Tìm hiểu các yêu cầu về tính vệ sinh, sinh thái của giày thể thao - Pdf 45

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN DỆT MAY – DA GIÀY VÀ THỜI TRANG

TIỂU LUẬN MÔN: VỆ SINH TRANG PHỤC
Tên đề tài: Tìm hiểu các yêu cầu về tính vệ sinh, sinh thái
của giày thể thao
Họ và tên: Nguyễn Thị Minh Hiền
Mssv: 20151392
GVHD: TS. Phạm Đức Dương

Hà Nội, ngày 24/10/2017.

MỤC LỤC


2


3

A- MỞ ĐẦU
1.Vì sao lại là câu chuyện về những đôi giày?
Giày dép có từ khi nào?
Từ xa xưa, khi những người nguyên thuỷ phải vượt qua những con đường đầy gai
nhọn và đá cứng thì họ hiểu rằng cần phải kiếm một thứ gì đó để bọc lấy đôi chân của
mình. Có lẽ những đôi giày đầu tiên mà người nguyên thuỷ làm ra trông giống những đôi
dép quai hậu. Chất liệu mà họ dùng để tạo ra những đôi giày như thế vô cùng đa dạng, từ
cỏ, da, hoặc thậm chí cả những miếng gỗ. Họ buộc chúng vào các ngón chân bằng những
sợi dây và vòng qua gót chân. Ở các vùng giá lạnh, các đôi dép quai hậu mỏng mảnh kia



4

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu về các yêu cầu vệ sinh, sinh thái của giày thể thao, vậy
trong bài tiểu luận này em xin hướng đối tượng nghiên cứu đến các hệ vật liệu tiêu
biểu dùng làm mũ giày và lót đế của một loại giày rất phổ biến ở Việt Nam-giày thể
thao. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính vệ sinh của giày, trong phạm vi bài tiểu
luận này mới xét đến các yếu tố quan trọng nhất đó là các tính chất vật lý của vật
liệu, hệ vật liệu giày và phương pháp liên kết các lớp vật liệu trong hệ.

3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người
ngày nay không chỉ dừng lại ở “ăn ngon mặt đẹp” mà còn phải đảm bảo tính tiện
nghi và an toàn cho sức khỏe khi sử dụng sản phẩm. Vì thế đề tài với mục đích
nghiên cứu tính vệ sinh của giày nhằm đánh giá và so sánh tình trạng vệ sinh của
những loại giày thể thao phổ biến đang được sử dụng như là một nhu cầu cấp thiết
nhằm cung cấp cho người tiêu dùng, các nhà sản xuất, những thông tin về tính chất
quan trọng này của giày, từ đó giúp các nhà sản xuất đưa ra những giải pháp tốt hơn
để nâng cao tính vệ sinh của giày, giúp khách hàng có thể lựa chọn những loại giày
có tính vệ sinh phù hợp với mục đích và môi trường sử dụng.

B- NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN: CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN
CỨU
1.1. Thị trường giày dép Việt Nam
1.1.1. Đôi nét về ngành Da Giày Việt Nam
Ngành Da Giày Việt Nam đã có một cú chuyển mình ngoạn mục để vươn lên
vị trí thứ 4 trên thế giới trong top 10 nước xuất khẩu da giày hàng đầu vào thị

