ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
MÁY CÔNG CỤ
1
CHƯƠNG 1
Động cơ đốt trong trên ô tô – máy kéo
Số tiết : 6 (Lý thuyết 5 tiết ; bài tập, thảo luận 1 tiết)
*) Mục tiêu:
- Hiểu được cấu tạo và nguyên lư làm việc chung của động cơ đốt trong.
- Hiểu được cấu tạo, hoạt động của các hệ thống và các cơ cấu trong động cơ đốt trong.
- Biết được khả năng áp dụng của động cơ đốt trong trong sản xuất nụng nghiệp và khả
năng, ưu- nhược điểm của việc thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp.
1.1 Nguyên lý làm việc chung của động cơ đốt trong.
1.1.1 Khái quát chung về động cơ nhiệt.
- Nguyên lý làm việc chung của động cơ nhiệt là sử dụng đặc tính co giãn của không khí
khi nhiệt độ thay đổi để chuyển hoá từ nhiệt thành công cơ năng.
- Vị trí của động cơ đốt trong trong hệ thống động cơ nhiệt.
1.1.2. Các thông số cơ bản của động cơ đốt trong.
- Điểm chết trên (ĐCT): là điểm mà
khoảng cách từ đáy piston đến tâm trục cơ là xa
nhất.
- Điểm chết dưới (ĐCD): là điểm mà
khoảng cách từ đáy piston đến tâm trục cơ là
gần nhất.
- Hành trình của piston (S): là khoảng
cách giữa hai điểm chết S = 2R
- Thể tích buồng đốt (V
c
): là khoảng
không gian được giới hạn bởi nắp xi lanh,
xilanh và đáy của piston khi piston ở ĐCT.
- Thể tích làm việc của xi lanh (V
trình làm việc mới, cứ như vậy động cơ sẽ làm việc liên tục.
Động cơ 4 kỳ là loại động cơ nhiệt đốt trong kiểu piston chuyển động tịnh tiến có chu trình
làm việc thực hiện trong 4 kỳ tương ứng với 4 lần dịch chuyển lên xuống của piston (2 vòng quay của
trục cơ).
1.1.3.2 Động cơ 2 kỳ.
- Hành trình thứ nhất: Giả sử piston đang ở ĐCT, lúc này ở phía trên của piston hỗn hợp
đốt đó cháy. Khoang đáy cácte đó chứa đầy hỗn hợp đốt được nạp vào từ bộ chế hoà khí lúc này
cửa xả đóng kín, cửa nạp mở. Khi bugi bật tia lửa điện đốt cháy toàn bộ hỗn hợp đốt, áp suất và
nhiệt độ của khí cháy sẽ tăng vọt tạo thành áp
lực tác động vào đáy piston đẩy piston đi xuống
thông qua tay biên đẩy trục cơ quay thực hiện
quá trình sinh công. Trong quá trình đi xuống,
đầu tiên piston mở cửa xả, đồng thời đóng cửa
nạp, một phần sản phẩm khí cháy tự thoát ra
ngoài qua cửa xả ra ngoài (xả thuần tuý khí
cháy). Lúc này khoang đáy cácte là khoang kín
và có thể tích giảm dần, áp suất của hỗn hợp
đốt tại đây tăng dần. Piston tiếp tục đi xuống
mở cửa thổi hỗn hợp đốt trong buồng cácte bị
nén ép dồn qua cửa thổi, thổi lên phía trên, dồn
sản phẩm khí cháy ra ngoài đồng thời nạp hỗn
hợp đốt cho xi lanh. Quá trình này tiếp tục diễn
ra đến khi piston xuống đến ĐCD kết thúc kỳ
thứ nhất.
- Hành trình thứ hai: Piston di chuyển lên khi chưa đóng cửa thổi, hỗn hợp đốt vẫn tiếp tục
dồn từ cácte lên phía trên đẩy khí xả ra ngoài. Piston đi lên đầu tiên đóng cửa thổi kết thúc quá trình
nạp hỗn hợp đốt lên phía trên tuy nhiên cửa xả chưa đóng nên hỗn hợp đốt và khí xả tiếp tục thoát ra
ngoài (xả thuần tuý lần hai). Khoang đáy cácte lúc này trở thành khoang kín, có thể tích tăng dần, áp
suất giảm dần. Piston tiếp tục đi lên đóng cửa xả, đồng thời mở cửa nạp. Ở khoang phía trên của
piston lúc này trở thành khoang kín có thể tích giảm dần, áp suất tăng dần, động cơ bắt đầu thực hiện
ở lưng của vòng găng có mạ thêm một lớp Crôm hoặc Niken. Vòng găng khí có nhiệm vụ làm kín
khít khe hở giữa piston và xilanh để không lọt hơi từ khoang trên piston xuống phía dưới, truyền
nhiệt từ piston ra xilanh.Vòng găng dầu có nhiệm vụ xoa đều và kéo dầu bôi trơn do trục cơ và tay
biên vung lên để bôi trơn cho xilanh sau đó gạt dầu thừa bám trên thành xilanh xuống đáy cácte.
+ Chốt piston: dùng để nối thân piston với tay biên. Thân chốt piston được chế tạo bằng thép dạng
hình trụ rỗng, mặt ngoài mạ Crôm hoặc Niken để giảm masát với tay biên.
