TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA NGOẠI NGỮ
................ ..............
BÀI GIẢNG
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC
(HỆ CAO ĐẲNG - LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Sưu tầm và biên soạn: TS. Võ Thị Dung
QUẢNG BÌNH, 2016
1
LỜI NÓI ĐẦU
Bài giảng học phần “Phương pháp nghiên cứu khoa học” được biên soạn
dành cho sinh viên cao đẳng Tiếng Anh với quan điểm “Nghiên cứu khoa học là
đi tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết”. Logic của tư duy nghiên cứu để
tìm kiếm “cái chưa biết về cơ bản là hoàn toàn như nhau, bất kể đó là khoa học
tự nhiên hay khoa học xã hội”.
Mục tiêu chính của bài giảng là sinh viên trình bày được các phương pháp
nghiên cứu khoa học; lựa chọn và vận dụng hợp lý các phương pháp nghiên cứu
khoa học vào việc tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học cụ thể; chỉ ra
được các phương pháp nghiên cứu trong đề tài của sinh viên khác thực hiện, từ
đó có những phối hợp linh hoạt, hiệu quả trong hoạt động nghiên cứu nhóm.
Hy vọng bài giảng này sẽ mang lại những kiến thức bổ ích và những thông
tin thiết thực cho sinh viên cũng nhưcho những người bắt đầu nghiên cứu khoa
học.
Tác giả
1. Hướng dẫn xây dựng đề cương
2. Trình bày kết quả số liệu nghiên cứu
Tài liệu tham khảo
3
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG
I. KHÁI NIỆM KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1 Khoa học
Thuật ngữ “khoa học” xuất hiện từ rất sớm, phản ánh một hình thức hoạt
động sáng tạo đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong
đời sống xã hội của con người.
Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “khoa học”. Có thể
kể đến một số định nghĩa tiêu biểu sau:
“Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy về những quy
luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức này
hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.”
“Khoa học, nói chung nhất, là một hoạt động có tính chất hệ thống, thông
qua việc nghiên cứu, nhằm tìm kiếm ra những kiến giải mang tính khái quát,
chính xác và khách quan hóa được hiện thực thực.”
“Khoa học là sự hiểu biết của loài người về thế giới tự nhiên, về sự phát
sinh, vận động phát triển và diệt vong của nó cũng như các quy luật của tự
nhiên, xã hội và tư duy.”
Chung quy lại ta có thể đưa ra một định nghĩa tương đối tổng quát như
sau: Khoa học là một hệ thống tri thức không ngừng phát triển trên cơ sở thực
tiễn xã hội [1] về những thuộc tính của tự nhiên, xã hội, tư duy cùng những quy
luật khách quan trong sự tồn tại và phát triển của chúng [1], nghĩa là những tri
thức này do con người tích luỹ được nhờ các phương pháp nhận thức đúng đắn,
được diễn đạt bằng những khái niệm xác thực và sự đúng đắn của chúng được
Lý thuyết khoa học (theory) hay còn gọi là lý luận khoa học là hệ thống
luận điểm về mối liên hệ giữa các sự vật hoặc hiện tượng. Lý thuyết khoa học
được hình thành nhờ các quan sát hoặc thực nghiệm được tiến hành trong hoạt
động nghiên cứu khoa học; cũng có thể hình thành nhờ tìm được mối liên hệ
giữa các lý thuyết đã có sẵn trước đó.
1.5 Nghiên cứu khoa học
Trong thời kỳ phát triển của các ngành và chuyên ngành, khái niệm về
NCKH có khác nhau: “NCKH là quá trình thu nhận kiến thức thông qua việc sử
dụng các phương pháp được công nhận để thu thập, phân loại, phân tích và diễn
giải các dữ liệu.” (Fortin, 1996)
“NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức…đạt được từ các thí nghiệm NCKH
để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội
để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.”
Nhìn chung, NCKH là hoạt động nhằm làm rõ sự vật, hiện tượng về bản
chất, sự vận dộng và quy luật chi phối, kiểm soát hoặc cải tạo sự vật, hiện tượng
đó thông qua mô tả, phân tích để nhận thức, giải thích bản chất các quy luật của
các sự vật và hiện tượng và can thiệp làm thay đổi hay kiểm soát sự vật.