Vì thế mà một thời gian khá dài, các công ty da giày Việt Nam gần như bỏ
quên thị trường nội địa để cho giày dép các loại của Trung Quốc, Hồng Kông, Thái
Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia xâm nhập. Với kiểu dáng đa dạng, hợp thời
trang, màu sắc phong phú, giá không quá chênh lệch với giày nội địa, các loại giày
dép ngoại dễ dàng chinh phục được người tiêu dùng dễ tính. Doanh nghiệp đã vậy,
bản thân các cơ quan quản lý cũng chưa mấy quan tâm tới vấn đề phát triển thị
trường nội địa. Hiệp hội Da giày Việt Nam cho biết, từ trước tới nay chưa có một
chương trình nghiên cứu, khảo sát về thị trường nội địa, phần lớn kinh phí xúc tiến
thương mại chỉ dành cho xúc tiến xuất khẩu. Tuy nhiên các khảo sát về thị trường
gần đây cho thấy, người tiêu dùng Việt Nam vẫn rất ưa chuộng các sản phẩm giày
dép được sản xuất trong nước, tuy họ chọn giày ngoại cho những buổi dạo phố, dạ
tiệc, nhưng để sử dụng hằng ngày, người tiêu dùng vẫn trung thành với các thương
hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao” như: Vina giày, Bitis, Bitas, Á Châu, Sài
Gòn Shoes,… Ngoài ra còn có các nhãn hàng của các doanh nghiệp tư nhân vừa và
nhỏ trở nên quen thuộc với người tiêu dùng như Pasteur, T&T, Hồng Thạnh, Hồng
Anh, Hạnh Dung, Đông Hải, Long Thành, Kim Thành,… các nhãn hàng này có
nhiều chế độ hậu mãi dành cho khách hàng để có thể cạnh tranh với giày dép giá rẻ
Trung Quốc. Một thực tế khác cũng đáng buồn là gần như toàn bộ các doanh
nghiệp đều tập trung vào gia công cho khách hàng nước ngoài nên phụ thuộc hoàn
toàn vào mẫu mã, nguyên liệu, kể cả tiến độ giao nguyên liệu của khách hàng, do
đó, các doanh nghiệp này gặp không ít khó khăn, thường bị ép giá gia công. Thu
nhập của công nhân ngành giày vì thế ngày càng giảm. Nhiều lao động đã chuyển
sang ngành khác, điều này ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh
hưởng đến thời gian giao hàng đúng thời hạn. Tuy có kim ngạch xuất khẩu cao
nhưng vấn đề nguồn nguyên liệu hiện là một bài toán khó đối với các nhà sản xuất
da giày Việt Nam (80% nguyên vật liệu phải nhập khẩu). Nhiều loại nguyên liệu và


6


theo giới tính và lứa tuổi đều sử dụng Sandal khi đi ra đường.
Các loại giày truyền thống thông thường (giày Derby, Oxford, giày Mocasin,
giày thuyền) thường có mũ được may từ da thuộc và giả da, có sử dụng vải để làm
một phần lớp lót; có đế được làm từ da thuộc (số lượng rất ít), từ cao su và vật liệu
Giày thể thao tổng hợp; được sản xuất theo phương pháp dán đế hoặc kết
hợp dán và khâu đế. Đây là loại giày được sử dụng nhiều nhất, đa dạng về kiểu
dáng, mẫu mã, chiều cao gót (đặc biệt là nhóm giày nữ). Loại giày này thđược sử
dụng trong công sở, trường học, dạo phố hoặc lễ hội.
Hình ảnh của một số loại giày:


7

Giày derby

Giày Oxford


8

Giày Mocasin

Giày vải có phần mũ giày được may từ vải, có đế từ cao su, được sản xuất
theo phương pháp lưu hóa nồi hơi, dùng trong trường học, dạo phố, đi dã ngoại
hoặc chơi thể thao.


9

Sandal thường có phần mũ làm từ da thuộc, giả da, vải. Đế giày được làm

* Cấu trúc giày:
Cấu trúc một chiếc giày thông thường gồm hai phần: Phần mũ giày (thường gọi
là mũ giày) (hình a) bao gồm nhóm chi tiết che phủ toàn bộ phía trên (mu) bàn
chân và phần đế giày (hình b) gồm nhóm chi tiết nằm bên dưới lòng bàn chân.

