Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (1 – 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 –
1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (12 – 1998), được cụ thể hóa trong các
chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 – 1999). Trong điều
24.2 của Luật giáo dục đã ghi: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
học sinh.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của ngành giáo dục trong những năm gần đây,
đòi hỏi người dạy phải thay đổi từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương
pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh có một quá trình tự học, tự nghiên cứu
bài học một cách hiệu quả nhất. Giữa hai phương pháp dạy học này có nhiều sự
khác nhau, trong đó điều khác biệt cơ bản nhất là vai trò của người giảng dạy: người
thầy không còn truyền tải kiến thức một chiều mà cần có phương pháp định hướng
kiến thức để học sinh chủ động tự nghiên cứu bài học. Chúng ta biết rằng, phương
pháp dạy học tích cực bao gồm 4 đặc trưng quan trọng:
- Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.
- Có sự kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của học sinh.
So sánh giữa hai phương pháp: Dạy học truyền thống và dạy học tích cực
Xuất phát từ thực tế giảng dạy các bài ôn tập văn học việt nam: thời gian
ngắn, nội dung kiến thức rộng và sâu, hệ thống câu hỏi dàn trải theo giai đoạn văn
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
3. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 10 bậc trung học phổ thông.
4. Giới hạn đề tài:
Bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam” – chương trình Ngữ văn 10 ban cơ bản.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Dựa vào thực tế giảng dạy, rút kinh nghiệm, tìm ra phương pháp phù hợp với
từng đối tượng học sinh. Tham khảo sách giáo khoa và các tài liệu có liên quan đến
phương pháp dạy học.
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 2
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Thông qua những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực đặt ra
một số vấn đề mà người dạy cần quan tâm: Mối quan hệ giữa các đặc trưng rất chặt
chẽ và gần gũi, có một số kĩ thuật mà người dạy đã thực hiện trong phương pháp
dạy học truyền thống như: các hoạt động của học sinh thông qua các câu hỏi gợi
dẫn, đàm thoại; mỗi học sinh phải làm việc cá nhân (soạn bài và làm bài) trước khi
trao đổi, thảo luận; người dạy có sự đánh giá khách quan thông qua nhận xét và cho
điểm. Nhưng trong phương pháp dạy học tích cực có một đặc trưng mới đó là luôn
chú trọng cách rèn luyện phương pháp tự học của học sinh. Vì tự học có vị trí và vai
trò quan trọng: tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học, bồi dưỡng năng lực
tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập, tự
học giúp cho mọi người chủ động học tập suốt đời. Bằng con đường tự học mỗi học
sinh sẽ tiếp thu lượng kiến thức nhiều hơn đã cố định trong sách giáo khoa. Nếu rèn
(Theo phân phối chương trình giảng dạy của trường THPT Lương Thế Vinh). Do
đó, người dạy cần chú trọng và đầu tư phương pháp để bài giảng cô động, súc tích
giúp học sinh không nhầm lẫn các phạm vi kiến thức đã được lĩnh hội trong các bài
văn học sử trước đó như: Tổng quan văn học Việt Nam, khái quát văn học dân gian.
Đồng thời giúp học sinh hiểu được vị trí, vai trò của một bài tổng kết văn học
(Thuộc một bộ phận văn học), đạt được những kiến thức nền tảng, yêu thích văn
học dân gian, có khả năng tự nghiên cứu một khía cạnh, một vấn đề phù hợp với
học sinh khối 10.