5
Nghiên cứu khoa học được phân thành 03 nhóm: nghiên cứu cơ bản,
nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai. Mỗi loại nghiên cứu đều có các
nguyên tắc hoặc nguyên lý cần tuân thủ.
1.6 Phương pháp nghiên cứu khoa học (PPNCKH)
Phương pháp là tập hợp những biện pháp, những thao tác dựa trên những
nguyên tắc nhất định được sử dụng trong một hoạt động cụ thể, nhằm đạt tới
những mục đích nhất định nào đó. Phương pháp NCKH là cách thức mà theo đó
một hoạt động nghiên cứu khoa học được tiến hành. Theo Lê Huy Bá (2007)
cơ sở, xuất phát điểm cho việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu. Những
luận điểm cơ bản ấy được gọi là phương pháp luận nghiên cứu khoa học.
PPLNCKH là một lý thuyết tổng quát về các phương pháp và phương tiện nhận
thức dùng để đạt được các tri thức khoa học và công nghệ mới. Nó không phải là
một tập hợp đơn giản các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác nhau. PPLNCKH
là một bộ phận của Nhận thức luận - lĩnh vực nghiên cứu các quy luật tổng quát
của quá trình nhận thức nói chung. Nó khác với Logic khoa học - là lĩnh vực
phân tích cấu trúc của tri thức. Nó cũng khác với Khoa học luận - là lĩnh vực
nghiên cứu tổng hợp các hệ khoa học nhằm dự báo chính sách khoa học, củng cố
tiềm lực khoa học và nâng cao hiệu suất hoạt động khoa học, thông qua các biện
pháp tác động về mặt tổ chức và xã hội.
Phương pháp nghiên cứu khoa học (NCKH) là môn học bắt buộc đối với
sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh nhằm giúp sinh viên có những kiến thức,
những luận cứ cơ bản khi viết đề cương nghiên cứu khoa học, viết báo cáo khoa
học cũng như những phương pháp sử dụng tài nguyên mở trên Internet hay truy
cập tài liệu từ thư viện nhằm phục vụ cho quá trình tự học, tự nghiên cứu hoặc
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Môn học này giúp sinh viên hoàn thành các bài
viết thu hoạch, báo cáo và thuyết trình trước lớp cũng như lập kế hoạch cho quá
trình nghiên cứu sau khi ra trường.
II. ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Khái niệm đề tài
Đề tài nghiên cứu là một hình thức tổ chức NCKH, trong đó có một nhóm
nghiên cứu cũng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu có thể từ
hai hoặc nhiều hơn hai người.
Đề tài được lựa chọn xuất phát từ một vấn đề nghiên cứu. Sau khi đã xác
định được vấn đề cần nghiên cứu, người nghiên cứu phải đặt tên đề tài cho mình.
Tên đề tài rất quan trọng. Nó là bộ mặt của tác giả, thể hiện tư tưởng khoa học
của tác giả.
Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất
thể thì vẫn được xem có tư tưởng khoa học); Nghiên cứu về…; Một số nghiên
cứu bước đầu về…; Một số vấn đề về…
+ Hạn chế lạm dụng những cụm từ chỉ mục đích để đặt tên đề tài. Cụm từ chỉ
mục đích là những cụm từ mở đầu bằng những từ để, nhằm, góp phần…do
không làm rõ được nội dung thực tế cần làm. Ví dụ: (…) nhằm nâng cao chất
lượng…, (…) góp phần vào…
+ Tên đề tài sẽ không đạt với những cụm từ “Cơ sở lý luận và thực tiễn…”, hoặc
“Cơ sở khoa học và thực tiễn…” bởi vì đương nhiên nghiên cứu nào cũng phải
dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn.