a

Mũ giày và đế giày

b

Phần mũ giày bao gồm các lớp chi tiết: lớp chi tiết ngoài được phân bổ ở phía
ngoài giày; lớp chi tiết trong (các chi tiết lót) tiếp xúc trực tiếp với da bàn chân;
cũn các chi tiết trung gian (các chi tiết tăng cường) được phân bổ ở giữa các chi tiết
ngoài và trong nhằm gia cố thêm độ cứng (pho mũi, pho hậu) hoặc gia cố chống
bai dón cỏc chi tiết (nhất là các chi tiết làm từ da thuộc rất dễ bị bai dãn theo thời
gian sử dụng).
Tương tự như mũ giày, phần đế giày cũng gồm nhiều lớp chi tiết: lớp chi tiết
ngoài gồm đế giày, gót và phủ gót giày; lớp trung gian gồm có độn đế, đế trong (tẩy
gò); lớp lót gồm có tẩy (tẩy nhét) và lót mặt (lót tẩy). Trong đề tài này, thuật ngữ
lót đế giày bao gồm các chi tiết “tẩy gò – tẩy nhét – lót tẩy”, các chi tiết phần đế
giày tham gia vào quá trình trao đổi ẩm của giày.


11

Lót Tẩy

Tẩy nhét



12

* Hệ vật liệu tiêu biểu và hệ chuẩn
Theo một số các kết quả khảo sát tại công ty giày Á Châu về giày thể thao, lựa
chọn ra những vật liệu, hệ vật liệu tiêu biểu (chiếm tỷ trọng cao) cùng với các
phương pháp liên kết các lớp vật liệu trong hệ.
Chọn ra 1 hệ chuẩn cho hệ vật liệu mũ giày và 1 hệ chuẩn cho hệ vật liệu lót đế
để làm cơ sở đánh giá và so sánh tính vệ sinh của các hệ vật liệu còn lại. Hệ chuẩn
là hệ vật liệu được sử dụng phổ biến nhất và có tính vệ sinh tốt nhất so với các hệ
vật liệu khác.

CHƯƠNG II: TÍNH VỆ SINH CỦA GIÀY THỂ THAO
2.1 Tính vệ sinh và các phương pháp đánh giá tính vệ sinh của giày
thể thao
2.1.1. Tính tiện nghi và tính vệ sinh của giày thể thao
Một trong những tiêu chí chất lượng quan trọng của giày đó là tính thoải mái
hay tính tiện nghi khi sử dụng. Tính tiện nghi được hiểu là khả năng của giày đảm
bảo các điều kiện để bàn chân và cả cơ thể người sử dụng hoạt động chức năng
bình thường với các điều kiện bên ngoài khác nhau trong toàn bộ quá trình sử dụng.
Tính tiện nghi của giày được phân chia thành 3 cấp độ:
-

-

Cấp thứ nhất: giày phải đảm bảo thỏa mãn các yêu cầu về nhân trắc học và
tâm sinh lý học. Cụ thể là đảm bảo sự tương thích giữa cấu trúc giày với
hình dạng và kích thức bàn chân (thường được gọi là phom giày) ở điều kiện
tĩnh, các cảm nhận, cảm giác thoải mái khi đi giày và tháo giày. Đây là điều
kiện cần để lựa chọn khi mua giày.

Đặc điểm công nghệ sản xuất và các lỗi sản xuất

Ngoài ra, một đôi giày vừa khít với bàn chân, phần mũ giày mềm dẻo, phần
lót bên trong êm ái thì vẫn chưa đảm bảo đó là một đôi giày tiện nghi. Vì những
yếu tố đó chỉ có thể tạo nên “Sự tiện nghi về mặt tiếp xúc” giữa giày và bàn chân
mà thôi. Điều thiếu sót để có thể tạo nên một đôi giày thật sự tiện nghi đó là những
yếu tố đem lại “Sự tiện nghi sinh lý nhiệt”. Như vậy, sự tiện nghi trong quá trình sử
dụng được phân chia thành hai nhóm:
-

-

Nhóm tính chất tiện nghi xúc giác, liên quan đến sự nhạy cảm của da trong
quá trình tiếp xúc về mặt cơ học giữa giày và da chân (tính mềm mại, dễ uốn
của giày trong quá trình chuyển động, hình dạng và kích thước phom giày,
các tính chất cơ học của vật liệu, công nghệ ráp đế...)
Nhóm tính chất tiện nghi sinh lý nhiệt – bao gồm các tính chất trao đổi ẩm
và nhiệt của giày và cách mà giày đảm bảo sự cân bằng nhiệt cho cơ thể
trong các hoạt động cũng như môi trường khác nhau. Các tính chất vệ sinh –
vật lý của các hệ vật liệu và điều kiện sử dụng sẽ quyết định đến nhóm tính
chất này.