Tóm lại, tự học và tự nghiên cứu là một trong những yêu cầu cần thiết để học
sinh lĩnh hội kiến thức, để làm được điều này người dạy học cần có kĩ năng và nghệ
thuật riêng. Người dạy cần vận dụng, kết hợp hài hòa tất cả các phương pháp để
giúp học sinh tự nghiên cứu. Người dạy có nhiều định hướng, yêu cầu học sinh tự
nghiên cứu bài học bằng các hình thức: dạy cách lập kế hoạch học tập, dạy cách
nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học, dạy cách học bài, dạy cách nghiên
cứu. Còn đối với học sinh đầu cấp, bài “ôn tập văn học dân gian” là bước khởi đầu
cho quá trình tự nghiên cứu, tự tìm hiểu về những điều thú vị của văn học Việt Nam,
là nguồn động lực giúp các em tiếp tục nghiên cứu ở những bài tổng kết tiếp theo
của chương trình Ngữ Văn bậc THPT.
2. Phương pháp thực hiện:
Trong quá trình giảng dạy, phương pháp mà chúng tôi đưa ra giúp học sinh tự
nghiên cứu bài “ôn tập văn học dân gian” là hình thành các bước tự học theo quá
trình cụ thể:
- Bước 1: Định hướng kiến thức về văn học dân gian Việt Nam thông qua
những bài học cụ thể: Tổng quan văn học Việt Nam, khái quát văn học dân gian Việt
Nam, các tác phẩm được học trong chương trình. Ở mỗi bài học, GV chọn một hoặc
một số câu hỏi để HS tự nghiên cứu theo cá nhân (theo nhóm)
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 4
quả đạt được ở mỗi câu hỏi sẽ được kiểm chứng trong quá trình giảng dạy, trong
phạm vi nghiên cứu, chúng tôi sẽ thể hiện rõ trong bài “ Ôn tập VHDG Việt Nam”
được trình bày ở phần phụ lục.
Bài 1: Tổng quan văn học Việt Nam:
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 5
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
Những kiến thức học sinh cần đạt được: Những bộ phận hợp thành, tiến trình
phát triển của văn học Việt Nam và tư tưởng, tình cảm của người Việt Nam trong
văn học.
Như vậy, trong bài học này có 3 nội dung mà học sinh cần nắm chắc, hiểu rõ
vấn đề để phân tích và áp dụng trong các bài học tiếp theo đó là: Các bộ phận hợp
thành của văn học Việt Nam, quá trình phát triển của văn học viết Việt Nam, con
người Việt Nam qua văn học. Trong các vấn đề trên, người dạy tập trung nhấn
mạnh đến những đơn vị kiến thức liên quan đến bộ phận văn học dân gian, tức là
nội dung văn học dân gian là một bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam. Ở các
cấp học trước, các em đã tiếp cận bộ phận văn học dân gian nên sẽ rất gần gũi với
các tác phẩm trong nhà trường. Vì thế, nhiệm vụ của người dạy là củng cố những
kiến thức đã học và khơi gợi những kiến thức mới, các câu hỏi gợi ra theo các mức
độ từ đơn giản đến phức tạp:
Câu 1: Trình bày những hiểu biết của em về văn học dân gian? So sánh VHDG và
văn học viết?
Câu 2: Văn học dân gian có vị trí như thế nào trong quá trình phát triển văn học
nước nhà?
(Hai câu hỏi trên, HS tự trả lời và gạch chân trong sách giáo khoa)
có quan hệ chặt chẽ
với VHDG qua 4
phương diện: thế giới
tự nhiên, quốc gia
dân tộc và ý thức về
bản thân.
nghiên - Từng mối quan hệ: - Các ví dụ phù hợp với
có ví dụ cụ thể (chú ý
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 6
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
tích hợp VHDG ở địa yêu cầu
phương)
- GV thu bài, chấm
-Trong các ví dụ tìm
trả, nhận xét, rút kinh - Đặt câu hỏi thắc được có sự khác nhau
nghiệm.
mắc về những vấn đề theo vùng miền? Giải
chưa rõ.
thích tính dị bản.
Bài 2: Khái quát văn học dân gian Việt Nam
Những kiến thức học sinh cần đạt được: Khái niệm VHDG, các đặc trưng cơ
bản của VHDG, những thể loại chính của VHDG, những giá trị chủ yếu của VHDG.
