`Lời mở đầu
Mỗi doanh nghiệp đợc coi là một tế bào của nền kinh tế. Hoạt động sản xuất
kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp là việc thực hiện những công đoạn của một quá
trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng
nhằm mục đích sinh lợi. Để đạt đợc mục tiêu đó trong hoạt động của mình các doanh
nghiệp cần chú trọng hơn đến chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp mình.
Muốn sản xuất ra những sản phẩm tốt, chất lợng cao và giá thành hạ thì doanh
nghiệp cần phải quan tâm đúng mức vào các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà
nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ là vấn đề trớc mắt, đó là yếu tố cơ bản của quá
trình sản xuất. Hơn thế nữa, hiện nay nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng đang đợc ngời
dân ở khắp thế giới quan tâm mà nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ là một trong
những vấn đề không thể thiếu. Vì vậy, việc quản lý vật liệu và công cụ dụng cụ chặt
chẽ từ khâu thu mua, vận chuyển đến việc dự trữ và sử dụng tiết kiệm nhất và sẽ cho ra
những sản phẩm tốt nhất. Tuy nhiên, để có đợc hiệu quả cao nhất cần phải có sự theo
dõi và giám sát của kế toán. Có nghĩa là kế toán phải ghi chép đầy đủ, chính xác và
khoa học về những biến động phát sinh liên quan đến vật liệu, công cụ dụng cụ.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc ta hiện nay, việc áp dụng tin học (chủ yếu là
phần mềm ứng dụng MS Excel)vào công tác kế toán ở tất cả các doanh nghiệp đang
ngày càng phát triển vì nó giúp ích rất nhiều cho kế toán trong việc tính toán, ghi chép
sổ sách, lập các báo cáo, quản lý nguồn kinh phí bằng MS Excel. Mặt khác nó lại
không đòi hỏi ngời sử dụng phải có kỹ năng lập trình cao cấp mà còn giảm đợc thời
gian cho kế toán hơn khi phải thực hiện bằng tay.
Từ những nhận thức trên nên em chọn đề tài "Xây dựng công cụ hạch toán kế
toán vật liệu, công cụ dụng cụ bằng phần mềm ứng dụng MS Excel".
Kết cấu của đề tài gồm:
Phần I: Những vấn đề cơ bản về hạch toán kế toán vật liệu và công cụ dụng cụ.
Phần II: Khái quát chung về xí nghiệp khai thác vật t - phế liệu và tình hình
hạch toán kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ tại xí nghiệp.
Phần III: Giới thiệu chung về phần mềm ứng dụng MS Excel.
Phần IV: Phân tích thiết kế hệ thống cơ sở dữ liệu của hạch toán vật liệu và công
Công cụ dụng cụ hay vật liệu đều có đặc điểm riêng nhng chúng đợc mua sắm
và lu trữ bằng nguồn vốn lu động, là tài sản dự trữ luôn luôn biến động không ngừng.
Do đó nếu không theo dõi, quản lý chặt chẽ thì nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ sẽ
thất thoát lãng phí, cần quản lý chặt chẽ ở mọi khâu từ khâu thu mua, bảo quản và sử
dụng.
II. Nhiệm vụ hạch toán của vật liệu và công cụ dụng cụ:
Xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ và vị trí của kế
toán trong hệ thống quản lý kinh tế, hạch toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ có
các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận
chuyển, bảo quản nhập xuất tồn vật liệu. Tính giá thực tế của vật liệu đã mua. Kiểm tra
tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu về số lợng, chất lợng, chủng loại, giá cả,
thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ vật liệu trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
- áp dụng đúng đắn phơng pháp hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ sao cho
phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đặc điểm
với từng vật liệu, công cụ dụng cụ. Hớng dẫn kiểm tra phòng ban, phân xởng trong đơn
vị thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu của vật liệu.