Như vậy “Tính vệ sinh của giày” chính là “Khả năng trao đổi nhiệt – ẩm của
giày giữa bàn chõn với môi trường bên ngoài”, là yếu tố quyết định sự tiện nghi của
một đôi giày. Khi đánh giá tính vệ sinh của giày, không nên xem xét giày một cách
riêng biệt mà cần xem chúng như một thành phần của hệ “bàn chân – giày – môi
trường”.
2.1.2. Sự trao đổi nhiệt ẩm trong hệ “bàn chân-giày-môi trường”
Trong quá trình sống của con người diễn ra việc thải liên tục hơi ẩm qua da.
Ở điều kiện thời tiết bình thường, da người tiết ẩm ở dạng hơi nước. Khi ở môi

độ thông hơi v.v. Do có sự chênh lệch nhiệt độ, hơi ẩm giữa bàn chân và
môi trường bên ngoài, cùng với khi bàn chân vận động các tính chất hút ẩm,
thông hơi, thoáng khí,... của vật liệu, hệ vật liệu mũ giày, đế giày tăng lên
đáng kể.
Tính chống ẩm của giày là khả năng mà chúng giúp cho bàn chân khi mang
giày tránh được sự ẩm ướt do mồ hôi từ bàn chân thoát ra. Tính chống ẩm
của giày được đặc trưng bởi các thông số: độ hút nước, hút ẩm, độ thấm ướt,
độ thải nước và độ thẩm thấu nước. Ngoài ra, tính chống ẩm còn thể hiện ở
tính chống thấm nước của giày ở điều kiện tiếp xúc với nước từ bên ngoài
giày. Đặc tính này phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của vật liệu làm đế giày
và vật liệu làm các chi tiết bên ngoài của mũ giày và một phần phụ thuộc
vào cấu trúc giày.
Các tính chất trao đổi ẩm, chống ẩm của giày có ý nghĩa quyết định đến tính
vệ sinh của giày và phụ thuộc trực tiếp vào tính chất trao đổi ẩm, chống ẩm
của các vật liệu làm giày nói chung và của hệ vật liệu mũ giày, hệ vật liệu
lót đế giày nói riêng.

 Sự trao đổi ẩm ở các vùng trên giày
Sự trao đổi ẩm của các vùng khác nhau trên giày diễn ra không đồng đều và có
sự khác biệt lớn, cụ thể:

∗ Vùng qua đế trong và lót giày: Bít tất ẩm tiếp xúc trực tiếp với lót giày một cách
chặt chẽ do trọng lượng cơ thể tác động. Ẩm từ bít tất sẽ được lót giày, tiếp đến là
đế trong và độn đế thấm hút. Nếu vật liệu làm lót giày và đế trong là vật liệu không
thấm nước thì ẩm sẽ bị tích tụ lại và nằm ở các chi tiết phía dưới (độn đế, đế trung
gian,…). Do vậy lót giày và đế trong phải đảm bảo hút ẩm tốt và nhả ẩm trong thời


15


thấp hơn trong quá trình sử dụng. Do đặc điểm hình dạng của mũ giày, mà nó có
khả năng làm lăn nước khỏi bề mặt, và nhờ có lớp màng ngăn cách trên bề mặt vật
liệu mũ giày nên chỉ có một lượng nước nhỏ ngấm được vào giày.
Nước ngấm được vào giày có thể theo 2 cách: Ngấm qua vật liệu làm các chi
tiết giày hoặc qua các khe hở giữa các chi tiết và các lỗ thủng do đường may ở các
mối ráp nối chi tiết tạo nên. Vận tốc ngấm nước qua vật liệu mũ giày phụ thuộc vào
tính chất của vật liệu, trong đó đối với da – phụ thuộc vào độ thấm ướt và độ dày,
vào kích thước và số lượng mao mạch, độ trương nở của các xơ da.