Sau đây là một số ví dụ cụ thể:
TT
1
Tên đề tài
Lĩnh vực
Nghiên cứu các giải pháp
thực hiện kế hoạch hóa gia
đình dưới góc nhìn công tác
xã hội ở một số xã bãi ngang,
tỉnh Quảng Bình
Kinh tế
XH-NV
Mục tiêu
Kết quả và sản phẩm
XH-NV
4
Nghiên cứu chế tạo thủy tinh
Borate đồng pha tạp Ce, Tb
ứng dụng trong chế tạo LED
trắng
Tự nhiên
Kỹ thuật
5
Nghiên cứu cấu trúc và tính
chất của một số hệ phức kim
loại chuyển tiếp của Ni(0),
Pd(II) chứa phối tử tetrylone,
Tự nhiên
thực hiện kế hoạch hóa
gia đình.
- Giảng dạy cho sinh
viên các chuyên ngành
có liên quan đến dân số
- Phát triển bền vững về dân và kế hoạch hóa gia
số trong mối quan hệ với kinh đình.
tế - xã hội ở một số xã bãi - Các giải pháp, mô
ngang, tỉnh Quảng Bình.
quang của vật liệu (hấp thụ, các nồng độ tạp khác
huỳnh quang..).
nhau để thu được các
- Nghiên cứu quá trình truyền mẫu thủy tinh có hiệu
năng lượng giữa các ion tạp suất phát quang và vùng
trong trường thủy tinh borate.
phổ phát quang như
mong muốn.
-Xây dựng mô hình tính toán - 02 bài báo khoa học
lý thuyết, tạo cơ sở dữ liệu về đăng
tạp chí trong
cấu trúc và tính chất của các nước.
phức chứa ligands E(PH3)2 , - Các kết quả lý thuyết
9
tetrylene bằng phương pháp
hóa học lượng tử
làm cơ sở dữ liệu cho
các nghiên cứu thực
nghiệm, đồng thời mô
hình tính toán đưa ra sẽ
được áp dụng cho các
tính toán về cấu trúc và
tính chất của các phức
với ligands và phối tử
tương tự khác.
- Xác định các tiêu chí chất - 02 bài báo khoa học
toán.
- Nghiên cứu sự thay đổi về - 01 bài báo khoa học
mặt tỷ lệ các loại tế bào và sự đăng trên tạp chí quốc
phân bố của chúng trong đảo tế.
tụy ở bệnh nhân tiểu đường. - Đưa ra mô hình Vật lý
Ảnh hưởng của sự thay đổi cho sự tiết hoóc môn
này đến quá trình điều hòa của các tế bào trong đảo
nồng độ đường huyết.
tụy.
NHEx với các hợp chất
Ni(CO)2 (E= C, Si, Ge, Sn,
Pb), PdCl2 (E= C, Si, Ge)
nhằm định hướng cho các
nghiên cứu thực nghiệm trong
tương lai.
6
Nghiên cứu đánh giá khả
năng phú dưỡng của một số
hồ trên địa bàn thành phố
Đồng Hới, Quảng Bình
Kỹ thuật
Môi trường
7
Nghiên cứu sự tồn tại nghiệm
yếu của một lớp bài toán biên
10
Nghiên cứu, tính chọn thông
số kỹ thuật của tuabin phù
hợp với tốc độ gió tại khu
vực trung trung bộ nhằm đạt
sản lượng điện tối ưu
Kỹ thuật
11
Nghiên cứu cách tính toán
sàn không dầm và tối ưu
phạm vi áp dụng một số giải
Kỹ thuật
- Lập trình mô phỏng sự
phụ thuộc của nồng độ
hoóc môn tuyến tụy
(insulin, glucagon, và
somatostatin) vào nồng
độ đường huyết ở cá thể
khỏe mạnh và cá thể
mắc bệnh tiểu đường.
- Đề xuất biện pháp
phòng ngừa và điều trị
bệnh tiểu đường hiệu
quả.
cho công tác dạy và học
của giảng viên, sinh
viên ngành kỹ thuật điện
của Trường.