- Kiểm tra việc chấp hành, bảo quản, dự trữ, sử dụng vật liệu, công cụ dụng
cụ. Kiểm tra quá trình nhập, xuất vật liệu, phát hiện ngăn ngừa và đề xuất biện pháp xử
lý vật liệu thừa, thiếu, ứ đọng, kém phẩm chất để động viên đúng mức nguồn vốn nội
bộ, tăng nhanh tốc độ chuyển vốn. Tính toán chính xác số lợng, giá trị vật liệu thực tế
đa vào sử dụng và tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh. Phân bổ chính xác giá
trị vật liệu đã tiêu hao vào các đối tợng sử dụng.
- Tham gia kiểm kê và đánh giá vật liệu, công cụ dụng cụ theo chế độ đã quy
định. Lập các báo cáo về vật liệu, công cụ dụng cụ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
của nó trong quá trình sản xuất kinh doanh.
III. Phân loại, đánh giá vật liệu và công cụ dụng cụ:
1)Phân loại vật liệu, công cụ dụng cụ:
Để tạo ra sản phẩm doanh nghiệp phải sử dụng một khối lợng vật liệu, công cụ
Căn cứ vào nguồn nhập vật liệu:
Vật liệu đợc chia ra thành các loại:
- Vật liệu góp vốn liên doanh: Do nhiều đơn vị khác thông qua hợp đồng góp
vốn liên doanh đem đến doanh nghiệp nguyên vật liệu nh đã ký kết.
- Vật liệu mua ngoài: Là toàn bộ nguyên vật liệu doanh nghiệp bỏ vốn ra mua
bên ngoài để phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
- Vật liệu tự chế biến: Tuỳ theo yêu cầu của đơn vị mình doanh nghiệp tự sản
xuất ra những vật liệu cần thiết để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên việc phân loại vật liệu nh nêu trên vẫn mang tính tổng quát mà cha đi
vào từng loại, từng thứ vật liệu cụ thể để phục vụ cho việc quản lý chặt chẽ và thống
nhất trong từng doanh nghiệp.
Để phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý chặt chẽ và thống nhất các loại vật liệu ở
các bộ phận khác nhau, đặc biệt là phục vụ cho yêu cầu xử lý thông tin trên máy tính
thì việc lập bảng danh điểm vật liệu là hết sức cần thiết. Trên cơ sở phân loại vật liệu
theo công dụng nh nêu trên, tiến hành xác lập danh điểm theo loại, nhóm, thứ vật liệu.
Cần phải quy định thống nhất tên gọi, ký hiệu, mã hiệu, quy cách, đơn vị tính và giá
hạch toán của từng vật liệu.
b) Phân loại công cụ dụng cụ:
Công cụ dụng cụ có nhiều thứ, nhiều loại, có loại nằm trong kho, có loại đang
dùng. Loại đang dùng lại nằm rãi rác ở các bộ phận, phân xởng: Công cụ dụng cụ, bao
bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê. Theo quy định hiện hành những t liệu lao động sau
đây đợc hạch toán là công cụ dụng cụ:
- Các loại bao bì dùng để đựng vật liệu, hàng hoá trong quá trình thu mua, bảo
quản tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.
- Các bao bì kèm theo hàng hoá có tính tiền riêng.
- Những dụng cụ bằng thuỷ tinh, sành sứ, giày dép, áo quần.v.v..
Từ cách phân loại trên đòi hỏi kế toán phải nắm vững đặc điểm sử dụng, hình
thành, vận chuyển để phân loại chi tiết từng nhóm, từng thứ, quy cách... phù hợp với
yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
2)Tính giá vật liệu, công cụ dụng cụ:
b) Tính giá thực tế vật liệu và công cụ dụng cụ xuất kho:
Có thể sử dụng một trong các phơng pháp sau:
- Phơng pháp tính giá thực tế bình quân: Có thể tính giá thực tế bình quân cuối
tháng hoặc theo giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập tuỳ vào phơng pháp kiểm kê
mà doanh nghiệp áp dụng. Nếu tính giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập thì sau một
lần nhập phải tính lại đơn giá thực tế bình quân.