16

Sự ngấm nước vào giày còn phụ thuộc vào phương pháp ráp phần mũ với phần
đế. Ở giày ráp đế bằng phương pháp dùng chốt và phương pháp khâu có nhiều khả
năng bị nước ngấm vào hơn là giày có đế dán (trong đó có phương pháp lưu hoá
nóng và phương pháp đúc).
2.1.2.2. Các tính chất trao đổi nhiệt của giày
Việc sử dụng giày liên quan tới tác động không ngừng của môi trường nhiệt
bên ngoài lên vật liệu. Sự trao đổi nhiệt giữa chân với môi trường nhiệt bên ngoài
được thông qua lớp bảo vệ chõn, cụ thể là đôi giày.

 Tính chất giữ nhiệt của giày
Tính chất giữ nhiệt của giày được hiểu là khả năng ngăn cản sự toả nhiệt quá
mức từ bàn chân ra môi trường bên ngoài vào mùa lạnh và khả năng truyền nhiệt ra
bên ngoài vào mùa nóng. Các tính chất giữ nhiệt của vật liệu và của giày nói chung
được xác định bởi nhiệt trở. Nhưng giày có cấu tạo từ nhiều lớp vật liệu (hệ thống
vật liệu) nên nhiệt trở tổng đầy đủ của nó R, (m2. ˚C/W), có thể tính bằng tổng nhiệt
trở của tất cả các lớp thành phần và các lớp đệm không khí ở trong hệ vật liệu, và
sự toả nhiệt từ phía bề mặt ngoài của giày vào môi trường bên ngoài.
Tính chất nhiệt của các chi tiết lót mũ giày, tẩy và lót tẩy có ảnh hưởng rất


17

*) Những sản phẩm thiết kế được thừa nhận là đẹp phải là những sản phẩm tuân thủ
các nguyên lý thiết kế, những sản phẩm đó phải vừa mang tính công năng vừa
mang tính thẩm mỹ.
Ý tưởng để thiết kế kiểu dáng giày trước hết phải dựa vào mục đớch sử dụng
và đối tượng sử dụng. Với những ý tưởng sáng tạo của mình, các nhà thiết kế có thể
tạo ra rất nhiều mẫu mã và kiểu dáng giày khác nhau. Tuy nhiên những ý tưởng này
phải luôn đi kèm với mục đích sử dụng (chơi thể thao, dạo phố…) và đối tượng sử
dụng (lứa tuổi, giới tính...) để nhằm đảm bảo sự thoải mái khi đi giày.
Phom giày là một khối đặc mô phỏng hình dạng, kiểu dáng bàn chõn người.
Hình dạng và kích thước phom giày, cỏc tớnh cơ học của hệ vật liệu mũ giày, công
nghệ ráp đế sẽ quyết định đến việc giày có phù hợp với hình dạng và kích thước
bàn chân, làm giảm đến mức thấp nhất sự tác động của giày lên bàn chân trong quá
trình bàn chân vận động.
Việc lấy áo phom giày (hình trải trung bình bề mặt phom) phục vụ cho công
tác thiết kế, làm mẫu rập, đòi hỏi phải chính xác nhằm đảm bảo cho giày vừa chân,
nếu không giày sẽ tác động làm biến dạng bàn chân gây khó chịu, hoặc gây khuyết
tật cho bàn chân.

 Đặc điểm công nghệ sản xuất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
hình thành nên tính vệ sinh của giày. Bao gồm:
− Các phương pháp lắp ráp, liên kết (may, dán, hàn…) các chi tiết và
các lớp vật liệu (lớp ngoài, lớp lút…) với nhau ở từng phần (phần
mũ, phần đế).
− Phương pháp ráp đế hay phương pháp ráp phần đế giày với phần
mũ giày (dỏn, khõu, dỏn và khõu, đúng đinh…).
Các thành phần cấu trúc mũ giày, đế giày (số lượng các lớp và các chi tiết) và
phương pháp liên kết các chi tiết, lắp ráp các chi tiết có ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ

nên các tính chất vệ sinh – vật lý tổng hợp của hệ vật liệu làm giày, điều này sẽ
quyết định đến khả năng trao đổi nhiệt, ẩm giữa bàn chân và môi trường bên ngoài,
ảnh hưởng trực tiếp đến tính vệ sinh của giày. Như vậy, để nghiên cứu tính vệ sinh
của giày, nhất thiết phải nghiên cứu kỹ những tính chất vật lý của các vật liệu tạo
nên các hệ vật liệu giày.