Tay biên:
- Nhiệm vụ: Tay biên nhận lực tác động từ piston truyền xuống trục cơ, biến chuyển động
tịnh tiến của piston thành chuyển động quay của trục khuỷu.
- Cấu tạo.
Cấu tạo của tay biên được chia thành 3 phần: phần đầu trên, phần thân biên và phần đầu
dưới. Phần đầu trên tay biên sẽ lắp với chốt piston, phần đầu dưới sẽ lắp với cổ biên của trục
cơ.Thông thường đầu dưới to hơn và có kết cấu hai nửa được lắp với nhau bằng bu lông. Trong
quá trình làm việc tay biên sẽ có chuyển động tương đối với cả quả piston và trục cơ vì vậy để
làm giảm ma sát tại các vị trí lắp với chốt piston và trục cơ sẽ lắp vòng bi hoặc bạc lót.
Trục khuỷu:
- Nhiệm vụ: Trục khuỷu có nhiệm vụ nhận lực tác động từ piston thông qua tay biên, biến
chuyển động tịnh tiến của piston thành chuyển động quay của trục để đưa công suất ra ngoài. Nhận
4
mômen quay được tích trữ ở bánh đà từ kỳ sinh công điều khiển sự di chuyển của các piston ở các kỳ
còn lại để thực hiện chu trình làm việc của động cơ.
- Cấu tạo: Trục cơ được chế tạo bằng thép hợp kim được đúc liền sau đó gia công các cổ
trục, cổ biên bằng phương pháp mài, đánh bóng. Các cổ trục được đặt trên các gối đỡ, các cổ biên
được nối với cổ trục thông qua má khủyu và để lắp các thanh truyền. ở đầu trục khuỷu thường lắp
các bánh răng dẫn động cho các cơ cấu khác: trục cam, bơm dầu…Đuôi trục khuỷu là nơI truyền
công suất ra ngoài và được lắp bánh đà.
Bánh đà: Bánh đà có nhiệm vụ tích trữ công cơ năng từ kỳ sinh công để truyền cho trục cơ
ở các kỳ còn lại, giúp cho trục cơ quay đều và cân bằng, ngoài ra bánh đà còn giúp cho việc lấy đà
khi khởi động với các động cơ điêzen.
1.2.2. Thân động cơ và nắp xi lanh.
+ Thải sạch khí thải trong xilanh ra ngoài;
+ Đảm bảo góc mở sớm, đóng muộn cho các xupap hút, xả;
5
+ Đóng kín buồng đốt ở các kỳ Nén - Nổ.
- Phân loại: thông thường được phân làm hai loại: xupáp treo và xupáp đặt.
1.2.3.2 Cấu tạo
- Loại xupáp treo: Gồm có
trục cam, hệ thống con đội, đũa
đẩy, hệ thống các vít điều chỉnh
khe hở nhiệt, đòn gánh, hệ thống
xupap, lò xo, đĩa tựa lò xo, móng
hãm, bạc dẫn hướng, cơ cấu điều
khiển xoay xupap, cơ cấu giảm áp.
- Loại xupáp đặt: Gồm có
trục cam, hệ thống con đội, hệ
thống xupap, lò xo, đĩa tựa lò xo,
móng hãm, bạc dẫn hướng, cơ cấu
điều khiển xoay xupap, cơ cấu
giảm áp.
Trục cam:
- Nhiệm vụ: Trục cam nhận
mômen quay từ trục cơ để điều
khiển sự đóng mở của các xupap
trong quá trình làm việc
- Cấu tạo:
Trục cam được chế tạo bằng thép, trên trục cam có gia công các mấu cam, tuỳ thuộc vào loại
trục cam mà các mấu cam có các biên dạng cam lồi, cam lõm, cam phẳng. ở đầu trục cam có lắp bánh
răng để nhận mômen quay từ trục cơ.
Xupap: Xupap được chế tạo bằng thép và chia làm 3 phần đuôi, thân, đĩa xupap:
- Đuôi là phần liên kết xupap với phần hệ thống treo, đuôi xupap có thể liên kết với hệ thống treo
xuống, do sức căng của lò xo xupap bị kéo lên phía trên đóng kín buồng đốt.
1.3. Các hệ thống làm việc trên động cơ đốt trong.
1.3.1. Hệ thống cung cấp nhiên liệu.
1.3.1.1 Nhiệm vụ, phân loại.
- Nhiệm vụ: Chuẩn bị và cung cấp hỗn hợp nhiên liệu cho động cơ đảm bảo đủ số lượng
và có thành phần phù hợp với chế độ làm việc của động cơ, theo đúng trật tự làm việc của động
cơ.
- Phân loại
+ Với động cơ xăng có hai dạng hệ thống cung cấp nhiên liệu: kiểu bộ chế hoà khí và kiểu phun
xăng điện tử.
+ Hệ thống cung cấp nhiên liệu của động cơ điezen: bơm Piston và bơm phân phối.
1.3.1.2 Hệ thống cung cấp nhiên liệu kiểu bơm nhánh của động cơ điêzen.
Nhiệm vụ của các chi tiết chính: Các bộ phận chính của hệ thống có nhiệm vụ như sau:
- Bình lọc thô: có nhiệm vụ loại bỏ những tạp chất cơ học lớn có ở trong nhiên liệu trước
khi cung cấp đến cụm bơm áp suất thấp.