Trờng hợp tính giá thực tế bình quân cuối tháng:
Ta có công thức:
Cho nên:
- Phơng pháp tính theo giá thực tế nhập trớc, xuất trớc (phơng pháp FIFO):
Nghĩa là giá vật liệu nhập trớc sẽ đợc xuất dùng cho sản xuất kinh doanh trớc. Phải
xuất hết giá trị vật liệu nhập vào trớc mới xuất giá trị vật liệu nhập vào sau. Khi sử
dụng phơng pháp này thì nếu giá trị vật liệu mua vào ngày càng tăng thì vật liệu tồn
kho có giá trị lớn, nghĩa là chi phí vật liệu trong giá thành sản phẩm sẽ thấp và lãi gộp
sẽ tăng lên.
=
Trị giá thực tế NL,
VL tồn đầu kỳ.
+
Tổng giá trị thực tế NL,
VL nhập trong kỳ.
Số lợng NL, VL tồn
đầu kỳ.
+
Tổng số lợng NL, VL
nhập trong kỳ.
Đơn giá thực tế
bình quân
Giá trị thực tế của
NL, VL xuất
giá trị lẫn hiện vật. Kế toán phải theo dõi từng thứ, từng chủng loại, quy cách không
chỉ theo từng kho mà cả phòng kế toán. Tất cả các doanh nghiệp đều tuân theo nguyên
tắc:
- kho: Theo dõi vật liệu, công cụ dụng cụ về mặt số lợng trên thẻ kho.
- bộ phận kế toán: Theo dõi vật liệu, công cụ dụng cụ về mặt số lợng, giá trị
trên thẻ (sổ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ.
1) Phơng pháp thẻ song song:
Giá thực tế của
CCDC, VL xuất kho
trong kỳ
=
Giá hạch toán của
CCDC, VL xuất kho
trong kỳ.
ì
H
H =
Hệ số giữa giá thực
tế và giá hạch toán của
VL, CCDC
=
Giá thực tế của VL,
CCDC tồn đầu kỳ.
Giá hạch toán VL,
CCDC tồn đầu kỳ.
+
+
Giá thực tế của VL,
CCDC nhập trong kỳ.
Giá hạch toán VL,
kho
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Thẻ (sổ) kế toán
chi tiết vật tư.
Bảng
tổng
hợp
nhập
xuất tồn
kho
Tuy đơn giản nhng phơng pháp này khối lợng ghi chép nhiều lại dồn vào cuối
tháng nên việc hạch toán và báo cáo bị chậm trễ.
3) Phơng pháp sổ số d:
- kho: Định kỳ thủ kho phải tập hợp các chứng từ gốc từ nhập, xuất kho
trong kỳ phân loại từng nhóm vật t theo quy định. Căn cứ vào kết quả phân loại chứng
từ, lập phiếu giao nhận chứng từ trong phiếu sẽ ghi rõ số lợng, số hiệu các chứng từ của
từng nhóm, loại vật liệu. Sau khi lập xong kèm các phiếu nhập, xuất giao cho phòng kế
toán. Đến cuối tháng căn cứ vào thẻ kho ghi số lợng vật t tồn kho của từng danh điểm
vật t vào sổ số d. Sổ số d do phòng Kế Toán mở cho từng kho và dùng cho cả năm. Sau
đó chuyển cho phòng kế toán kiểm tra và tính thành tiền. Kế toán vật t phải thờng
xuyên xuống kho để hớng dẫn và kiểm tra việc ghi chép vào thẻ kho của thủ kho.
- phòng kế toán: Định kỳ khi nhận đợc chứng từ nhập, xuất kho vật liệu ở
kho do thủ kho chuyển đến kế toán kiểm tra đối chiếu, phân loại ghi giá hạch toán và
tính thành tiền cho từng chứng từ. Căn cứ vào phiếu giao nhận chứng từ để ghi số tiền
vào bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho vật liệu. Bảng này nhập cho từng kho mỗi kho một
tờ.