CÁC TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH TIỆN NGHI CỦA GIÀY

CÁC TÍNH CHẤT CƠ HỌC

CÁC TÍNH CHẤT VỆ SINH – VẬT CÁC
LÝ TÍNH CHẤT SINH THÁI

Hóa chất,
Nhiễm
Tínhthấu
trao đổi
nhiệttĩnh điện
Tính hấp thụ,Tính
hấp thẩm
phụ
Độ giãn,
Tính đànĐộ
hồi
bền
vi sinh độc hại
Độ cứng
Hút,
nhả ẩm
Hút nước Thải nước

Hơi nước sẽ đi từ môi trường có độ ẩm cao sang môi trường có độ ẩm thấp hơn và
bị sự ngăn cản bởi các bề mặt vật liệu. Do đó hơi nước sẽ đi xuyên qua vật liệu theo
hai cách: một là đi xuyên qua các lỗ trống của vật liệu như theo kiểu thông khí và
hai là được vật liệu hút từ mặt bên này có độ ẩm cao và được thải ra ở mặt bên kia
của vật liệu có độ ẩm thấp hơn. Như vậy độ thông hơi vừa phụ thuộc độ thông khí
của vật liệu, vừa phụ thuộc khả năng hút thải ẩm của bản thân vật liệu và kể cả sự
chênh lệch nhiệt độ và độ ẩm không khí ở hai mặt của vật liệu.
Độ thẩm thấu hơi nước của vật liệu còn phụ thuộc vào độ ẩm tương đối của môi
trường xung quanh. Điểm đặc biệt của da là sự tăng tuyến tính của độ thẩm thấu
hơi nước theo sự chênh lệch độ ẩm tương đối của không khí giữa hai bề mặt mẫu.
Sự thay đổi của độ thẩm thấu hơi nước của da nhân tạo được bắt đầu từ độ ẩm
tương đối lớn hơn 90%. Sự khác biệt này ảnh hưởng rõ rệt đến các điều kiện thoải
mái khi sử dụng giày, bởi vì khi sử dụng da để làm giày sự thoát nhanh của hơi
nước do bàn chân người thải ra đã được bảo đảm ngay từ đầu quá trình đi giày.
Giày được làm từ các hệ vật liệu có độ thông hơi tốt, đảm bảo thải ẩm tốt từ môi
trường bên trong giày ra môi trường bên ngoài, giữ cho bàn chân luôn khô ráo. Do
vậy đây là tính chất rất quan trọng đối với vật liệu làm giày
Độ hút ẩm
Độ hút ẩm hay độ ngậm ẩm là khả năng hút hơi ẩm của vật liệu trong các điều kiện
xác định khác nhau.
Độ ẩm của vật liệu (W) là lượng nước chứa trong vật liệu, được tính bằng phần
trăm so với khối lượng khô tuyệt đối của vật liệu.


20

- Độ ẩm thực tế W t (%): là độ ẩm xác định ngay tại thời điểm lấy mẫu thử, là
lượng nước trong vật liệu ở độ ẩm thực tế so với khối lượng khô của vật liệu.

Wt =

rằng độ ẩm tương đối của không khí bên trong giày đạt 90% sau 1,5 - 2 giờ sử dụng
đối với giày có mũ giày là vật liệu tổng hợp và sau 5 giờ đối với giày có mũ giày là
da thuộc, trong khi da và vật liệu tổng hợp đó có độ thông hơi nước gần như nhau,
như vậy dung lượng hút ẩm (độ ẩm) của da có vai trò quan trọng đối với tính vệ
sinh của giày.