- Chỉ ra được giới hạn vượt - 01 bài báo khoa học
nhịp đối với sàn dầm thông đăng tạp chí trong nước.
thường khi thay đổi các thông - Phát triển sàn không
11
pháp sàn không dầm hiện
nay
12
Dẫn giống và thử nghiệm
nhân giống loài cây Ba Kích
(Morinda officinalis How)
bằng phương pháp giâm hom
từ xã Lăng, huyện Tây
Giang, Quảng Nam nhằm
bảo tồn phục vụ nghiên cứu
tại Trường Đại học Quảng
Bình
số cấu tạo, so sánh với nhóm
sàn công nghệ, đưa ra được hệ
số tương quan giữa các thông
số cấu tạo.
- Dẫn giống loài và thử
nghiệm nhân giống loài Ba
Kích bằng phương pháp giâm
hom phục vụ nghiên cứu và
học tập tại trường ĐHQB.
- Nghiên cứu các đặc điểm
hình thái, đặc điểm sinh học
của cây Ba Kích.
- Hoàn thiện được quy trình
sản xuất giống từ hom phù
hợp với thực tiễn địa phương.
- Xây dựng quy trình sản xuất
giống ếch Thái Lan tại Quảng
Bình, góp phần chủ động
nguồn ếch giống và tạo tiền đề
thúc đẩy nghề nuôi ếch thương
phẩm tại địa phương, tăng
thêm sự lựa chọn cho người
dân trong việc sử dụng diện
tích nuôi trồng thủy sản một
cách có hiệu quả.
- Nhân được giống dế từ tự
nhiên.
- Đánh giá được ảnh hưởng
12
dầm theo một hướng
- 02 bài báo khoa học
đăngtạp chí trong nước.
- Mô hình cho sinh viên
lớp đại học NTTS thực
tập nghề.
- 01 đề tài NCKH của
sinh viên.
- Báo cáo phân tích và
quy trình kỹ thuật sản
xuất giống ếch tại
Quảng Bình.
- 01 bài báo khoa học
đăng tạp chí trong nước.
- 01 đề tài sinh viên
chất thịt dế nuôi thương
phẩm tại Trường Đại học
Quảng Bình
của các loại thức ăn khác nhau
đến khả năng sinh sản, sinh
trưởng của dế.
- Đánh giá được ảnh hưởng
của mùa vụ đến sinh sản, sinh
trưởng của dế và hướng khắc
phục.
- Lựa chọn được các loại thức
ăn phù hợp với sinh sản, sinh
trưởng của dế.
dụng để xây dựng phần mềm - Xây dựng phần mềm
hỗ trợ các công tác chuyên và hình thành được cơ
môn tại TTHL như: tìm kiếm sở dữ liệu cho toàn bộ
thông tin, quản lý bạn đọc, các tài liệu đã được xử
quản lý tài liệu, thống kê, báo lý tại TTHL Trường Đại
cáo, mượn, trả tài liệu ...
học Quảng Bình.
- Đánh giá sơ bộ thành phần
hóa học, hoạt tính sinh học
nhằm định hướng tìm kiếm
các chất có hoạt tính sinh học
cao từ các dịch chiết thu được.
15
Nghiên cứu thành phần hóa
học và hoạt tính sinh học của
cây An điền hoa rộng
(Hedyotis ampliflora) ở miền
Trung, Việt Nam
Kỹ thuật
16
Ứng dụng mã nguồn mở
KOHA xây dựng phần mềm
Quản trị thư viện tại Trung
tâm Học liệu Trường Đại học
Quảng Bình
mới.
Hỗ trợ cập nhật nhật ký sửa
chữa/điều chuyển: Hệ
thống giúp lưu vết nhật ký
sửa chữa và điều chuyển
của từng tài sản.
Hỗ trợ bàn giao/điều
chuyển tài sản: Chức năng
bàn giao dùng cho các tài
sản mới được nhập vào hệ
thống. Chức năng điều
chuyển dùng cho các tài
sản đã qua sử dụng.
Hỗ trợ người dùng thống
kê, in ấn theo một số tiêu
chí khác nhau.
Hỗ trợ quản lý danh mục
tài sản.
Quản trị người sử dụng.