Cuối tháng tính ra số tồn kho bằng tiền trên bảng luỹ kế. Số liệu này đợc dùng
để đối chiếu với sổ số d và đối chiếu với kế toán tổng hợp theo từng nhóm vật t.
vật t trên sổ kế toán có thể xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong niên độ kế toán. Về
nguyên tắc số liệu tồn kho thực tế luôn luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán.
Phơng pháp này thờng áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất, đơn vị thơng
nghiệp kinh doanh các mặt hàng có giá trị lớn.
b) Phơng pháp kiểm kê định kỳ:
Phơng pháp này không theo dõi một cách thờng xuyên, liên tục trên sổ kế toán
tình hình nhập, xuất, tồn vật t mà chỉ phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
Khi áp dụng phơng pháp này thì toàn bộ các khoản mua hàng hoá, vật liệu đợc phản
ánh vào tài khoản mua hàng. Trong kỳ các khoản xuất kho vật liệu đa vào sử dụng
hoặc bán hàng không phản ánh vào tài khoản tồn kho mà cuối kỳ tiến hành kiểm kê số
lợng vật t, hàng hoá còn lại, xác định giá thực tế ghi vào các tài khoản hàng tồn kho
đồng thời căn cứ vào giá trị vật t, hàng hoá tồn kho để xác định giá trị vật t, hàng hoá
xuất kho trong kỳ làm căn cứ ghi vào sổ kế toán mua hàng và giá trị hàng xuất.
Phơng pháp này đợc áp dụng ở doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật t, hàng
hoá với quy cách, mẫu mã khác nhau, giá trị thấp, hàng hoá, vật t xuất dùng hoặc bán
thờng xuyên. Để áp dụng phơng pháp này đòi hỏi phải tăng cờng vật t tại bến, bãi,
quầy, kho.
2) Các tài khoản sử dụng:
Căn cứ vào việc lựa chọn phơng pháp hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ mà sử
dụng các tài khoản phù hợp với việc hạch toán tổng hợp vật liệu, công cụ dụng cụ.
- Phơng pháp kiểm kê định kỳ sử dụng tài khoản 611.
Kết cấu của TK 611:
TK 611 không có số d cuối kỳ.
- Phơng pháp kê khai thờng xuyên sử dụng tài khoản:
Trị giá hàng
xuất
=
Tổng trị giá
hàng nhập
hoặc đã chuyển giao thẳng cho
khách hàng.
- Trị giá thực tế của NVL nhập kho
do mua ngoài, tự chế, nhận góp
vốn liên doanh.
- Trị giá NVL thừa phát hiện khi
kiểm kê.
SDCK: Trị giá thực tế của NVL
tồn kho.
TK 152: Nguyên vật liệu
- Giá trị NVL xuất kho để sản xuất,
để bán, thuê ngoài gia công chế
biến
- Trị giá NVL trả lại người bán
hoặc người bán giảm giá.
- Trị giá NVL thiếu hụt khi kiểm
kê.
TK 151: Hàng mua đang đi đờng.
3) Hạch toán nhập xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ:
Trình tự, thủ tục luân chuyển chứng từ:
a) Trình tự, thủ tục luân chuyển chứng từ nhập kho:
Kế toán sử dụng các chứng từ chủ yếu sau để hạch toán nhập kho vật liệu, công
cụ dụng cụ:
- Hoá đơn GTGT.
- Hoá đơn bán hàng.
- Biên bản kiểm nghiệm vật t.
- Phiếu nhập vật t.
- Phiếu di chuyển vật t trong nội bộ.
- Thẻ kho.
Trờng hợp mua ngoài: Phòng cung ứng mở sổ theo dõi tình hình thực hiện kế
- Thẻ kho.
- Hoá đơn GTGT.
- Hoá đơn bán hàng.