Đây là bài học có kiến thức trọng tâm về VHDG, người dạy cần định hướng giúp
bài học, HS làm việc của thể loại VHDG thông hiểu và nêu
cá nhân.
mà HS chọn
được ví dụ cụ thể.
-Thời gian nghiên - So sánh với các thể - HS so sánh về: dung
cứu: dựa vào phần dặn loại còn lại của lượng và nội dung
dò tiết học trước đó.
VHDG
của các tác phẩm.
- HS trình bày một số
thể loại trong tiết học.
Đặc biệt những thể
loại không được học
trong nhà trường.
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
- HS so sánh hình
ảnh, chi tiết, thể loại
…của VHDG với văn
học viết khá phong
Trang 7
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
- Chứng minh VHDG phú.
là nguồn sữa nuôi
dưỡng tinh thần của
nhân dân, là cơ sở
đề.
Truyền
thuyết
Kịch hóa một đoạn Sự việc học sinh tâm Chuẩn bị chưa cẩn
trích (Dựa vào nội đắc.
thận, tâm lí học sinh
dung sách giáo khoa,
chưa tự tin.
tập theo nhóm)
Truyện cổ Kịch hóa một đoạn Sự việc học sinh tâm Chọn sự việc hấp dẫn,
tích
trích (Dựa vào nội đắc.
học sinh chuẩn bị và
dung sách giáo khoa,
thực hiện khá tốt,
tập theo nhóm)
truyền cảm hứng tốt
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 8
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
cho bài học
Truyện
cười
mối quan hệ giữa
VHDG và văn học
viết.
Tóm lại, ở bước đầu tiên này – tập trung vào ba dạng bài từ khái quát đến cụ
thể, mỗi dạng bài người dạy đều có thể khơi gợi những vấn đề khác nhau giúp học
sinh hình thành kĩ năng tự nghiên cứu. Các vấn đề nghiên cứu cần đa dạng về hình
thức thực hiện và phong phú về nội dung tìm hiểu để hỗ trợ học sinh trong việc lĩnh
hội kiến thức. Theo chúng tôi, mục đích lớn nhất từ hệ thống câu hỏi này là định
hướng nội dung trong bài ôn tập và giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về VHDG
như GS.Đinh Gia Khánh nhận định “Văn học dân gian vừa là cuốn bách khoa của
đời sống, vừa là một phương tiện giáo dục những phẩm chất tốt đẹp nhất của con
người như tình yêu Tổ quốc, lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, lòng ngay thẳng, ý
thức về điều thiện và tinh thần đấu tranh chống điều ác. Đối với các bộ môn khoa
học xã hội, văn học dân gian là nguồn tài liệu vô giá cho việc nghiên cứu đời sống
và thế giới quan nhân dân trong các thời kì lịch sử khác nhau. Nói tóm lại, có thế
coi văn học dân gian như là một bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của nhân dân
lao động, được ghi lại bằng một phương thức nghệ thuật độc đáo. Cho nên văn học
dân gian của mỗi dân tộc là một trong những thành tựu văn hóa, thành tựu nghệ
thuật quan trọng nhất làm cho cơ sở cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa
và nghệ thuật của dân tộc đó” (Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD 1997, Tr 49).
2.2 Định hướng câu hỏi để học sinh tự nghiên cứu
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 9
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
cảm hứng cho
người học
Thảo luận nhóm
Tìm hiểu về các thể Trả lời các câu
loại:thần thoại, truyện ngụ hỏi và có sự giải
Ghi chép thông tin,
ngôn, tục ngữ, câu đố, vè, thích.
trình bày
chèo (sân khấu) vì đây là
các thể loại không được
tiếp cận trong chương
trình THPT.
Mỗi thể loại tìm các ví dụ
cụ thể.
3
4
Thảo luận nhóm
HS Soạn powerpoit
Tìm hiểu các lễ hội dân Thể hiện kĩ năng
gian ở địa phương
soạn powerpoint,
tìm hiểu các lễ
hội
Liên hệ giáo dục học sinh.