- Cụm bơm áp suất thấp: có nhiệm vụ cung cấp lượng nhiên liệu nhất định với áp suất đủ
để thắng sức cản trên bình lọc tinh.
- Bơm tay: có nhiệm vụ bơm nhiên liệu lên bình lọc tinh khi động cơ chưa làm việc.
- Bình lọc tinh : có nhiệm vụ loại bỏ các tạp chất có kích thước nhỏ có ở trong nhiên liệu
để tránh làm kẹt bơm cao áp và kim phun khi làm việc. Thông thường bình lọc tinh có 2 ngăn làm
việc độc lập giữa 2 ngăn có một khoá 3 ngả có thể cho từng ngăn hoạt động ngăn còn lại để sửa chữa
hoặc thay thế khi cần thiết.
- Van xả khí có nhiệm vụ xả không khí có trong hệ thống trước khi cho động cơ làm việc.
- Cụm bơm cao áp: có nhiệm vụ bơm nhiên liệu với 1 áp suất cao để cung cấp cho các xi
lanh lượng hỗn hợp đốt phù hợp với chế độ làm việc của mỗi động cơ vào các thời điểm nhất định
theo trật tự làm việc của động cơ.
- Bộ điều tốc: có nhiệm vụ tự động điều chỉnh sự làm việc của các bơm cao áp nhằm duy
trì chế độ làm việc của động cơ.
7
- Kim phun: có nhiệm vụ phun tơi nhiên liệu vào trong buồng đốt dưới dạng sương mù để
trộn với không khí tạo thành hỗn hợp nạp vào động cơ. Lượng hỗn hợp đi vào động cơ được điều
chỉnh nhờ bướm ga .
1.3.2. Hệ thống bôi trơn.
1.3.2.1 Nhiệm vụ, phân loại.
Nhiệm vụ: Hệ thống có nhiệm vụ cung cấp dầu bôi trơn có hoặc không có áp suất đến bề
mặt các chi tiết cần bôi trơn của cơ cấu biên tay quay, cơ cấu phân phối khí, hệ thống cung cấp
nhiên liệu nhằm:
- Giảm ma sát giữa các chi tiết chuyển động tương đối với nhau, giảm mài mòn bề mặt của
các chi tiết, rửa trôi màng kim loại bám trên bề mặt các chi tiết, tăng độ khít giữa các chi tiết.
- Bảo vệ các bề mặt của các chi tiết, làm mát cho các chi tiết. Hệ thống bôi trơn động cơ
dùng để khắc phục tính hao mòn do sự quá nóng và kẹt các bề mặt chuyển động.
Phân loại:
- Bôi trơn kiểu bốc hơi (pha dầu vào nhiên liệu).
- Bôi trơn kiểu vung té (bôi trơn cho piston, xilanh động cơ 4kỳ).
- Bôi trơn cưỡng bức bằng bơm dầu.
- Bôi trơn bôi trơn kết hợp.
8
1.3.2.2 Sơ đồ hệ thống bôi trơn kiểu cưỡng bức bằng bơm dầu.
- Cấu tạo gồm các bộ phận chính: 1.Đáy cacte; 2. Bơm dầu; 3,7,9. Van an toàn; 4. Thước
thăm dầu; 6. Bình lọc ly tâm; 8. Két làm mát; 10 Trục cam; 11, Đồng hồ đo áp suất; 12. Mạch dầu
bôi trơn phụ; 13. Mạch dầu bôi trơn chính; 14. Hốc lọc dầu; 15. Trục cơ; 16. Cửa nạp
- Hoạt động: Dầu nhờn
chứa trong đáy cacte của động
cơ được trục cơ và đầu dưới của
tay biên vung lên phía trên để
bôi trơn cho piston và xilanh.
Các vòng găng dầu sẽ xoa đều
dầu xung quanh xilanh khi
piston đi lên và cào dầu bám
trên thành xilanh xuống để
9
đi qua van nhiệt đến phần trên của bộ tản nhiệt, nhiệt được truyền qua thành ống và theo dòng khí
được tạo bởi quạt gió ra ngoài. Nếu nhiệt độ của nước không vượt quá một giá trị nào đó (thường là
80
0
C) thì van nhiệt không cho qua mà sẽ đi theo nhánh phụ trở về phía trước bơm. Nếu vượt quá giá
trị cho phép van nhiệt mở cho nước thu được sau khi làm mát động cơ qua két làm mát, nước được
giảm nhiệt độ xuống theo mức qui định.
1.4. Sử dụng và chăm sóc động lực tĩnh tại
1.4.1. Sử dụng và chăm sóc động cơ điêzen trong nông nghiệp.
- Những điều chỉnh cần thiết khi làm việc.
+ Điều chỉnh khe hở nhiệt xupap:
+ Điều chỉnh thời điểm cung cấp nhiên liệu.
+ Điều chỉnh áp suất phun nhiên liệu.
- Chăm sóc kỹ thuật với các động cơ điêzen cỡ nhỏ.
+ Chăm sóc hàng kíp (sau 8 giờ làm việc):
+ Chăm sóc sau 50 giờ làm việc:
+ Chăm sóc sau 100 giờ làm việc:
+ Chăm sóc sau 300 giờ làm việc.
+ Chăm sóc sau 600 giờ làm việc.
- Những điều cần chú ý trong khi sử dụng động cơ điêzen.