- Phần mềm đáp ứng
yêu cầu quản lý hệ
thống cơ sở vật chất của
Trường Đại học Quảng
Bình chạy trên môi
trường Internet.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sự vật hoặc hiện tượng cần được làm rõ bản chất
của quá trình nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu luôn được đặt ra đối với mọi đề tài nghiên cứu. Bởi
vì, mục tiêu nghiên cứu là vô hạn: nghiên cứu trái đất, nghiên cứu Thái dương
hệ, nghiên cứu Ngân hà, vũ trụ…
Phạm vi nghiên cứu được xác định trong một giới hạn nhất định. Có nhiều
loại phạm vi được đặt ra để xem xét. Nhìn chung, có 03 loại phạm vi cần quan
tâm:
a) Phạm vi giới hạn trong tập hợp mục tiêu nghiên cứu.
b) Phạm vi giới hạn về khôn gian nghiên cứu, cụ thể chính là việc lựa chọn quy
mô của mẫu khảo sát.
c) Phạm vi về thời gian của tiến trình sự vật.
Khi người nghiên cứu xác định được một giới hạn hợp lý phạm vi nghiên
cứu thì sẽ tiết kiệm được các nguồn lực phải đầu tư cho nghiên cứu, tiết kiệm
thời gian cho nghiên cứu. Đương nhiên khi xác định giới hạn phạm vi nghiên
cứu, người nghiên cứu phải đảm bảo rằng, kết quả nghiên cứu vẫn trong khuôn
khổ độ tin cậy cần thiết theo yêu cầu của NCKH.
5. Mẫu khảo sát
Bất cứ nghiên cứu nào người nghiên cứu cũng phải dựa trên một số mẫu
khảo sát. Trên thực tế, mẫu khảo sát rất đa dạng.
+ Mẫu khảo sát có thể là một không gian tự nhiên. Ví dụ với đề tài nghiên cứu về
“Cơ cấu cây trồng vùng đồng bằng Bắc Bộ” thì mẫu khảo sát nằm trong vùng địa
lý tự nhiên, trải rộng suốt đồng bằng Bắc Bộ.
15
+ Mẫu có thể là khu vực hành chính. Ví dụ đề tài nghiên cứu về “Tệ nạn xã hội
trên địa bàn thành phố Đồng Hới” thì mẫu khảo sát chỉ giới hạn trong khu vực
hành chính là thành phố Đồng Hới.
+ Mẫu khảo sát có thể là một quá trình. Chẳng hạn với đề tài nghiên cứu về đổi
mới công nghệ thì mẫu là quy trình công nghệ, thể hiện là hệ thống thiết bị.
định về mặt thời gian, không gian và lĩnh vực nghiên cứu.
c) Ý nghĩa của phương pháp NCKH: đề xuất ra những cái mới, cái chưa từng có.
II. CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA NCKH
2.1 Khám phá
Khám phá những điều chưa biết của sự vật, cấu trúc, trạng thái, sự vận
động; quy luật tự nhiên, xã hội… tồn tại dưới dạng phát minh hay phát hiện.
2.2 Dự báo
Nhìn trước quá trình vận động của sự vật, hiện tượng để đưa ra các đánh
giá, nhận định trong tương lai của sự vật (biến đổi khi hậu, lan truyền ô
nhiễm…)
2.3 Sáng tạo
Sứ mệnh lớn lao của khoa học là sáng tạo các nguyên lí, giải pháp phục vụ
cho hoạt động sản xuất, sinh tồn dựa trên tri thức kinh nghiệm hay khoa học.
Sáng tạo cũng có thể tạo ra các mô hình, hình mẫu trong công nghiệp hay
trong lĩnh vực xã hội… nhằm đem lại những lợi ích khác nhau cho xã hội.
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đặc điểm chung nhất của NCKH là sự tìm tòi, khám phá bản chất những
sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa hề biết đến. Đặc điểm này dẫn đến hàng
loạt đặc điểm khác nhau của NCKH, mà người nghiên cứu cần quan tâm khi xử
lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên
cứu.
3.1 Tính mới
Quá trình NCKH luôn là quá trình hướng đến những phát hiện mới hoặc
sáng tạo mới. Trong NCKH không có sự lặp lại như cũ của những phát hiện hoặc
sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện.
Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của NCKH. Nó luôn có khả năng
dẫn tới những xung đột xã hội với các kết luận cũ, bất kể trong khoa học tự nhiên
hay khoa học xã hội. Chẳng hạn, thuyết Nhật tâm (mặt trời là Trung tâm) đã gặp
17
Quá trình nghiên cứu khoa học hoàn toàn có thể gặp thất bại. Đó là tính rủi
ro (risque) của nghiên cứu. Sự thất bại trong NCKH có thể do nhiều nguyên
nhân, chẳng hạn, thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy; trình độ kỹ thuật
của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp; năng lực xử lý thông tin của người
nghiên cứu còn hạn chế; giả thuyết khoa học đặt ra là sai do những tác nhân bất
khả kháng, v.v.. Ngay khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công
cũng vẫn gặp những rủi ro trong áp dụng. Hai trường hợp có thể xảy ra là:
18
Thứ nhất, kỹ thuật chưa được làm chủ, khi triển khai áp dụng trong phạm
vi mở rộng không thành công
Thứ hai, ngay cả khi đã thử nghiệm thành công thì vẫn không thể đi đến
quyết định áp dụng vì một nguyên nhân xã hội nào đó.
Tuy nhiên, trong khoa học thất bại cũng được xem là một kết quả. Kết quả
ấy cũng mang ý nghĩa là một kết luận của NCKH, mà nội dung của các giả
thuyết đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không
tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến. Xét về ý nghĩa khoa học, đây là
một kết quả quan trọng. Nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau khỏi giẫm chân lên
lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu.
3.6 Tính kế thừa
Ngày nay hầu như không còn một công trình nghiên cứu khoa học nào bắt
đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức. Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các
kết quả kế thừa trong các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa.
Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên
cứu: một người nghiên cứu không bao giờ đóng cửa cố thủ trong những lý luận
và phương pháp luận “riêng có”, “của mình” mà luôn biết tiếp nhận sự thâm
nhập về lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù rất khác nhau.
Hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện
chính là kết quả kế thừa nhau giữa các ngành khoa học.
pháp tổ chức và quản lý.
4.4 Nghiên cứu dự báo
Là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong tương
lai. Có thể phân loại theo các giai đoạn của NCKH, trong mỗi giai đoạn, người
nghiên cứu thu được những sản phẩm khác nhau. Các giai đoạn đó bao gồm:
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, gọi chung là nghiên cứu
và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D hình 1.1
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản
thuần túy
Nghiên cứu cơ bản
định hướng
Nghiên cứu ứng dụng
Tạo mẫu sơ khởi
(Prototype)
Triển khai
Làm pilot để tạo quy
trình
Sản xuất thử ở Serie
0
Hình 1.1 Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu
20
Nghiên cứu nền
c)Làm thí nghiệm loạt nhỏ: Còn gọi là làm “Serie 0” (Loạt 0). Đây là giai đoạn
kiểm chứng độ tin cậy của quy trình trên quy mô nhỏ. Ví dụ: mô hình thí điểm
(làm thử một/một số trang trại vùng đồng bằng Bắc bộ, mô hình thí điểm làng du
lịch sinh thái vùng trung du Việt nam, quy trình sản xuất một kiểu điện thoại mới
Trên thực tế, trong một đề tài chỉ có thể tồn tại một loại nghiên cứu, chẳng
hạn, nghiên cứu về một hiện trạng công nghệ, kinh tế hoặc xã hội nào đó, song
cũng có thể tồn tại cả hai ba loại hình nghiên cứu.
Khái niệm triển khai được áp dụng cả trong nghiên cứu công nghệ và
nghiên cứu xã hội: trong các nghiên cứu công nghệ, hoạt động triển khai được áp
dụng khi chế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới; trong nghiên cứu
21
xã hội như: thử nghiệm một phương pháp giảng dạy ở các lớp thí điểm; chỉ đạo
thí điểm một mô hình quản lý mới tại một cơ sở được lựa chọn
Có nhiều lĩnh vực nghiên cứu không có trong giai đoạn này, nghiên cứu
lịch sử, điều tra rừng, nghiên cứu địa chất học, v.v…
V.CÁCPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là phương pháp chứng minh luận đề,
giả thuyết khoa đựa trên những lí thuyết đã có, đã được thừa nhận; dùng phương
pháp lập luận logic hay lập luận toán học để chứng minh. Một số phương pháp
lập luận (suy luận) chủ yếu sau:
a) Suy luận kiểu diễn dịch (suy diễn):
Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận. Muốn suy luận phải có
tiền đề và tiền đề đó đã được chấp nhận. Vì vậy, một tiền đề có mối quan hệ với
kết luận rất rõ ràng. Suy luận suy diễn theoAristotle là đi từ cái quy luật, khái
quát chung đến cái cụ thể.
