Đề cương bài giảng kỹ thuật gia công và chế biến cao su - Pdf 45

Phần I: Nguyên vật liệu trong công nghệ gia công và chế biến cao su
Chương 1: Cao su
1.1.

Cao su thiên nhiên

1.1.1. Lịch sử phát triển.
CSTN lần đầu tiên được các thổ dân Nam Mỹ sử dụng vào nửa cuối thế kỷ 16.
Khi ấy họ chỉ biết trích cây lấy nhựa rồi tẩm vào sợi làm giày dép đi rừng, leo núi
những chiếc giày làm bằng vải tẩm nhựa này có thời gian sử dụng không lâu lại dính
và gây cảm giác khó chịu. Sau đó các thổ dân đã biết sử dụng đất cát ở những nơi có
núi lửa hoạt động để xoa vào, vừa chống dính vừa kéo dài thời gian sử dụng [6,19].
Đến năm 1839, loài người phát minh ra quá trình lưu hóa cao su bằng lưu
huỳnh, các sản phẩm kỹ thuật được sản xuất từ CSTN tăng lên, đồng thời diện tích
trồng cây cao su cũng tăng lên [4,5,6].
Bảng 1: Tình hình sản xuất (SX), tiêu thụ (TT) CSTN trên thế giới.
Năm

1965

1970

1975

1980

1985

1990

1995*


2.270

2.760

4.350

5.723

5.790

6.450

7.120

* Dự báo (theo tài liệu).Đơn vị:tấn.
Ở Việt Nam, diên tích trồng cây cao su cũng như sản lượng mủ khai thác không
ngừng tăng lên. Điều này thể hiện rõ qua bảng 1.2 và 1.3
Bảng 2:Diện tích cây cao su ở Việt Nam [4].
Năm thống kê

Diện tích trồng cao su ở Việt Nam(ha)

12/1975

72.200

1994

175.600

1988

49.700


1979

41.270

1989

50.600

1980

41.000

1990

57.900

1981

43.600

1991

64.600

1982

Trong 1 gam mủ cao su với hàm lượng phần khô 40% có 5.10 3 hạt với đường kính
trung bình 0,26 µm, tất cả các hạt này đều ở trạng thái chuyển động Browner [5,6,19].
a. Cấu tạo hóa học của hạt latex.
Hạt latex có cấu tạo gồm 2 lớp : lớp trong cùng là cacbuahidro, lớp ngoài – vỏ
bọc, là lớp hấp phụ làm nhiệm vụ bảo vệ latex không bị keo tụ.Thành phần chính của
lớp bảo vệ là các hợp chất chứa nitơ thiên nhiên: protein, các chất béo và muối xà
phòng của axit béo [1,6,19].
b. Thành phần của latex.
Thành phần của latex phụ thuộc vào tuổi cây cao su ,khí hâu, thổ nhưỡng nơi
cây sinh trưởng, phát triển và mùa thu hoạch mủ.Tuy nhiên, thành phần chính của mủ
cao su thiên nhiên được cho trong bảng 1.4.
Bảng 4: Thành phần của latex [10,11].
Nước

52,3 ÷ 67(%)

Cacbuahydro

29,5 ÷ 37,3(%)

Polysacarit

1,2

÷ 4,2(%)

Nhựa thiên nhiên

1,0


lượng phần polyme khoảng 10 ÷15% . Phương pháp này thu được latex có hàm lượng
polyme cao, năng suất lớn thời gian cô đặc giảm.Tuy nhiên cấu trúc bền vững hạt latex
bị phá vỡ.
+ Phương pháp bay hơi tư nhiên:
Cũng cho latex có hàm lượng polyme cao, năng suất lớn. Tuy nhiên cần mặt
bằng sản xuất lớn, thoáng, mát. Ngoài ra, lượng NH3 bay lên làm một phần latex bị keo
tụ nên cần ổn định bằng KOH 5% và muối natri của axit béo làm chất nhũ hóa.
+ Phương pháp trích ly:
Do khối lượng riêng hai pha cao su và serum khác nhau nên quá trình lắng tách
vẫn xảy ra nhưng tốc độ rất chậm. Vận tốc cao su nổi lên trên bề mặt được xác định
theo công thức:
V =2.g.(ρs – ρc).r2/ 9η
Trong đó : g : gia tốc rơi tự do
ρc : khối lượng riêng cao su