+ Động cơ mới và sau sửa chữa lớn phải chạy rà theo qui định.
+ Trước khi khởi động.
+ Khởi động đúng nguyên tắc và giảm số lần khởi động làm tăng tuổi thọ của động cơ.
+ Trong khi động cơ làm việc phải thường xuyên kiểm tra sự làm việc bình thường của phao báo
áp suất dầu.
+ Khi thời tiết quá lạnh, có thể rót nước sôi vào thùng làm mát hoặc két nước làm mát để dễ khởi
động.
+ Khi muốn dừng động cơ phải giảm ga từ từ, cắt tải trọng,….
+ Phải ngừng động cơ ngay khi phát hiện thấy: động cơ bị nóng quá mức, ….
giới hóa nông nghiệp không? Điều đó đem lại những lợi ích gì và gặp những trở ngại gì trong điều
kiện nông nghiệp thực tế ở nước ta?
11
CHƯƠNG 2.
Hệ thống truyền lực trờn ô tô – máy kéo.
Số tiết : 3 (Lý thuyết 3 tiết ; bài tập,thảo luận 0 tiết)
*) Mục tiêu.
- Biết được cấu tạo và hoạt động chung của một số dạng truyền động cơ khí.
- Hiểu được cấu tạo, hoạt động của hệ thống truyền lực, hệ thống lái, hệ thống phanh
trên ô tô - máy kéo.
2.1. Các dạng truyền động cơ khí
2.1.1. Truyền động đai
- Nguyên lý: Sử dụng lực ma sát gián tiếp truyền mô men quay.
- Cấu tạo:
+Dây đai có thể làm bằng da, cao su vải
+ Tỷ số truyền:
i =
2
1
n
n
=
1
2
D
D
Trong đó: - i là tỷ số truyền ; n
1
, n
2
+ Nhược điểm: Không thực hiện được truyền động vô cấp, không có khả năng tự bảo vệ an toàn
khi quá tải, công nghệ chế tạo tương đối phức tạp, nhất là những truyền động bánh răng có yêu
cầu cao về độ chính xác.
2.2. Hệ thống truyền lực trên máy kéo.
2.2.1. Nhiệm vụ, phân loại
- Nhiệm vụ: Hệ thống truyền lực có nhiệm vụ truyền và thay đổi tỷ số truyền mômen quay
từ động cơ đến bánh chủ động để xe di chuyển.
- Phân loại:
+ Hệ thống truyền lực bằng thuỷ lực: mômen quay truyền từ động cơ đến bánh chủ động thông
qua môi trường chất lỏng (thông thường là dầu nhờn).
+ Hệ thống truyền lực cơ khí: mômen quay truyền đến bánh xe chủ động thông qua các cụm chi
tiết cơ khí.
- Sơ đồ chung của hệ thống truyền lực:
2.2.2. Các bộ phận trong hệ thống truyền lực.
2.2.2.1 Ly hợp
Nhiệm vụ, phân loại
- Nhiệm vụ: ngắt nối mômen quay từ động cơ đến hộp số để xe có khả năng ra vào số hoặc
cho phép xe có khả năng đứng yên khi còn số trong khoảng thời gian ngắn.
13
- Phân loại:
+ Căn cứ vào tư thế làm việc chia làm 2 loại: Ly hợp ma sát thường xuyên đóng, ly hợp ma sát
không thường xuyên đóng.
+ Căn cứ vào phương pháp điều khiển ta có: Ly hợp điều khiển tự động, ly hợp điều khiển bằng
cơ khí có trợ lực hoặc không có trợ lực
+ Căn cứ vào số lượng đĩa ma sát ta có: ly hợp một đĩa và ly hợp nhiều đĩa.
Cấu tạo và hoạt động của bộ ly hợp một đĩa ma sát khô thường xuyên đóng:
- Cấu tạo: Cấu tạo của ly hợp ma sát khô thường xuyên đóng một đĩa gồm các bộ phận
sau: bàn đạp ly hợp, thanh kéo và ốc điều chỉnh; lò xo kéo bàn đạp; nỉa; ổ đỡ và vòng bi ép; cần
bẩy;bu lông hãm thanh kéo; thanh kéo, đĩa ép, đĩa ma sát; bánh đà; trục ly hợp.
- Hoạt động: Bình thường khi ta chưa tác động vào bàn đạp, do sức căng của hệ thống lò
năng quay vòng.
14
- Cấu tạo: gồm các bộ phận chính sau: cặp bánh răng truyền lực chính; vỏ hộp vi sai;bánh
răng vệ tinh; bánh răng bán trục.
- Hoạt động :
+ Khi xe đi thẳng trên địa hình thẳng sức cản trên 2 bánh chủ động như nhau. Do vậy tại vị trí ăn
khớp của các bánh răng bán trục với bánh răng vệ tinh cũng bằng nhau khi xe có số gặp bánh răng
truyền lực trung ương quay vì vậy vỏ hợp vi sai cũng phải quay theo.
+ Khi xe di chuyển trên địa hình phức tạp hoặc khi xe quay vòng,
2.2.2.5 Cơ cấu chuyển hướng của máy kéo xích
Nhiệm vụ, phân loại:
- Nhiệm vụ:
Ly hợp chuyển hướng có nhiệm vụ ngắt hoặc nối mômen quay đến từng dải xích hoặc
bánh chủ động để xe có thể thay đổi hướng chuyển động.