Ví dụ:
Nhóm 2: Hoa, Nga, Vân và Tâm không tham dự lớp đầy đủ
* Điểm
Nhóm 1: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm 9 và 10
(ảnh hưởng còn nghi ngờ)
Nhóm 2: Hoa, Nga, Vân và Tâm đạt được điểm 5
* Kết luận:
Sinh viên tham dự lớp đầy đủ đều đạt điểm cao so với
không tham dự lớp đầy đủ. (Vì vậy, tiền đè chính hoặc giả
thiết được công nhận là đúng)
c) Suy luận kiểu loại suy: Từ cái này để suy ra cái khác (từ cái riêng này đến cái
riêng khác). Trong khoa học từ kết quả này suy ra kết quả nghiên cứu khác. Ví
dụ: thử nghiệm vắc xin trên khỉ/chuột sau đó đến người.
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực: nghiên cứu tư
liệu; xây dựng khái niệm, phạm trù; thực hiện các phần đoán, suy luận. Cần lưu ý
ở phương pháp này không có bất cứ quan sát hay thực nghiệm nào được tiến
hành.
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện những thí nghiệm
trong điều kiện các thông số thay đổi có chủ định. Phương pháp này có thể thực
hiện trên mô hình do người nghiên cứu tạo ra. Phương pháp nghiên cứu thực
nghiệm được áp dụng phổ biến trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và
công nghệ hay y học…
5.3Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm được nghiên cứu dựa trên sự
quan sát, quan trắc những sự kiện đã hoặc tồn tại. Phương pháp này sử dụng thu
thập những số liệu thống kê đã tích lũy, trên cơ sở đó phát hiện qui luật của sự
vật hoặc hiện tượng. Với phương pháp này người nghiên cứu chỉ quan sát, không
có bất cứ sự can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm được tiến hành phổ biến trong lính
vực khoa học tự nhiên, xã hội.
5) Chọn mẫu khảo sát trong quá trình nghiên cứu
6) Chuẩn bị tài liệu (các thông tin) phục vụ nghiên cứu
7) Chuẩn bị các nguồn lực phục vụ nghiên cứu (nhân lực, phương tiện và thí
nghiệm, tài chính)
Như vậy, một nguyên tắc chung là sự hoàn thiện của giai đoạn trước trở
thành điều kiện, tiền đề cho việc thực hiện giai đoạn tiếp theo. Mối quan hệ một
chiều được thể hiện thông qua sự tác động của giai đoạn trước đến giai đoạn sau,
còn sự tác động của giai đoạn sau lên giai đoạn trước là không thể có được. Điều
này cũng không hoàn toàn tuyệt đối vì còn có khả năng khi mà các công việc của
giai đoạn sau được tiến hành có thuận tiện, suôn sẻ không đã phản ánh chất
lượng của các công việc được thực hiện trong giai đoạn trước đó.
1.2 Tiếp nhận nhiệm vụ nghiên cứu
Trong hệ thống khái niệm phương pháp luận nghiên cứu ở nước ta, khái
niệm “nhiệm vụ nghiên cứu” được hiểu theo hai nghĩa:
- Thứ nhất, đó là một cam kết nghiên cứu mà nguười nghiên cứu hoặc nhóm
nghiên cứu tự đặt ra cho mình hoặc thực hiện theo yêu cầu của một cá nhân/tổ
chức đặt hàng nào đó. Đây là cơ sở để hình thành đề tài nghiên cứu.
- Thứ hai, đó là những công việc nhằm cụ thể hóa mục tiêu nghiên cứu của đề
tài.
25