơn là 8,48%. Đến năm 2008 do tác động lớn của suy thoái kinh tế, cùng
với những khó khăn ở trong nước tăng trưởng kinh tế có chậm lại, chỉ đạt
6,23%. Bình quân 3 năm tăng trưởng kinh tế đạt 7,65%/năm, cao hơn mục
tiêu kế hoạch đề ra là 7,5-8% và cao hơn bình quân giai đoạn 2001-2005 là
Thiều Đình Trọng KTNN 47
20
Chuyên đề thực tập
7,5%. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2009 ước tính tăng 3,1% so
với cùng kỳ năm 2008, Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I năm
nay tuy thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ của một số năm gần đây,
nhưng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hầu hết các nền kinh tế
trên thế giới bị suy giảm mạnh mà nền kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng
như trên là một cố gắng rất lớn.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7,5-8% bình quân trong 5 năm
2006-2010, đòi hỏi sự quyết tâm cao và nỗ lực của tất cả các ngành, các
cấp, các doanh nghiệp và toàn dân.
Về cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế trong 2 năm 2006-2007 chuyển dịch

Tỷ lệ lao động trong dịch vụ (%) 24,5 25,5 26,8
Nguồn: Niên giám thống kê 2006-2008
Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch, tỷ lệ lao động nông, lâm, ngư
nghiệp trong tổng lao động năm 2008 còn 53,4% so với năm 2006 là
57,3%; công nghiệp và xây dựng là 19,8% so với năm 2006 là 18,2%; dịch
vụ tăng lên 26,8% so với 24,5% năm 2006. Đến năm 2010 dự kiến cơ cấu
lao động các khu vực phấn đấu đạt mục tiêu đề ra, tỷ lệ nông lâm ngư
nghiệp trong tổng lao động khả năng đến năm 2010 dự kiến khoảng 49,5%.
Về xuất nhập khẩu, sau 2 năm gia nhập WTO, với việc thực hiện mạnh
mẽ chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng cả thị trường truyền thống và
phát triển thị trường mới có nhiều tiềm năng, đồng thời nhờ yếu tố tăng giá
nhiều mặt hàng chủ lực, đã giúp tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng
nhanh, gấp rưỡi chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tổng kim ngạch xuất khẩu 3 năm
2006-2008 đạt 151,3 tỷ USD, bình quân tăng 24,7%/năm. Năm 2009, giá
và lượng một số mặt hàng xuất khẩu chính giảm hơn so với năm 2008, tình
hình kinh tế thế giới biến động, chi tiêu của người dân tại các nước là thị
trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như: Mỹ và EU ảnh hưởng bất lợi tới
hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Theo Bộ Công thương, kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam năm 2009 chỉ tăng khoảng 5-6% so với năm 2008. Tuy
nhiên, khả năng xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng trở lại vào năm 2010,
khi thương mại toàn cầu năm 2010 dự báo phục hồi.
Về nhập khẩu, giá dầu và các nguyên vật liệu đầu vào thiết yếu (vật
liệu xây dựng, phân bón...) cho sản xuất có khả năng giảm, nhưng vẫn ở
mức cao, dự báo sẽ tác động không nhỏ tới hoạt động nhập khẩu của Việt
Nam. Với những nhận định trên, dự báo đến 2010 tăng trưởng kim ngạch
Thiều Đình Trọng KTNN 47
22
Chuyên đề thực tập
xuất khẩu sẽ đạt khoảng 22%, tương đương với 110 tỷ USD vào năm 2010,
phấn đấu giảm nhập siêu xuống khoảng 20-25% tổng kim ngạch xuất khẩu.

ổn định chính trị và uy tín tạo lòng tin trong phát triển trung hạn và dài hạn,
đã huy động được nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Trong 3 năm
2006-2008 tổng vốn đầu phát triển toàn xã hội đạt trên 1.514 nghìn tỷ
đồng. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP năm 2006 đạt
42,3%, năm 2007 đạt 45,6% và năm 2008 ước đạt khoảng 39% GDP, bình
quân 3 năm đạt 42,3% cao hơn mục tiêu đề ra. Trong đó: vốn đầu tư từ
NSNN 3 năm thực hiện khoảng 318,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,1% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội; vốn trái phiếu Chính phủ 3 năm thực hiện khoảng
34,6 nghìn tỷ đồng; vốn tín dụng đầu tư và tín dụng chính sách 3 năm thực
hiện khoảng 110 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội;
khu vực doanh nghiệp nhà nước 3 năm thực hiện khoảng 187 nghìn tỷ
đồng, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của khu
vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và dân cư có tốc độ tăng trưởng nhanh, 3
năm thực hiện khoảng 502 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất, bình
quân 3 năm chiếm 33,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng nhanh, trong 3 năm giải ngân được trên
23 tỷ USD (bao gồm cả phần đóng góp trong nước), đạt tới 92% mục tiêu
của 5 năm. Đáng chú ý là mức vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt kết quả
khá cao, 2 năm 2006-2007 đều đạt tốc độ năm sau cao hơn năm trước gần 2
lần, riêng năm 2008 tăng hơn 3 lần so với năm 2007 (64 tỷ USD).
Công tác thu hút và vận động vốn ODA đạt được nhiều kết quả. Mặc
dù nguồn cung ODA thế giới có xu hướng giảm song công tác vận động,
thu hút vốn ODA trong các năm qua Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ và
cam kết mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế. Vốn ODA cam kết
của các nhà tài trợ đều tăng qua các năm và năm 2008 đạt mức kỷ lục cao
nhất từ trước tới nay (5,43 tỷ USD). Tổng vốn ODA cam kết 4 năm 2006-
2009 đạt 18,62 tỷ USD, trong đó đã ký kết các điều ước quốc tế với tổng
giá trị là 9,6 tỷ USD và giải ngân khoảng 6,1 tỷ USD.
Thiều Đình Trọng KTNN 47
24

25

Trích đoạn xuất một số giải pháp khắc phục khó khăn về bảo đảm an ninh lương thực tại Việt Nam Giải pháp thúc đẩy sản xuất Một số giải pháp thực hiện cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status