- Phân loại:
Ly hợp chuyển hướng của máy kéo xích có 2 dạng phổ biến là ly hợp chuyển hướng kiểu
ma sát và ly hợp chuyển hướng kiểu hành tinh.
Cấu tạo : gồm các bộ phận chính sau : Trục chủ động; Trống chủ động; Đĩa chủ
động,Trống bị động;Đĩa ma sát;Bán trục; Trục kéo và lò xo ép; Đĩa ép.
Hoạt động :
Khi chưa cần chuyển hướng ta chưa kéo cần lái lúc này do sức căng của hệ thống lò xo ép
đĩa ép bị kéo vào phía trong ép chặt hệ thống đĩa chủ động và ma sát thành một khối do vậy
mômen quay truyền từ trống chủ động sang trống bị động qua bề mặt ma sát của các đĩa. Khi cần
chuyển hướng ta kéo cần lái thông qua hệ thống thanh kéo, kéo nỉa điều khiển và đĩa ép ra phía
ngoài (ép thêm lò xo lại) lúc này hệ thống đĩa chủ động và bị động không bị ép lại với nhau nên
mômen ma sát mất đi, lúc này các đĩa ma sát và trống bị động quay tự do nên sẽ quay chậm lại
hay nhanh lên tuỳ theo địa hình di chuyển (quay chậm lại khi xe di chuyển trên đường bằng hoặc
lên dốc, quay nhanh lên khi xe di chuyển xuống dốc) nhờ vậy mà xe có thể quay vòng. Trong
trường hợp cần quay vòng gấp ta vừa kéo cần lái vừa đạp phanh phía quay vòng nên dải xích bị
phanh lại nên quay chậm lại hoặc dừng hẳn nên bán kính quay vòng của xe nhỏ hơn.
Khi đạp hoặc kéo phanh thanh kéo kéo dải phanh để dải phanh bó lấy trống phanh tạo nên lực
ma sát làm giảm số vòng quay của trống phanh.
- Phanh guốc: Cấu tạo của phanh gồm trống phanh lắp cứng với bán trục hoặc bánh xe,
trong quá trình làm việc trống phanh quay đồng bộ với bánh xe. Bên trong trống có giá đỡ cố
định, trên giá đỡ lắp các guốc phanh. Guốc phanh một đầu được lắp khớp bản lề với giá đỡ, phía
trong của guốc có lắp lò xo, lò xo luôn có xu hướng kéo các guốc phanh vào phía trong đầu còn
lại của guốc phanh tựa trên mấu cam điều khiển (phanh cơ), tựa trên các piston đối với phanh dầu
hoặc phanh hơi.
Khi cần phanh ta tác động vào bàn đạp để điều khiển cam, khi cam bị xoay sẽ tác động vào
đầu của guốc phanh đẩy guốc phanh ra phía ngoài, guốc tỳ vào trống phanh tạo nên mômen ma
sát cản nên trống phanh sẽ quay chậm lại.
Phanh đĩa: đĩa phanh được gia công bằng kim loại, đĩa phanh lắp cứng với bán trục hoặc
bánh xe chủ động, trong quá trình làm việc đĩa phanh quay đồng bộ với bánh xe chủ động. Hai
bên của đĩa phanh có lắp các má phanh trên giá đỡ cố định, các má phanh liên kết với bàn đạp
hoặc tay phanh thông qua hệ thống thanh kéo hoặc hệ thống xilanh thuỷ lực.
Khi cần phanh thông qua cơ cấu điều khiển các má phanh sẽ ép vào hai mặt bên đĩa phanh tạo
nên sức cản để giảm số vòng quay của đĩa phanh, giảm tốc độ di chuyển của xe.
2.5. Hệ thống điều khiển nâng hạ thuỷ lực
- Nhiệm vụ: Hệ thống thuỷ lực dùng để móc nối máy nông nghiệp vào sau, trước hoặc hai
bên máy kéo, hạ ở thế làm việc, nâng ở thế vận chuyển. Ngoài ra còn phục vụ một số công việc khác
trên ôtô máy kéo (thí dụ nâng thùng xe, truyền động cho tời).
- Phân loại:
+ Hệ thống thuỷ lực mạch hở.
+ Hệ thống thuỷ lực mạch kín.
- Cấu tạo của hệ thống: Hệ thống thuỷ lực cơ bản bao gồm những bộ phận chính sau: thùng
chứa dầu, bơm dầu (hoặc mô tơ thuỷ lực), bộ phận điều khiển (phân phối), bộ phận tiếp nhận (xilanh
thuỷ lực).
- Hoạt động: về cơ bản khi chúng ta tác động vào tay điều khiển, thông qua bộ phận điều
khiển sẽ làm thay đổi lượng dầu tới xi lanh, dầu tác động trực tiếp lên piston, làm cho piston đi
xuống, qua hệ thống nối kéo bộ phận cần nâng đi lên.
- Phương pháp làm đất chuyên dùng: cày vỡ hoang, cày đồng lầy, phay đất.
- Phương pháp làm đất bề mặt: cày ngả rạ, bừa xới, bừa lăn, đánh rãnh.
3.1.3. Yêu cầu kỹ thuật.
- Sau khi làm đất xong cỏ rác, sâu bệnh phải được vùi xuống dưới, gom lại hoặc dồn lên
bờ.