Tuỳ theo đặc điểm yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, các doanh nghiệp có
thể sử dụng thêm các chứng từ hớng dẫn nh phiếu xuất kho vật t theo hạn mức ...
Trờng hợp vật liệu xuất bán: Theo lệnh của giám đốc phòng cung ứng vật t lập
Hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng thành 3 bản. Sau khi giám đốc duyệt 3 bản
trên kế toán trởng ký duyệt và giao cho khách hàng, căn cứ vào phiếu xuất kho thủ kho
xuất kho vật liệu và ký vào 3 bản. Một bản giao cho khách hàng, một bản thủ kho
chuyển lên phòng cung ứng, một bản sau khi thủ kho vào thẻ kho sẽ chuyển lên phòng
kế toán.
Trờng hợp vật liệu xuất dùng cho sản xuất kinh doanh trong đơn vị: Khi có
nhu cầu lĩnh vật liệu, bộ phận có nhu cầu lập giấy đề nghị lĩnh vật liệu. Giấy này đợc
chuyển lên phòng cung ứng sau khi kiểm tra hợp lý, hợp lệ của giấy, đề nghị phòng
cung ứng lập giấy xuất vật liệu thành 3 bản. Căn cứ vào chứng từ này thủ kho xuất kho
và ghi số thực xuất vào phiếu cùng với ngời nhận ký vào 3 bản phiếu xuất. Một bản ng-
ời nhận giữ, một bản thủ kho giữ làm căn cứ để ghi vào thẻ kho và chuyển lên phòng
kế toán ghi vào sổ, bản còn lại chuyển lên phòng cung ứng.
Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Căn cứ vào hợp đồng thuê ngoài
gia công để lập Phiếu xuất kho vật t ghi rõ thuê ngoài gia công thành 3 bản, một bản
thủ kho giữ làm căn cứ để ghi vào thẻ kho và chuyển lên phòng kế toán để ghi vào sổ,
bản còn lại chuyển lên phòng cung ứng.
Sơ đồ hạch toán tổng hợp nhập xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ:
- Phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Giá
t.toán
Nhập kho NVL, CCDC
Thuế GTGT
được khấu trừ
TK
VL kiểm kê phát hiện thừa
Đánh giá chênh lệch
Tk 111, 112, 141, 331
- Phơng pháp kiểm kê định kỳ:
4) Hạch toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Để hạn chế bớt những thiệt hại có thể xảy ra trong kinh doanh, doanh nghiệp
phải thực hiện lập dự phòng giảm giá vật t, hàng hoá. Lập dự phòng là chuyển chi phí
phát sinh các năm sau vào chi phí năm này.
- Phơng pháp lập dự phòng:
Doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình giảm giá, số lợng tồn kho thực tế của
từng vật t, hàng hoá để xác định mức dự phòng.
Ta có công thức:
Tk 611
Tk 133
Tk 621
Tk 152, 153
Kết chuyển giá trị NVL
tồn đầu kỳ
Tk 111, 112
Tk 138, 331
Nếu thu được
tiền hàng
Trả lại hàng không đúng quy
cách hoặc được giảm giá
Tk 152, 153
Giá trị thực tế NVL xuất dùng cho
xuất dùng cho sản xuất kinh doanh
Giá
mua
Giá thực tế NVL mua
sổ kế toán.
Giá thực tế
trên thị trường
tại thời điểm
31/12.
-
Mức dự phòng giảm
giá VT, HH cho
năm kế hoạch.
Công ty vật t kỹ thuật ra đời ngày 01/10/1975. Đến năm 1980 theo quy định
chung của ngành, sau đó bộ vật t có quyết định số 316/VTQĐ chuyển thành Xí nghiệp
khai thác vật t và phế liệu.