ρs : khối lượng riêng của serum
η : độ nhớt của serum
r : đường kính hạt cao su
+ Phương pháp sử dung chất điện giải:
Để tăng vận tốc lắng tách người ta cho thêm chất điện giải. Latex thu được có
hàm lượng polyme lên 60% và ổn định.
Các phương pháp cô đặc khác nhau thu được latex có thành phần và tính chất
khác nhau [4,5,18]. Sau khi xử lý xong latex, có thể sản xuất CSTN theo 3 phương
pháp sau:
+ Phương pháp sản xuất crep hong khói:
Lọc→ pha loãng→ Keo tụ → Cán ép nước → Cán rãnh → Ngâm nước → Sấy
hong khói → KCS + đóng kiện
+ Phương pháp sản xuất crep trắng:
Lọc →Pha loãng → tẩy trắng bằng NaHSO3 → Keo tụ → Cán rãnh + Cán ép

Bay hơi

1 Cacbuahidro

93 ÷ 95

93 ÷ 95

85 ÷ 90

2 Chất trích ly bằng axeton

1,5 ÷ 3,5

2,2 ÷ 3,45

3,6 ÷ 5,2

3 Chất chứa nitơ

2,2 ÷ 3,5

2,4 ÷ 3,8

4,2 ÷ 4,8

4 Chất tan trong nước

0,3 ÷ 0,85


2

CH3
n

Các mắt xích có thể là : + cis 1,4 polyisopenten
+ 1,2 polyisopenten
+ 3,4 polyisopenten


H3C
C
.

H3C

H
C

CH2

CH2

C
H3C

C

CH2


C

.
CH 3

CH
CH 2
CH 2

(1,2- polyisopenten)

(3,4-polyisopenten)

Cùng công thức hóa học với CSTN nhưng có cấu tạo là trans -1,4 polyisopenten
là nhựa của loại cây có tên Gutapetra có tính chất khác hẳn [4,5].
1.1.5. Tính chất của CSTN.
a. Tính chất vật lý của CSTN.
Ở nhiệt độ thấp, CSTN có cấu trúc tinh thể, vận tốc kết tinh lớn nhất được xác
định ở nhiệt độ -250C. CSTN kết tinh có biểu hiện rất rõ ràng: bề mặt cứng, mờ đục …
Các tính chất vật lý đặc trưng cho CSTN được cho trong bảng 1.6.
Bảng 6: Tính chất vật lý của CSTN [1,5,6].
Khối lượng riêng (kg/m3)
913 ÷ 914
0
Nhiệt độ hóa thủy tinh Tg ( C)
-700C ÷ 720C
3 0
Hằng số dãn nở thể tích (dm / C)
656.10-4
Nhiệt dẫn riêng ( w/m.0K)

1

Cao su thiên nhiên

100,0

2

Lưu huỳnh

3,0

3

Xúc tiến lưu hóa M

0,7

4

ZnO

5,0

5

axit stearic

0,5


thương trường quốc tế còn sử dụng hệ số ổn định dẻo PRI. PRI được đánh giá bằng tỉ
số (phần trăm) độ mềm cao được xác định sau 30 phút đốt nóng ở nhiệt độ 140 0C so


với độ dẻo ban đầu. PRI càng cao thì vận tốc hóa dẻo của cao su đó càng nhỏ có nghĩa
là khả năng chống lão hóa càng tốt.
CSTN có khả năng phối trộn tốt với các loại chất độn và các chất phối hợp trên
máy luyện kín hoặc hở, hợp phần trên cơ sở CSTN có độ kết dính nội cao, khả năng
cán tráng, ép phun tốt, mức độ co ngót kích thước sản phẩm nhỏ. CSTN có thể phối
trộn với các loại cao su không phân cực khác như IR, PB … theo mọi tỉ lệ [ 5,6,18].
1.2.