- Sau khi làm đất xong bề mặt ruộng phải bằng phẳng hoặc gợn sóng (độ cao của sóng đất
không quá 5 cm). Đáy luống phải phẳng để tạo điều kiện cho hệ thống máy làm việc tốt ở lượt
sau.
- Hệ thống máy và thiết bị làm đất trong khi làm việc máy phải cân bằng đi thẳng, phải có
hệ thống điều chỉnh cơ học để điều chỉnh và sử dụng dễ dàng theo yêu cầu, làm việc chắc chắn,
năng suất và hiệu quả cao.
3.1.4. Phân loại máy làm đất.
- Máy cày:
- Máy bừa:
- Máy phay đất:
3.2. Máy cày
3.2.1. Nhiệm vụ và yêu cầu kỹ thuật.
- Nhiệm vụ: Nhiệm vụ của cày là cày một lớp đất ở mặt đồng có độ sâu từ 10 đến 35 cm.
Thỏi đất được cày có thể bị lật úp hoặc không lật, có thể được làm vỡ sơ bộ hay không.
- Yêu cầu kỹ thuật đối với máy cày:
+ Đối với cày lật đất cần đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật sau: bảo đảm cày sâu đều và đúng yêu
cầu đặt ra, độ cày sâu trung bình thực tế sai lệch so với yêu cầu đặt ra không được vượt quá 1
cm. Cày phải lật đất, lấp kín cỏ rác, phân bón. Đường cày thẳng, không cày lỏi và cày trùng lặp.
18
+ Máy cày phải bền vững, chăm sóc và sử dụng thuận tiện, lực cản riêng của cày nhỏ mà năng
suất làm việc cao.
+ Ở những vùng có xói mòn hoặc độ ẩm thấp, ta sử dụng cày không lật. Cày loại này chỉ làm tơi
sơ bộ lớp đất canh tác mà không lật thỏi đất.
3.2.2. Cấu tạo và hoạt động.
3.2.2.1. Máy cày lưỡi diệp.
Trụ được chế tạo bằng thép đúc hoặc dập có tiết diện là tam giác đều, hình vuông hoặc tròn rỗng.
Phía dưới có mặt đế yên ngựa để lắp lưỡi cày và diệp cày.
Thân cày phụ:
Thân cày phụ được lắp trước thân cày chính, có nhiệm vụ hớt lớp đất mặt tới độ sâu 8 - 12
cm, bề rộng bằng 2/3 bề rộng làm việc của thân cày chính, hất xuống đáy luống do thân cày phía
trước tạo nên.
- Cấu tạo gần giống như thân cày chính, nhưng khác ở hình dạng bề mặt, kích thước nhỏ hơn và
không có thanh tựa đồng.
- Vị trí của thân cày phụ lắp trước thân cày chính một khoảng bằng bề rộng làm việc của thân cày
chính.
Dao cày:
Dao cày có nhiệm vụ cắt thỏi đất theo phương thẳng đứng, giúp cho thỏi đất lật tốt hơn, chém
nát cỏ, bảo đảm độ cày sâu đồng đều và máy làm việc ổn định không bị lắc.
Vị trí: dao cày được lắp trước thân cày phụ, tâm của dao cách mũi cày của thân cày phụ
19
1 khoảng ≈ 130 mm, trục dao cách mặt ruộng 2 - 4 cm, mặt phẳng quay của dao cách thành luống
một khoảng 1 - 3 cm về phía trong đồng.
Bánh xe cày.
Bánh xe cày (bánh tựa đồng) được lắp trên cày treo dùng để điều chỉnh độ cày sâu.
Bộ phận này gồm bánh tựa và cam trục vít điều chỉnh:
- Quay trục vít để nâng bánh tựa lên hoặc hạ bánh tựa xuống.
- Bánh tựa lăn trên mặt đồng nên nó giới hạn độ cày sâu.
- Khi nâng bánh tựa lên so với khung, độ cày sâu sẽ tăng và ngược lại.
Lưỡi cày sâu thêm.
- Lưỡi cày sâu thêm có nhiệm vụ làm tơi vỡ lớp đất dưới đáy luống tới độ sâu 6 - 15 cm mà
không lật và không đưa lên mặt luống với mục đích làm tăng độ dày lớp đất canh tác, giữ nước và
không khí để rễ cây phát triển tốt hơn.
- Lưỡi cày sâu thêm chỉ được lắp khi cày đất bạc màu hoặc thịt nặng có lớp đất canh tác
mỏng có 2 loại:
- Lưỡi cày sâu thêm (vị trí) được lắp ngay sõu thân cày chính, mũi của lưỡi cày sâu thêm
3.3.1. Nhiệm vụ và phân loại
- Nhiệm vụ:
Bừa máy có nhiệm vụ làm tơi nhỏ lớp đất mặt tới độ sâu 10 - 12 cm đối với ruộng khô và
làm nhuyễn lớp đất mặt tới độ sâu 15 - 20 cm đối với ruộng nước cho tới khi đạt yêu cầu kỹ thuật
20
nông học. Đồng thời bừa máy còn có nhiệm vụ san phẳng mặt ruộng, diệt trừ cỏ dại và các ổ sâu
bệnh, dồn cỏ dại gom lên bờ hoặc cắt vụn dìm xuống dưới lớp đất và trộn đều phân bón với đất.