 Sự hút nước và thải nước
Quá trình hút các phân tử khí, hơi nước, chất lỏng của vật liệu có thể diễn ra theo
hai chế độ:
1

Hút bám – hấp phụ: quá trình hấp thu chất chỉ trên bề mặt vật liệu

2

Hấp thụ: Các phân tử của chất được hấp thụ thấm sâu vào cấu trúc bên trong
vật liệu.

∗ Khả năng hấp thụ nước của vật liệu được đặc trưng bởi Độ thấm nước toàn
phần hoặc độ thấm nước từ 1 mặt, tính bằng % theo công thức:

H =

mu − m
.100
m

(%),

trong đó: H: Độ thấm nước (hút nước) (%),

của nó.

 Các tính chất trao đổi nhiệt: Xem phụ lục A
 Tính chất sinh thái và tính chất cơ học: Xem phụ lục A.
2.1.3.3.

Điều kiện sử dụng

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng điều kiện đủ để đem lại sự tiện nghi
khi đi giày là kết quả của sự kết hợp giữa các yếu tố tạo nên vùng vi khí hậu bên
trong giày: nhiệt độ – hơi ẩm – ma sát – vi khuẩn, chúng cơ bản xác định nên tính
vệ sinh của giày. Bốn yếu tố này có quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau, là kết
quả của sự tương thích giữa bàn chân, giày với các điều kiện sử dụng.
Điều kiện sử dụng bao gồm nhiệt độ môi trường và mức độ hoạt động của bàn
chân (mức ma sát giữa bàn chân và giày chỉ xuất hiện khi bàn chân hoạt động) sẽ
quyết định nhiệt độ vùng vi khí hậu và lượng mồ hôi bàn chân thải ra. Kế đến, tính
chất vật lý của hệ vật liệu mũ giày và đế giày cùng với lượng mồ hôi sẽ xác định độ
ẩm của vùng vi khí hậu bên trong giày.


22

Bàn chân là nơi đổ mồ hôi nhiều nhất trên cơ thể, gấp 20 – 50 lần so với những
bộ phận khác. Nếu phải mang giày trung bình 10 tiếng một ngày, thì tương ứng bàn
chân sẽ thải ra khoảng 250 ml mồ hôi một ngày, khoảng 2 lít một tuần và 100 lít
một năm. 50% lượng mồ hôi này sẽ được giữ lại bên trong giày và được hấp thụ
bởi các lớp lót. Mồ hôi gồm 98% là nước và 2% là muối và axít vì thế sẽ dần dần
làm súi mũn giày, làm biến dạng hình dáng ban đầu của giày. Mồ hôi không thoát ra
được có thể bít lỗ chân lông của da và gây ngứa hay mẩn đỏ. Muối và axit trong mồ
hôi cũng có thể gây ngứa và viêm da. Ngoài ra, trong mồ hôi cũn có một lượng nhỏ