Cao su isopren

1.2.1. Lịch sử phát triển
Tổng hợp thành công Polyisoprene có cấu trúc lập thể thích hợp (IR) là mục tiêu
tìm kiếm của các nhà hóa học polymer cho gần một thế kỷ. Các nhà nghiên cứu nhận
ra rằng Isopren là mắt xích tạo nên NR, và trong nhiều năm, có nhiều cố gắng để tổng
hợp ra vật liệu có tính chất tương tự như vậy. Ban đầu, việc tổng hợp ra polyisopren
không thành công trong việc tìm kiếm những đặc tính quý và mong muốn của cao su
thiên nhiên do khác biệt trong vi cấu trúc - cái đóng vai trò quan trọng trong tính chất
vật lý của polyisoprene. Mạch polyme trong những lần tổng hợp ban đầu gồm hỗn hợp
của tất cả các cấu dạng có thể có kết hợp với nhau theo cách ngẫu nhiên. Đặc biệt,
chúng thiếu cấu trúc cis-1,4 cao như trong mạch NR, cái giúp nó có khả năng chịu sự
kết tinh do biến dạng.
Vào giữa những năm 1950, các nhà nghiên cứu đã phát hiện và phát triển ra hệ
thống xúc tác mới có khả năng chọn lựa sự kết hợp các đơn vị monome theo trật tự
cao. Rất nhanh sau phát minh quan trọng của Karl Ziegler về hệ thống xúc tác cho sự
trùng hợp etylen, xúc tác tương tự được phát triển để sử dụng cho isopren. Những xúc
tác “lập thể đặc biệt” này cho phép tạo ra cấu trúc cis-1,4 gần như tinh khiết và như

Sự tiêu thụ của polyisopren tổng hợp ổn định trong những năm đầu 1960 khi sản
lượng polyisopren bị hạn chế bởi khả năng sản xuất và monome. Sự gia tăng gần đây
về khả năng sản xuất, do quan tâm đến sự ổn định về giá của NR, và thay thế NR trong
những ứng dụng cụ thể đã mở ra con đường cho sự phát triển trong công nghiệp trong
tương lai. Bảng 1 cho thấy lịch sử tiêu thụ của polyisoprene trên 40 năm trước.


Bảng 9: Sự tiêu dùng của polyisopren tổng hợp

b. Tính chất polyme
Tính chất của polyme thô và được lưu hóa của polyisopren đạt giá trị tương tự
như NR. NR và polyisopren tổng hợp biểu lộ tính dính, độ bền kéo hỗn hợp cao, sự trễ
tốt, tính chất bền kéo nóng tốt (hot tensile)
Trạng thái tự nhiên đặc biệt của IR cung cấp nhiều nhân tố phân biệt nó với NR.
Có sự khác nhau nhỏ trong tính chất vật lý. Điều kiện trùng hợp được kiểm soát chặt để
đảm bảo polyme cao về mặt hóa học. Có thành phần không polyme thấp khi so sánh
với NR.
Tính dễ gia công của Polyisopren tổng hợp thì quan trọng khi xem xét đến chất
lượng và tính bền. Khi công cơ học thấp và sự phá vỡ cần yêu cầu, chu trình trộn hợp
ngắn và loại bỏ tiền chất đống (pre-massing) có thể thực hiện khi nó được sử dụng trực
tiếp thay thế cho NR. Kết quả cuối cùng là tiết kiệm thời gian và năng lượng cũng như
gia tăng năng suất. Ngoài ra, polyisopren tổng hợp bộc lộ tính tương hợp tốt hơn NR
trong blend với S-SBR và EPDM. Tính đồng dạng của polyisopren tổng hợp là một
nhân tố nơi yêu cầu chất lượng phù hợp là tối cao; cũng như khi có sự gia tăng những
trường hợp trong công nghiệp đòi hỏi kiểm soát kích cỡ chính xác trong gia công.
Vì độ nhớt polyisopren tổng hợp thô thấp, một phần hoặc toàn bộ bước bẻ gãy
mạch thường sử dụng cho NR có thể loại trừ. Hỗn hợp polyisopren tổng hợp ở cùng độ
dẻo với NR sẽ có độ co khuôn (die swell) thấp hơn vì có ít dây (nerve) hơn. Ngoài ra, ở
cùng độ dẻo, polyme tổng hợp sẽ có tốc độ đùn nhanh hơn đáng kể.
Hỗn hợp polyisopren tổng hợp có thể lưu hóa trong bất kỳ hệ khuôn thông dụng