- Phân loại:
+ Theo đối tượng làm việc có: Máy bừa đất khô: bừa đĩa, bừa trống lăn; máy bừa ruộng nước: bừa
răng, bừa lồng
+ Theo cấu tạo của bộ phận làm việc: Bừa răng; bừa trống lăn; bừa đĩa; bừa lưới.
+ Theo nguyên tắc làm việc: bừa tịnh tiến: bừa răng, bừa lưới; Bừa quay: bừa đĩa, bừa trống
lăn
3.3.2. Cấu tạo, hoạt động
3.3.2.1. Bừa tịnh tiến
- Bừa tịnh tiến làm việc theo nguyên tắc chuyển động tịnh tiến, nghĩa là trong quá trình làm
việc các răng bừa chuyển động tịnh tiến trên mặt đất tạo thành các vết răng. Độ bừa nhỏ phụ thuộc
vào khoảng cách giữa các vết răng bừa, độ bừa sâu phụ thuộc vào trọng lượng, chiều cao của các
răng bừa.
- Răng bừa có tiết diện hình vuông, hình tròn hoặc dạng dao hoặc dạng lưỡi, răng bừa có thể
được vát đầu nhọn hoặc không. Các răng bừa thường được lắp lên khung cứng thành một hay
nhiều hàng, răng bừa có thể được lắp nghiêng về phía trước, ngả về phía sau hoặc lắp thẳng đứng.
Với loại răng lắp nghiêng về phía trước thì máy sẽ đảm bảo được độ bừa sâu tuy nhiên có hạn chế
là đưa cỏ rác, gốc rạ lên mặt đồng và sẽ dồn đất về phía trước
3.3.2.2. Bừa quay
- Bừa quay: khi máy làm việc bộ phận làm việc chính quay nghĩa là khi làm việc các bộ
phận này quay một cách chủ động hoặc thụ động do lăn trên mặt đất.
- Máy bừa quay có các loại:
+ Bừa răng quay: dùng để phá váng sau khi gieo.
+ Bừa đĩa: dùng làm nhỏ đất trước khi gieo trồng hoặc phá váng ruộng đã để lâu.
phận di động vừa là máy canh tác để làm đất. Do trọng lượng của máy kéo, bánh lồng lún sâu vào
bùn, các thanh thép góc cắt đất thành thỏi hất lên phía trên, cỏ hoặc gốc rạ bị vùi dập xuống phía
dưới. Để chống lật ngửa khi làm việc với máy kéo lớn phía sau có lắp một bừa răng hoặc bừa đĩa
nhỏ có bề rộng 1,2m ở khoảng giữa hai bánh, bừa được gài ở tư thế bơi khi làm việc, với máy kéo
nhỏ có thể lắp kèm bánh lồng với máy phay đất để làm nhỏ đất giữa 2 bánh. Khi di chuyển xuống
ruộng máy phải tiến xuống và khi lên bờ sau khi làm việc xong phải lùi lên để chống lật. Mức nước
trong ruộng khi lồng đất tốt nhất là 7 - 25 cm (bùn nhuyễn), 25 - 30 cm (bùn bị se trên mặt ruộng).
3.4. Máy phay đất
3.4.1. Nhiệm vụ phân loại
- Nhiệm vụ: Máy phay dùng để làm đất nhỏ và nhuyễn hơn, tiêu diệt cỏ dại, chém nát rơm
rạ, rễ cây, phân bón, trộn phân với đất và trong phẳng mặt ruộng.
- Phân loại: Máy phay có các loại máy cỡ lớn dùng với máy kéo lớn và máy phay nhỏ liên kết
với máy kéo nhỏ.
3.4.2. Cấu tạo và hoạt động của máy phay
- Cấu tạo: Hệ thống truyền lực, trống phay,khung máy, bộ phận điều chỉnh độ phay sâu.
+ Hệ thống truyền lực: với các loại máy phay của máy kéo lớn thì máy nhận mômen quay từ trục
thu công suất của máy kéo do vậy sử dụng tay gài trên buồng lái để gài trục thu công suất khi làm
việc. Từ trục thu công suất mômen truyền đến máy qua bộ truyền động các đăng. Từ trục các đăng
mômen quay truyền đến 1 cặp bánh răng côn lắp trên máy, từ bánh răng thứ cấp của cặp bánh
răng côn mômen quay truyền đến trục trống phay qua các bánh răng trụ răng thẳng (3 bánh răng).
Với máy phay nhỏ hệ thống truyền lực của máy phay sẽ nhận mômen quay từ bánh răng trích
công suất trên hộp số (thông thường là bánh răng sơ cấp của hộp số). Bánh răng này sẽ quay với
tốc độ nhất định ở mỗi chế độ làm việc của động cơ, bánh răng này luôn quay khi ta không ngắt ly
hợp chính do vậy trên máy phay có lắp một ly hợp riêng để ngắt mômen quay đến máy phay khi
máy di chuyển trên đường. Từ trục của ly hợp phay mômen quay truyền đến trống phay qua một
bộ truyền động xích, bộ truyền xích được đặt trong hộp kín và bôi trơn bằng dầu nhớt.
+ Trống phay: bộ phận làm việc chính của máy phay là trống phay gồm các lưỡi phay lắp lên trục
theo một quy luật nhất định, mỗi loại máy phay sử dụng một hay nhiều loại lưỡi phay.