Câu 3: Tìm hiểu một số thể loại VHDG không được học trong chương trình?
Giúp học sinh tìm hiểu toàn diện các thể loại VHDG.
Câu 4: Nêu một số lễ hội ở Bình Thuận? Thuyết trình về một lễ hội mà nhóm
thấy tâm đắc nhất.
Thể hiện sự hiểu biết về các lễ hội dân gian, so sánh với các vùng miền
khác nhau.
Câu 5: Kể tên các tác phẩm VHDG ở địa phương mà em đã học? Em ấn
tượng nhất tác phẩm nào? Vì sao?
So sánh với VHDG đã học, liên hệ giáo dục học sinh.
Thông qua tất cả các câu hỏi mà giáo viên gợi dẫn, mục đích cần đạt được ở
bước này là: Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng giao tiếp: biết trình bày vấn đề,
tiếp thu ý kiến và thể hiện chính kiến của cá nhân. Trong thực tế giảng dạy, chúng
tôi nhận thấy sự tồn tại lớn nhất của học sinh là rất khó khăn khi diễn đạt một vấn
đề ở dạng nói. Như vậy, người dạy học cần kiểm tra kiến thức và các kĩ năng giao
tiếp của học sinh một cách hiệu quả nhất.
2.4 Kiểm tra bài thu hoạch
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 11
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
Trong chương trình ngữ văn 12, Bộ GD&ĐT có đưa bài: Văn bản tổng kết ở
chương trình học kì II. Cùng với quan niệm “ học đi đôi với hành”, giúp học sinh tự
kiểm tra kiến thức một cách dễ dàng hơn, người dạy giới thiệu và hướng dẫn học
sinh thực hành dạng bài này sau khi học xong bài “ Ôn tập VHDG Việt Nam”.
Mục đích của bài học văn bản tổng kết:
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
hình thành kĩ năng viết văn bản tổng kết. Hai nội dung này sẽ trình bày rõ trong
phần phụ lục.
3. Kết quả đạt được và khả năng ứng dụng:
So với nhiều năm trước đây, học sinh không thích thú khi tiến hành ôn tập
phần văn học dân gian vì thầy cô chủ yếu là ôn lại kiến thức đã biết, phương pháp
truyền thống làm học sinh không hứng thú. Tuy nhiên, khi nhóm nghiên cứu tiến
hành theo các bước đã trình bày: học sinh đã biết thể hiện mình trong hoạt động cá
nhân và trao đổi nhóm, bắt buộc học sinh phải tìm kiếm kiến thức (được học hoặc
chưa biết), tự tin trong hoạt động giao tiếp…
Chúng tôi nghĩ rằng, học sinh có thể tự nghiên cứu một vấn đề trong phạm vi
trường THPT là điều không dễ khi xã hội đang tràn ngập thông tin như hiện nay.
Nhưng điều mà các em có thể làm tốt là tiếp nhận kiến thức và biết cách vận dụng
vào thực tế cuộc sống khi có thầy cô gợi dẫn rõ ràng, kịp thời. Chính vì lẽ đó, đề tài
này có thể áp dụng cho tất cả các bộ môn, thuộc dạng bài ôn tập, tổng kết là rất phù
hợp. Tùy vào đặc trưng từng bộ môn, người dạy có thể linh hoạt các bước nhưng
điều quan trọng: Xác định nội dung để học sinh tự nghiên cứu, thời gian chuẩn bị
hợp lí, rèn luyện các kĩ năng thực hành và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh hiệu
quả nhất.
III. KẾT LUẬN:
Thông qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn học sinh tiếp thu và
vận dụng các kĩ năng tự nghiên cứu một bài học, đặc biệt là dạng bài ôn tập VHDG.