90.0

Trans-1,4

0

1.0

5.0

3,4

0

0.5

5.0

94.0

>99.0

>99.0

Dạng cấu trúc
Cis-1,4

Độ tinh khiết
Hàm lượng cao su


Bảng 11: Một số công ty sản xuất IR
JSR Corporation

SK Premyer Co

Karbochem Co

Volzhski Kauchuk Co

Kurraray Co

Togliattisyntezkauchuk Co

Kauchuk Co

The Goodyear Tire & Rubber Co

Nizhnekamskneftekhim ZEON Corporation
1.3.

Cao su butadien

1.3.1. Tính chất và ứng dụng
- Polybutadien (BR) là cao su tổng hợp được sản xuất có khối lượng lớn thứ hai,
bên cạnh cao su butadien - styren (SBR). Sự tiêu thụ khoảng 1.953.000 tấn trên toàn
thế giới vào năm 1999.
- Lĩnh vực sử dụng chính của BR là trong lốp xe, với hơn 70% polyme sử dụng
làm mặt lốp và hông lốp. BR lưu hóa có khả năng chống mài mòn tốt (độ bền cao) và
ma sát lăn thấp (tiết kiệm nhiên liệu tốt) do nó có nhiệt độ hóa thủy tinh (Tg). Tg thấp,
thường
1,3 butadien
- Các liên kết đôi là chìa khóa để hình thành polyme. Nọ bị tấn công bởi các chất
xúc tác để duy trì quá trình phát triển chuỗi lặp đi lặp lại, tiếp tục cho đến khi một chất
nào đó được đưa vào để ngắt mạch phản ứng tại khối lượng phân tử mong muốn.


- Trọng lượng phân tử có thể khá cao. Đối với một BR điển hình, trọng lượng
phân tử (Mn = trọng lượng phân tử trung bình số) thường > 100.000 đvc/mol. Điều này
cho biết một chuỗi chứa hơn 2.000 đơn vị butadien. Hầu hết BR được tạo ra bởi trùng
hợp dung dịch, sử dụng phức của một kim loại chuyển tiếp (Nd, Ni, Co) hoặc alkyl kim
loại giống như Butyllithium làm chất xúc tác.
- Phản ứng xảy ra dễ tỏa nhiệt, và có thể bùng nổ, đặc biệt với chất xúc tác
alkyllithium, phản ứng thường được thực hiện trong các dung môi như hexan,
cyclohexan, benzen hoặc toluen.
- Các dung môi sử dụng để làm giảm tốc độ phản ứng, kiểm soát nhiệt thoát ra
của quá trình trùng hợp và giảm độ nhớt của dung dịch polyme trong lò phản ứng.
- Quá trình trùng hợp BR điển hình sẽ được thực hiện với 20 monome% và 80%
dung môi. Quá trình trùng hợp có thể là một quá trình gián đoạn hoặc quá trình liên
tục.
+ Trong chế độ gián đoạn, monome, dung môi và chất xúc tác được đưa vào lò
phản ứng, làm nóng để bắt đầu phản ứng, và tiếp tục phản ứng hết. Dung dịch polyme
sau đó được chuyển qua 1 thiết bị hoặc 1 quá trình khác để loại bỏ dung môi.
+ Trong chế độ liên tục, monome, dung môi và chất xúc tác liên tục cho vào
đáy của thiết bị phản ứng đầu tiên trong một seri các lò phản ứng ở nhiệt độ thích hợp
cho quá trình trùng hợp. Quá trình trùng hợp tiến hành khi dung dịch chảy qua các thiết
bị phản ứng và dung dịch polyme được lấy ra ở trên đầu thiết bị phản ứng cuối cùng
mà không phải dừng quá trình phản ứng. Quá trình liên tục là kinh tế nhất và đem lại
hiệu quả kinh tế cao. Trong cả hai quá trình, sản phẩm hoàn thành thường là trong kiện
hàng, nặng từ 50 đến 75 pounds/kiện hàng.