Lưỡi phay có thể lắp trực tiếp trên trục hoặc lắp trên đĩa, trong trường hợp lắp trên đĩa, các đĩa
lưỡi liên kết với trục qua các đĩa ma sát, cách lắp này an toàn cho lưỡi phay khi làm việc tuy nhiên chế
- Hiểu được cấu tạo, hoạt động của một số loại máy gieo, trồng và máy cấy.
- Hiểu được cấu tạo, hoạt động của một số loại chăm sóc và bảo vệ cây.
- Biết được một số điều cần chú ư khi sử dụng một số loại máy gieo trồng và chăm sóc.
4.1. Máy gieo hạt
4.1.1. Nhiệm vụ, phân loại và yêu cầu kỹ thuật.
- Nhiệm vụ:
+ Gieo đều, số hạt phân bố đều trên mặt, trên hốc hoặc trên hàng; khoảng cách phải đúng và đều
theo yêu cầu đề ra.
+ Điều chỉnh được lượng giống gieo dễ dàng theo mức quy định.
+ Đảm bảo độ lấp sâu đều cho từng loại hạt khác nhau.
- Phân loại máy gieo:
+ Theo phương pháp gieo: máy gieo hàng, gieo dải, gieo hốc, ngắt quãng và gieo vãi.
+Theo công dụng có các nhóm máy: gieo ngũ cốc, gieo cỏ, gieo hạt kết hợp bón phân và các nhóm
máy khác.
+ Theo phương pháp liên kết với máy kéo: máy gieo móc và máy gieo treo.
- Yêu cầu kỹ thuật:
+ Gieo được nhiều loại hạt khác nhau và không được làm hỏng hạt và mầm hạt,
+ Máy gieo phải đảm bảo đúng mật độ và số lượng gieo đều trên diện tích gieo.
+ Bộ phận rạch hàng phải rạch hàng tới độ sâu theo yêu cầu, lấp hạt kín bằng đất tới, nhỏ với độ
dày theo yêu cầu.
+ Máy gieo phải đảm bảo gieo hạt với bề rộng giữa các hàng đúng quy định.
+ Máy phải làm việc chắc chắn, an toàn, có hệ thống điều chỉnh cơ học, để điều chỉnh lượng hạt gieo,
độ sâu lấp hạt, sử dụng và chăm sóc thuận tiện và hiệu quả kinh tế cao.
4.1.2. Cấu tạo chung của máy gieo hạt.
4.1.2.1 Bộ phận gieo.
- Bộ phận gieo kiểu trục cuốn:
Cấu tạo gồm có thân là hộp gieo và phần làm việc là trục cuốn. Trục cuốn có tai khế, khi
trục quay những tai khế sẽ gạt hạt ra ống dẫn. Để điều chỉnh lượng hạt ra, bên phải có ống chắn
che bớt phần trục tiếp xúc với hạt hoặc điều chỉnh tốc độ quay của trục cuốn. Trục cuốn có thể
quay theo hai chiều khác nhau:
thay phễu.
+ Ngoài ra có loại ống cao su, ống tôn, ống lồng
4.1.2.3 Bộ phận rạch hàng.
- Nhiệm vụ: rạch rãnh tới độ sâu quy định để hạt rơi vào đó.
- Bộ phận rạch hàng kiểu đĩa quay:
+ Cấu tạo: gồm hai đĩa lắp nghiêng với nhau một góc bằng 11 - 23
0
. Khi làm việc, đĩa sẽ quay do
tiếp xúc với đất, rạch đất và ép đất sang hai bên tạo thành rãnh. Để cạo sạch đất bên trong của đĩa
giữa hai đĩa lắp thêm thanh gạt đất. Dưới sức ép của lò so đĩa rạch rãnh tới độ sâu tương ứng. Để
điều chỉnh độ rạch sâu chỉ việc điều chỉnh sức nén của lò xo.
+ ưu điểm: rạch rãnh sâu đều, không dính đất nên được sử dụng phổ biến.
+ Nhược điểm: Đối với đất lẫn nhiều sỏi đá không sử dụng được, giá thành chế tạo đắt.
- Bộ phận rạch hàng kiểu tịnh tiến:
+ Cấu tạo: Bộ phận làm việc chính là dao rạch. Khi làm việc dao rạch chuyển động tịnh tiến trên
mặt ruộng, sẽ đất ép sang hai bên tạo thành rãnh. Phía sau dao rạch có dạng lõm để lắp ống dẫn
hạt bảo đảm hạt rơi xuống đáy rãnh đều đặn. Điều chỉnh độ rạch sâu bằng cách thay đổi khoảng
cách giữa cạnh sắc của dao rạch với bánh xe máy gieo hạt theo phương thẳng đứng.
+ Ưu điểm: cấu tạo gọn nhẹ, làm việc chắc chắn, dùng để rạch rãnh đất lẫn nhiều sỏi đá.
+ Nhược điểm: hay bị dính đất nên không sử dụng ở vùng đất ẩm ướt, có độ kết dính cao, nén đất
dưới đáy rãnh kém thường tạo thành những sóng đất cao.
4.1.2.3 Bộ phận lấp hạt.
- Nhiệm vụ: lấp hạt đã gieo với độ dày theo yêu cầu nhằm giữ ẩm cho hạt và tránh bị chim,
chuột phá hoại.
25