Trong quá trình tự nghiên cứu, học sinh sẽ rèn luyện được các kĩ năng cơ bản:
thảo luận nhóm, trình bày một vấn đề, hình thành văn bản tổng kết…từ đó giúp học
sinh có nhiều kiến thức về VHDG nói riêng, kiến thức xã hội nói chung để giải
quyết các tình huống thực tiễn. Đặc biệt, học sinh có thể hình thành và nuôi dưỡng
tình yêu văn học dân gian trong cuộc sống hiện đại.
B. CHUẨN BỊ BÀI HỌC:
1.Giáo viên:
1.1. Dự kiến, biện pháp tổ chức HS hoạt động tiếp nhận bài học: GV đặt câu hỏi gợi
mở, nêu vấn đề, định hướng trao đổi thảo luận nhóm.
1.2. Phương tiện dạy học: sgv, sgk, trình chiếu powerpoint, chuẩn kiến thức kĩ năng
10.
2.Học sinh: Trả lời các câu hỏi đã chuẩn bị ở bước 2, trình bày ý kiến về các vấn đề
liên quan, xử lí tình huống nâng cao kĩ năng sống.
C. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
1.Ổn định :
2.Kiểm tra bài cũ:
3. Bài mới:
Hoạt động của thầy và trò
Kiến thức cơ bản cần đạt
*HĐ1: GV dẫn vào bài
Thưởng thức tiết mục hát dân ca nhằm tạo
hứng thú cho người học (Tích hợp câu 1
mà học sinh đã thực hiện ở bước 2)
GV gợi dẫn: Em có nhận xét như thế nào
về phần lời của các bài dân ca?
=>Một số bài ca dao trở thành phần lời của
các bài dân ca dao, lời ca dao thường ngắn,
theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể, ngôn
ngữ gần gũi với lời nói hàng ngày, giàu
hình ảnh so sánh, ẩn dụ và có lối diễn đạt
bằng một số công thức mang đậm sắc thái
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Câu 2: VHDG gồm những đặc trưng
- Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, câu nào?
4,7,9,10 được nhân đôi số điểm.
a.Tính truyền miệng, tính tập thể
Câu 1: Lí giải cách gọi tên VHDG dựa vào
b.Tính truyền miệng, tính cá thể
khái niệm.
Câu 2: Giải thích từng đặc trưng của c.Tính truyền miệng, tính tập thể,
tính thực hành.
VHDG
d. Cả a,b,c
Câu 3: Hoàn thành bảng hệ thống các
thể loại của VHDG?
Câu 3: VHDG có bao nhiêu thể loại? Theo
em, hiện nay thể loại nào đang bị mai một
dần? Vì sao?
=>VHDG có 12 thể loại. Hiện nay các tác
phẩm sân khấu dân gian đang mất dần vị
trí vì xã hội phát triển, có nhiều loại hình
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Truyện Câu
Thơ ca Sân
dân
nói dân dân
khấu
gian
gian
gian
dân
và nhân dân cả nước nói chung.
+ Phân biệt thể loại tục ngữ và và ca dao:
Không chỉ dựa vào hình thức mà còn phải
Câu 5: Tầm vóc sử thi của chiến thắng
dựa vào nội dung văn bản.
Mtao – Mxay thể hiện rõ nhất trong
Câu 5: GV củng cố kiến thức cơ bản: Khái mối quan hệ giữa người anh hùng
niệm sử thi, tóm tắt ngắn gọn bố cục đoạn với ?
trích chiến thắng Mtao – Mxay.
a.Khung cảnh hùng tráng trong lễ ăn
mừng chiến thắng.
b.Hình ảnh kẻ địch thủ
c.Khung cảnh thiên nhiên
d.Các lực lượng siêu nhiên
Câu 6: Hình ảnh này gợi em nhớ đến
Câ câu ca dao nào?
u 6: Liên hệ hình ảnh con cò trong văn học Đáp án:
viết? Thân phận và phẩm chất của người
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 17
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
phụ nữ Việt Nam?
Con cò lặn lội bờ sông
Câu 7 (Tích hợp câu 2 học sinh đã thực Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Đáp án: Nghệ thuật nói lái của người
bình dân.