nghiệm lặp lại, nhưng phương pháp nghiên cứu tính vệ sinh của giày trên các thiết
bị chuyên dùng không được sử dụng rộng rãi do không thể tái tạo được toàn bộ quá
trình tác động phức tạp giữa bàn chân – giày – môi trường bên ngoài.
Bàn chân cũng như một số phần khác của cơ thể xuất hiện các phản ứng phức
tạp khi chịu tác động từ các điều kiện bên ngoài: nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí
xung quanh, áp suất cơ học của giày, các tính chất của vật liệu, do vậy người ta
thường sử dụng phưong pháp nghiên cứu tính vệ sinh của giày trong quá trình sử
dụng giày.
Tính vệ sinh của giày được đánh giá theo tính vệ sinh của các vật liệu giày. Nhà
nghiên cứu I. Lorant (Tiệp khắc) đã đánh giá tính vệ sinh của vật liệu theo độ thông
hơi và độ hút ẩm đã khẳng định: vật liệu đảm bảo yêu cầu vệ sinh cần có độ thông
hơi không dưới 4,5 mg/cm2.h và độ hút ẩm 30-35%.
A. Blazei đặc trưng tính vệ sinh của của vật liệu giày theo 3 tính chất: độ thông
hơi, độ hút ẩm và độ dẫn nhiệt. Còn A.N. Braclavxki thì lại đặc trưng theo: độ
thông hơi, độ thẩm thấu mao dẫn và độ nhả ẩm. B.A. Kracnov thì tăng lên đến 4
tính chất: độ thông hơi, độ hút ẩm, độ nhả ẩm và độ hút nước.
Tuy nhiên nếu như chỉ đánh giá các vật liệu ở trạng thái riêng rẽ thì chưa phản
ánh đúng các tính vệ sinh của chúng trong hệ vật liệu mũ giày và đế giày. Vì khi đó,
các chỉ số tính chất vệ sinh – vật lý sẽ bị ảnh hưởng bởi cấu trúc và phương pháp
ráp nối các vật liệu với nhau trong hệ. Do vậy, ngoài việc xác định các tính chất vệ
sinh – vật lý của từng vật liệu, thì việc xác định các chỉ số này của các hệ vật liệu
có tính đến phương pháp liên kết các lớp vật liệu trong hệ, như vậy mới cho các
thông số sát thực hơn về tính vệ sinh của giày dép.
Để có thể phản ánh chính xác nhất tính vệ sinh của giày dép thì các hệ vật liệu
mô phỏng cần được thí nghiệm trong điều kiện tương tự như sử dụng các hệ vật
liệu trên giày: thời gian thí nghiệm tương đương với thời gian mang giày, có sự
chênh lệch áp suất giữa hai bề mặt hệ vật liệu, các hệ hút ẩm, hút nước từ một mặt
– mặt tiếp xúc với bít tất ẩm hoặc với bàn chân v.v.
2.1.4.1. Tính toán các tính chất vệ sinh vật lý của hệ vật liệu giày
Phần mũ giày và phần lót đế là các cấu trúc nhiều lớp, do vậy cần nghiên cứu



Độ hút ẩm của hệ Wh, (%): Wh = (0,84 a2 + a1)(Wng + Wl)
 n =2 → a1 = 0

 Khụng dán keo: a2 = 1

 n =3 → a1 = 0

 Có màng keo quột khụng kớn: a2 = 0,95
 Có màng keo quột kớn: a2 = 0,7



Wmg, Wl – độ hút ẩm tương ứng của lớp ngoài và lớp lót hệ vật liệu mũ giày
(%)



Độ hút nước của hệ, Hh, (%): Hh = (0,79 a2 + a1)(Hng + Hl)
 n =2 → a1 = 0

 Khụng dán keo: a2 = 1

 n =3 → a1 = 0,08

 Có màng keo quột khụng kớn: a2 = 0,86
 Có màng keo quột kớn: a2 = 0,7



Khắc). Theo các nhà nghiên cứu này, tính vệ sinh của vật liệu được đặc trưng bởi
chỉ số vệ sinh tổ hợp, nú chớnh là tỷ số tính bằng phần trăm của diện tích các tam
giác được dựng theo 3 chỉ số tính chất vật lý (độ thẩm thấu hơi X 1, độ hút ẩm X2,
độ dẫn nhiệt X3) của vật liệu và vật liệu đối chứng – mẫu chuẩn. Khi đó mỗi chỉ số
tính chất của vật liệu đối chứng X 1-0, X2-0, X3-0 được lấy quy ước là bằng 1, còn của
vật liệu cần đánh giá – tính theo tỷ phần tương ứng. Để dựng tam giác theo phương
pháp này người ta đặt các chỉ số tương đối của các thông số: X 1` = X1/X1-0; X2` =
X2/X2-0; X3` = X3/X3-0 lên các trục X, Y, Z theo tỷ lệ tương ứng. Sau đó dựng các
tam giác và xác định diện tích của chúng và tính chỉ số vệ sinh tổ hợp.


Chỉ số vệ sinh tổ hợp như là diện tích của tam giác tính bằng phần

trăm, trong trường hợp này có thể tính như sau:
X2`X3`).100.

K = 1/3(X1'X2` + X1`X3` +



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status