- Trùng hợp “ anion “ sử dụng hệ xúc tác alkylithium tạo ra một loại polyme với
khoảng 40% dạng cis, 50% dạng trans và 10% vinyl khi không có chất biến tính phân
cực đặc biệt được sử dụng trong quá trình. Quá trình alkyllithium linh hoạt nhất, bởi vì
cuối mạch phát triển chứa anion “sống” (điện tích âm), nó có thể tiếp tục được phản
ứng với tác nhân ghép nối hoặc nhóm chức để tạo ra nhiều loại BR biến tính. Nó cũng
tạo ra gel-free BR làm nó lý tưởng cho sự biến tính dẻo. Vinyl tăng Tg của
polybutadien bởi tạo cấu trúc mạch cứng hơn. Vinyl cũng có xu hướng tạo ra liên kết
không gian hoặc “lưu hóa” dưới điều kiện nhiệt độ cao vì vậy các polyme vinyl cao
kém ổn định nhiệt hơn vinyl thấp. Như chú ý ở trên, đó là trong nhóm vinyl liên kết đôi
nằm ngoài mạch chính, tạo ra các tính chất đặc biệt của các polyme vinyl cao. Đơn vị
Vinyl có thể được tăng lên trong trùng hợp anion xúc tác lithium hóa thông qua việc sử
dụng chất biến tính phân cực, thường là các hợp chất có chứa nitơ hoặc oxy. Chất biến


tính trực tiếp tấn công vào anion đang phát triển vào ví trí “sống” cuối mạch để cho ra
monome butadien cộng 1,2.
CH3 - CH == CH - CH 2 - (CH 2 - CH == CH - CH 2) n - CH2 - CH == CH - CH2 Li ⊕

 Polybutadiene trans hàm lượng cao
- BR trans là một vật liệu nhựa tinh thể tương tự như trans-polyisopren hoặc
balata, được sử dụng trong quả bóng golf. Trong cấu hình trans các chuỗi polyme
chính nằm trên cùng một phía của mạch carbon-carbon. BR-Trans có điểm nóng chảy
khoảng 80C. Nó được thực hiện với chất xúc tác kim loại chuyển tiếp tương tự như quá
trình BR cis (La, Nd, Ni). Các chất xúc tác có thể làm cho polyme có BR dạng trans>
90%.