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 18
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
Câu 9 (Tích hợp câu 2 mà học sinh đã Câu 9: Giải đáp câu đố sau
thực hiện ở bước 2): Nêu đặc điểm của
Nghĩ mình gút mắc nhiều bề
thể loại câu đố? Lấy một số ví dụ đã sưu
tầm?
Sử kinh chẳng thuộc, thơ đề cũng
không
Đáp án: Quả me
Câ
u 10 (Tích hợp câu 3 mà học sinh đã Câu 10: Những hình ảnh sau em liên
thực hiện ở bước 2): Nêu một số loại hình tưởng đến bộ môn nghệ thuật nào?
sân khấu dân gian? Trình bày hiểu biết của
Đáp án: Cải lương
em về bộ môn nghệ thuật cải lương?
+Một số loại hình sân khấu dân gian:
tuồng, chèo, cải lương, múa rối…
+ Cải lương: là loại hình sân khấu phổ
biến ở Nam Bộ, hình thành trên cơ sở
dòng nhạc đờn ca tài tử và dân ca miền
đồng bằng sông Cửu Long, ra đời vào
khoảng 1918, trải qua nhiều thăng trầm,
chuẩn bị: Lễ hội Dinh thầy thiếm, Lễ hội
Nghinh Ông…
*HĐ 6: Dặn dò
GV hướng dẫn HS kĩ năng viết văn bản
tổng kết tri thức sau khi học xong bài “Ôn
tập VHDG Việt Nam”
+ Yêu cầu: VBTK cần đầy đủ nội dung
trong phạm vi bài học, trình bày khoa học,
rõ ràng thể hiện sự hiểu biết cá nhân về
VHDG Việt Nam.
+ Nội dung cụ thể: trình bày ở phần phụ
lục tiếp theo.
2.Văn bản tổng kết bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
Văn bản cần đảm bảo một số nội dung:
1.Tìm hiểu chung về VHDG:
a.Khái niệm: VHDG là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng được tập
thể sáng tạo, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho những sinh hoạt khác nhau trong
đời sống cộng đồng.
b.Đặc trưng:
b.1.VHDG là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng (tính truyền miệng):
Do chưa có chữ viết, nên tác phẩm VHDG được sáng tác, tồn tại, lưu hành bằng
phương thức truyền miệng.
- VHDG là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng: Thực chất của tính
truyền miệng là sự nghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng miệng cho người
khác. VHDG thường được truyền miệng theo không gian (từ vùng này qua vùng
khác) và theo thời gian (từ đời trước đến đời sau)
b.2.VHDG là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể ( tính tập thể): lúc đầu do một
người khởi xướng, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận. Sau đó, những
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
=>Đa số những câu có môtíp chiều chiều người ta sáng tác ra để gửi gắm nỗi nhớ,
niềm thương, nghiêng hẳn về mặt tình cảm.
b.Theo em, cần làm gì để gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của VHDG?
Học sinh có thể trả lời theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các nội dung:
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 21
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
-Tìm hiểu về các thể loại VHDG, có sự so sánh giữa các vùng miền để hiểu được
nét riêng và giá trị của VHDG.
- Yêu thích các loại hình sân khấu dân gian, tham gia các hoạt động ngoại khóa dân
gian do nhà trường và địa phương tổ chức.
- Sưu tầm các tác phẩm dân gian tại địa phương.
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 22
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 NXB GD, 2008.
2. Sách giáo viên Ngữ Văn 10 NXB GD, 2008.
3. Sách chuẩn kiến thức kĩ năng 10 NXB GD , 2010.
4. Vũ Văn Tảo (4/2001), Học và dạy cách học, Tạp chí tự học.
Phương pháp giúp học sinh tự nghiên cứu bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam”
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
XẾP LOẠI:……….
TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Nguyễn Thị Dung - Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Trang 25