Trường:Đại Học Thương Mại Khoa: Kế Toán
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế các nước ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Nhu cầu thông tin cho quản lý ngày càng trở nên quan trọng và đòi hỏi phải thỏa mãn ở
mức độ cao cả về chất lượng và số lượng.
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế, tài chính
trong các đơn vị kinh tế, tổ chức và cơ quan phải từng bước hoàn thiện, phát triển nhằm
thỏa mãn nhu cầu thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc điêù hành, quản lý các
hoạt động kinh tế tài chính của các nhà quản lý và đối tượng khác ở trong, ngoài đơn vị.
Căn cứ vào mục đích thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho 2 loại đối tượng
trong và ngoài đơn vị, kế toán được chia làm 2 hệ thống là kế toán tài chính và kế toán
quản trị. Kế toán tài chính phục vụ cho việc lập báo tài chính để phát hành ra bên ngoài
đơn vị. Kế toán quản trị phục vụ cho công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh tế tài
chính trong nội bộ đơn vị.
Ở Việt Nam, kế toán quản trị mới chỉ xuất hiện trong những năm gần đây nhưng
đã minh chứng được vai trò không thể thiếu trong công tác điều hành, quản lý nội bộ
đơn vị, nhất là trong các doanh nghiệp .
Ngày nay kế toán quản trị đã là một nội dung quan trọng và cần thiết cho các nhà
quản trị doanh nghiệp. Trong đó phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi
nhuận tỏ ra là một công cụ hữu ích hỗ trợ cho nhà quản trị khi trọn lọc thông tin phù
hợp trong quá trình ra quyết định .
Phân tích CVP là xem xét mối quan hệ giữa các nhân tố giá bán, biến phí,định
phí trong mối quan hệ với mức lợi nhuận mong muốn.
Mọi doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận đều hướng đến mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận, trong đó quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (CVP ) với các biến
số có quan hệ hữu cơ với nhau luôn là nỗi trăn trở của các nhà quản lý trong quá trình
điều hành doanh nghiệp. Khối lượng sản xuất và tiêu thụ là yếu tố đầu tiên tạo nên sự
thay đổi của chi phí và gây nên hiệu ứng thay đổi của lợi nhuận. Nhận thức rõ điều
này, được sự hướng dẫn của thầy cô cùng với sự tìm hiểu, nghiên cứu của các bạn trong
nhóm chúng em đã chọn đề tài : “ Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi
nhuận ” để nghiên cứu .
LB =g.x – b.x = (g – b).x (b)
Số dư đảm phí đơn vị (LB đơn vị) được xác định:
Từ phương trình : LB đ.vị=
x
xbg ).(
−
= g – b
Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận
Ta có
Doanh thu - Biến phí - Định phí = Lợi nhuận
Số dư đảm phí – Định phí = Lợi nhuận
Hay : (g – b).x – A = P
Do đó có thể lập báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp theo dạng số dư
đảm phí như sau:
Bảng 1.1 – Báo cáo kết quả kinh doanh dạng số dư đảm phí
Sinh viên thực hiện: Nhóm 03 -Lớp K7HK2A
3
Trường:Đại Học Thương Mại Khoa: Kế Toán
Chỉ tiêu Tổng số Tính cho đơn vị
(sản phẩm)
Doanh thu
Biến phí
Số dư đảm phí
Định phí
Lãi thuần
g . x
b . x
(g – b) . x
A
(g – b) . x - A
định:
Tỷ lệ SDĐPbq = Tổng SDĐP của các loại sản phẩm (bộ phận kinh
doanh)/Tổng DT của các loại sản phẩm(bộ phận kinh doanh)
Hay:
=
∑
∑
=
=
−
n
i
n
i
xigi
xibigi
1
1
.
).(
(d)
Sinh viên thực hiện: Nhóm 03 -Lớp K7HK2A
4
Trường:Đại Học Thương Mại Khoa: Kế Toán
Trong đó: i là loại sản phẩm (bộ phận KD)
n là số loại sản phẩm (bộ phận KD)
1.2.3. Kết cấu chi phí.
Kết cấu chi phí là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa định phí và biến phí
trong tổng chi phí của doanh nghiệp
Kết cấu chi phí có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Với một số
1
= (g – b).x
1
– A
Ta có:
Tốc độ biến động của lợi nhuận =
0
01
p
pp
−
=
Axbg
xxbg
−−
−−
0)(
)01).((
Tốc độ biến động của doanh thu =
0.
01.
xg
gxxg
−
=
0
)01(
x
xx
−