Kết luận:
- Cao su butadiene được sử dụng trong chế tạo mặt lốp xe ô tô, xe máy, băng
chuyền, băng tải, nhựa cường lực và do chi phí thấp, tính chất độc đáo được sử dụng
trong quả bóng golf. Khi các thị trường mới phát triển, BR sẽ có một nhu cầu phát triển

cao với độ nhớt phản ứng thấp và là một quá trình hiệu quả về chi phí. Trạng thái vật lý
của hệ thống nhũ tương (dạng keo) làm cho nó dễ dàng để kiểm soát quá trình. Vấn đề
nhiệt và độ nhớt ít quan trọng hơn trong trùng hợp với số lượng lớn.
Bảng 1 cho thấy các nguyên liệu cần thiết trong trùng hợp của E-SBR, trong đó
bao gồm monome (styren và butadien), nước, chất nhũ hóa, hệ thống khởi đầu, chất
độn và chất hãm, hệ chất ổn định. Phản ứng trùng hợp ban đầu được tiến hành trong
thiết bị phản ứng gián đoạn, trong đó gồm tất cả các nguyên liệu được đưa vào thiết bị
phản ứng và phản ứng được kết thúc sau khi nó đã đạt đến chuyển đổi mong muốn.
Các sản phẩm hiện nay được sản xuất liên tục bằng cách đưa các chất phản ứng và


polyme hóa thông qua một chuỗi các thiết bị phản ứng trước khi kết thúc ở sự chuyển
hóa monome mong muốn. Hình 1 là sơ đồ của một nhà máy trùng hợp nhũ tương. Các
monome được liên tục đưa vào các chuỗi lò phản ứng và nhũ hoá với các chất nhũ hoá
và chất xúc tác. Khi nhũ tương polyme hóa được thực hiện ở nhiệt độ thấp, hệ thống
khởi đầu được sử dụng rộng rãi nhất là phản ứng oxi hóa khử giữa sắt càng cua và
peroxyt hữu cơ bằng cách sử dụng sodium (Na) formandehit sulfoxide (SFS) như tác
nhân khử (xem phản ứng 1 và 2 dưới đây). Khi nhũ tương polyme hóa được thực hiện
ở nhiệt độ cao, potassium (K) peroxydisulfate được sử dụng như một chất khởi đầu.
Fe(II)EDTA + ROOH → Fe(III)EDTA + RO∙ + OH∙
Fe(III)EDTA + SFS

→ Fe(II)EDTA

(1)
(2)

Mercaptan được thêm vào để cung cấp các gốc tự do và kiểm soát sự phân bố
trọng lượng phân tử bằng cách ngắt mạch hiện tại đang phát triển trong khi khơi mào
một mạch mới. Nhóm thiol hoạt động như là một tác nhân chuyển mạch để ngăn chặn


25

25

Butadien

75

75

Nước

180

180

5

5

Dodecyl mercaptan

0.2

0.8

Cumene hydroperpxyt

0.17


Khác nhau

Trong trường hợp hỗn hợp chủ polyme pha dầu hoặc than đen, các vật liệu này
được thêm vào như là các chất phân tán mủ tước. Mủ cao su sau đó được chuyển đến
được làm đông với acid sulfuric, acid / sodium chloride sulfuric, keo / axit sulfuric,
nhôm sulfat, hoặc chất trợ đông amin. Các loại hệ thống chất keo tụ được chọn tùy
thuộc vào việc sử dụng cuối cùng của sản phẩm. Sulfuric acid / sodium chloride được
sử dụng cho mục đích chung. Glue /sulfuric acid được sử dụng cho loại SBR dùng
trong điện và nhạy nước thấp. Axit sulfuric được sử dụng cho sự keo tụ nơi tro polyme
thấp (low-ash-polymer) là cần thiết. Trợ keo Amine được sử dụng để nâng cao hiệu