Xí nghiệp khai thác vật t và phế liệu là đơn vị trực thuộc Công ty vật t tổng hợp
Đà Nẵng. Tháng 11/1989, chủ tịch tỉnh QN - ĐN ký quyết định thành lập và cho phép
xí nghiệp đợc hạch toán độc lập, có đầy đủ t cách pháp nhân về mặt nhà nớc và thuộc
tỉnh quản lý.
Xí nghiệp khai thác vật t và phế liệu đợc sở Thơng Mại Du Lịch trực tiếp quản
lý. Ngày 31/12/1993, sở Thơng Mại Du Lịch ra quyết định số 632/TCTM để tổ chức
sắp sếp lại đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc công ty vật t tổng hợp Đà Nẵng đối
với Xí nghiệp khai thác vật t và phế liệu.
Xí nghiệp khai thác vật t và phế liệu là một doanh nghiệp nhà nớc, vừa hoạt
động sản xuất vừa hoạt động thơng mại, trong đó hoạt động thơng mại là chủ yếu.
Năm 1989, Xí nghiệp đợc UBND ký quyết định cho phép hoạt động kinh doanh
độc lập các mặt hàng nh: sắt, kim khí, xi măng, xăng dầu. Năm 1993 Xí nghiệp tổ chức
sản xuất sắt phi.
Từ năm 1993 cho đến nay, mặc dù xí nghiệp đi vào sản xuất với quy mô nhỏ,
dây chuyền công nghệ không hiện đại, vốn kinh doanh ít, đội ngũ cán bộ chuyên môn
còn hạn chế lại chịu sự chi phối và cạnh tranh gay gắt của thị trờng. Song cán bộ công
nhân viên đã nổ lực phấn đấu để vơn lên với thái độ làm việc nghiêm túc, chủ động
chấp nhận thử thách, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng tốt hơn, đáp
bàn thành phố. Số lợng tiêu thụ ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên cũng không ít.
Đặc biệt, ở quý I/2003 xí nghiệp đã xuất khẩu sắt xây dựng sang thị trờng Lào với trị
giá khoảng 400.000.000 đồng. Tuy đó là con số cha cao so với các doanh nghiệp khác
nhng đây cũng là động cơ tích cực để xí nghiệp hoàn thiện và tiến nhanh hơn vào
những năm kế tiếp.
b) Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của xí nghiệp:
Quá trình sản xuất tại xí nghiệp trải qua 2 giai đoạn:
- Từ sắt tấm công nghiệp, gia công chế biến phôi.
- Từ phôi làm nguyên liệu chính sản xuất ra sắt phi.
Quy trình:
- Vật liệu là sắt phế liệu tận dụng đợc xí nghiệp tổ chức thu mua về nhập kho
để sản xuất, chế tạo ra sản phẩm. Xí nghiệp dùng phơng pháp cán nóng, nung phôi ở
nhiệt độ 1.200 - 1.400 độ C, cho phôi qua máy cán nhiều lần để tạo ra thành phẩm, cụ
thể qua các bớc sau:
+ Tạo phôi: vật liệu, sắt tấm tận dụng có đủ độ dài và dày cần thiết, sau khi
xuất kho đa vào máy cắt thành từng miếng theo yêu cầu của từng loại sắt phi cần sản
xuất. Ngoài ra có thể sử dụng gió đá nếu trong trờng hợp máy không thể tạo phôi đợc.
+ Sau khi phôi đợc tạo xong phải nung ở nhiệt độ 1.200 - 1.400 độ C dùng
than hoặc dầu đen để nung và dùng quạt điện để quạt gió vào lò, lúc này sắt đã đợc
nung đỏ rồi đa sang máy cán.
+ Sau khi phôi đã dài và nhỏ theo đúng yêu cầu,đa sang máy định hình phôi sẽ
cho ra sản phẩm.
+ Công việc cuối cùng là dùng thủ công để cắt đầu, đuôi, hoàn tất sản phẩm,
bó buộc, nhập kho rồi đa ra tiêu thụ.
2) Tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp:
a) Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp:
Nguyên vật liệu
Tiếp nhận
Phân loại
Lò nung