quả keo tụ và giảm ô nhiễm nhà máy sản xuất. Tảng đã được keo tụ sau đó được rửa
sạch, tách nước, sấy khô, đóng kiện và đóng gói.
1.4.1.3. Tính chất cao su
Các thuộc tính của E-SBR: E-SBR thương mại có độ nhớt Mooney dao động từ
30 đến khoảng 120. Loại E-SBR có độ nhớt Mooney thấp dễ trải hơn trên máy nghiền,
kết hợp chất độn và dầu dễ dàng hơn, cho thấy giảm lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình
trộn, được láng dễ dàng hơn, co ít hơn, cho tốc độ phun ra cao hơn và có hình dáng
chất ép đẹp hơn so với loại có độ nhớt Mooney cao hơn. Mặt khác, loại SBR có độ
nhớt Mooney cao có độ bền khi chưa khô cao hơn, độ xốp thấp trong quá trình lưu hóa
cao su lưu hóa, và phối trộn được nhiều chất độn và dầu hơn.
Khi trọng lượng phân tử SBR tăng, khả năng phục hồi cao su lưu hóa và tính
chất cơ học, đặc biệt là độ bền kéo và nén được cải thiện. Khả năng gia công của SBR
được cải thiện khi sự phân bố trọng lượng phân tử của nó được mở rộng. Việc hình
thành các phần phân đoạn trọng lượng phân tử cao với sự gia tăng khối lượng phân tử
trung bình có thể ngăn chặn sự cải thiện trong khả năng gia công. Điều này là do thực
tế rằng xu hướng hình thành keo cũng tăng khi khối lượng phân tử cao hơn.
Ngoài độ nhớt polyme, nhiệt độ trùng hợp cũng đóng một vai trò quan trọng

của E-SBR lưu hóa phụ thuộc vào phép đo trên các loại khác nhau và hàm lượng độn
trong hỗn hợp. Miếng cao su lưu hóa có độ bền kéo đứt chỉ từ 2.8 đến 4.2 Mpa, trong
khi với hạt cacbon đen được thêm vào có thể đạt đến 27.6 MPa. Mặc dù sự nén thiết
lập (compression set) của một vài hỗn hợp E-SBR phổ biến cao, bằng việc phối trộn
phù hợp và blend, nó có thể đạt được E-SBR lưu hóa với sự nén thiết lập sẵn thấp.
Tính chất điện: Cao su styren-butadien là một polyme không phân cực và hệ lưu
hóa của nó là chất dẫn điện kém. Các tính chất điện của cao su styren-butadien nhũ
tương polyme phụ thuộc lớn vào số lượng và loại chất nhũ hóa và các tác nhân làm
đông được sử dụng.
Độ bền với chất lỏng: Trong khi lưu hóa E-SBR có sức kháng với nhiều dung
môi phân cực như axit loãng và các chất kiềm, chúng sẽ trương lên khi gặp xăng, dầu,
hoặc chất béo. Do những hạn chế này, cao su styrene-butadien không được sử dụng
trong các ứng dụng đòi hỏi khả năng chống trương nở khi tiếp xúc với các hydrocarbon


Tính chất lưu hóa: Cao su styren-butadien có thể bị lưu hóa với một loạt các hệ
thống lưu hóa bao gồm lưu huỳnh (chất xúc tiến lưu hóa và lưu huỳnh), peroxit và
nhựa phenolic. Chế biến các hợp chất cao su styren-butadien có thể được thực hiện trên
máy nghiền, máy trộn kín hoặc máy đùn trộn. Hợp chất cao su styren-butadien bị lưu
hóa bằng nhiều cách như nén, ép phun, không khí nóng hoặc nồi hơi, lò không khí
nóng, lò vi sóng hoặc kết hợp các kỹ thuật này.
Phân loại SBR: có một lượng lớn các loại SBR dựa trên các đặc trưng của
styrene, nhiệt độ trùng hợp, chất chống oxy hóa mất màu hoặc không mất màu, hàm
lượng của dầu và than đen. Mỗi cách phân loại liên quan tới độ nhớt Mooney, loại chất
làm đông và loại chất nhũ hóa, mức độ dầu và mức độ than. Bảng 1 thể hiện các nhóm
cơ bản của SBR.
Bảng 13: Danh mục hệ thống SBR
Số

Chú giải

đước lập theo bảng sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status