Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
LỜI MỞ ĐẦU
Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm
của ngành Thuế. Tuy nhiên, làm thế nào để người nộp thuế bỏ ra một đồng
tiền thuế một cách tự nguyện là một công việc hết sức khó khăn. Đặc biệt,
trong thời đại ngày nay khi hội nhập kinh tế thế giới đang là xu hướng của
hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ
150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã kéo theo nhiều tác động đến
nền kinh tế. Số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, đồng thời quy mô,
hình thức, cách thức hoạt động của các doanh nghiệp cũng đa dạng và phức
tạp hơn trước thì cơ chế quản lý cũ đã không còn phù hợp, đòi hỏi phải
chuyển sang cơ chế quản lý mới, tiên tiến hơn mà đa số các nước trên thế giới
đã áp dụng, đó là cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế. Do đó, để đảm
bảo hiệu quả của cơ chế tự khai, tự nộp thuế, phục vụ đắc lực cho công cuộc
hiện đại hóa ngành Thuế thì công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế luôn
được ngành Thuế đặt lên hàng đầu.
Tuyên truyền, hỗ trợ không chỉ nhằm giúp cho cộng đồng hiểu được
bản chất tốt đẹp của tiền thuế, hiểu về các chính sách thuế mà còn tạo điều
kiện thuận lợi để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, nâng cao
ý thức tuân thủ pháp luật thuế. Có thể nói bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ người
nộp thuế chính là bộ mặt của ngành Thuế. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ
người nộp thuế theo mô hình quản lý mới là hoạt động khá mới ở Việt Nam,
bởi vậy không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế.
Trong quá trình thực tập tại Cục thuế Thành phố Hà Nội, nhận thức
được vấn đề trên cùng kiến thức đã học ở trường, sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo và các cán bộ của Cục thuế Thành phố Hà Nội, đặc biệt là các cô
chú, anh chị tại phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế - Cục thuế Hà
Nội, em đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp góp
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
1
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
1.1. Những vấn đề cơ bản về cơ chế tự khai, tự nộp thuế
1.1.1. Khái niệm về cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Trong bất cứ xã hội nào thuế luôn là công cụ quan trọng để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu vào các mục đích kinh tế - xã hội và chi tiêu cho bộ máy Nhà
nước. NNT có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước theo
các quy định của pháp luật, còn cơ quan thuế có trách nhiệm thu tiền thuế vào
NSNN. Trên cơ sở này đã hình thành mối quan hệ quản lý, trong đó trách
nhiệm, quyền hạn giữa NNT và cơ quan thuế luôn có mối liên hệ chặt chẽ dựa
trên cách thức tổ chức thực hiện, hoạt động này gọi là cơ chế quản lý thuế.
Trên thế giới có hai cơ chế quản lý thuế chính: cơ chế cơ quan thuế tính
thuế (còn gọi là cơ chế thông báo thuế) và cơ chế NNT tự tính thuế hay còn
gọi là cơ chế TKTN.
Theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế, cán bộ thuế phải kiểm tra tất cả các
tờ khai thuế, các khoản thu dựa trên những số liệu mà cơ quan thuế có được
để xác định số thuế chính thức phải nộp và ra thông báo thuế cho NNT. Cơ
chế này thể hiện sự không tin tưởng hoặc ít tin tưởng của cơ quan thuế đối với
NNT. Cách thức quản lý này mang tính áp đặt, nặng về sử dụng quyền lực
của cơ quan thuế đối với NNT. Việc cơ quan thuế tính thuế thường gây ra
nhiều tranh cãi, bất đồng giữa cơ quan quản lý và NNT về cách thức xác định
số thuế phải nộp. NNT phải chờ đợi cơ quan thuế tính thuế và ra thông báo
thuế mới có thể nộp thuế, làm ảnh hưởng đến tiến độ thu thuế. Việc xác định
số thuế phải nộp trở thành trách nhiệm pháp lý của cơ quan thuế. Hơn nữa,
với sự gia tăng số lượng của NNT ngày càng nhanh, việc thực hiện quản lý
theo cơ chế này đòi hỏi nguồn nhân lực của cơ quan thuế phải tăng lên tương
ứng, dẫn đến chi phí quản lý rất cao. Do vậy, hầu hết các nước trên thế giới
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
3
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
không còn áp dụng cơ chế cơ quan thuế tính thuế mà chuyển sang cơ chế
TKTN thuế.
* Về phía người nộp thuế
NNT phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế và có ý thức tự
giác tuân thủ nghĩa vụ thuế. Để có thể tự tính thuế, tự thực hiện nghĩa vụ kê
khai và nộp thuế thì trước hết NNT phải nắm được là mình phải nộp những
loại thuế nào, tính toán ra sao, rồi thời hạn kê khai và nộp thuế. Muốn vậy,
NNT phải nắm được các quy định pháp lý về thuế và phải thường xuyên cập
nhật về những thay đổi trong chính sách thuế. Trên cơ sở đó, NNT tự giác
chấp hành các quy định trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình và lên án
những hành vi gian lận, trốn thuế góp phần vào thành công của việc thực hiện
cơ chế TKTN.
Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm
cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin có liên quan đến việc xác định
nghĩa vụ thuế của NNT. Có như thế, cơ quan thuế và NNT mới giảm thiểu
được chi phí trong việc quản lý cũng như trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế,
góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
* Về phía cơ quan thuế
Cơ quan thuế cùng với các cơ quan chức năng khác sửa đổi, bổ sung và
ban hành các chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như: giảm
bớt mức thuế suất thuế giá trị gia tăng, giảm các trường hợp miễn giảm trong
thuế thu nhập doanh nghiệp, các quy định về kê khai, nộp thuế thuận lợi, phù
hợp với điều kiện kinh doanh của NNT. Đồng thời, đơn giản hoá các thủ tục
về thuế như thủ tục đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế nhằm mục tiêu
tạo điều kiện thuận lợi tối đa và giảm chi phí tuân thủ cho NNT góp phần
khuyến khích NNT tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế.
Việc chuyển sang cơ chế TKTN cũng có nghĩa là phải chuyển đổi bộ
máy quản lý thuế ở các cấp từ việc quản lý theo sắc thuế sang tổ chức tập
trung theo các chức năng: tuyên truyền, hỗ trợ NNT; theo dõi, xử lý tờ khai
thuế; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế. Để có thể
thực hiện tốt cơ chế TKTN thì đòi hỏi từng bộ phận, từng phòng, ban trong cơ
quan thuế các cấp phải thực hiện tốt các chức năng trên.
để xem xét, lựa chọn các trường hợp để thanh tra nếu việc mắc lỗi có tính chất
nghiêm trọng và lặp đi, lặp lại một cách cố ý.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
6
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
+ Hạch toán đầy đủ, trung thực, chính xác, kịp thời nghĩa vụ thuế của
NNT và theo dõi thanh toán thuế nhằm tăng cường đôn đốc NNT kê khai, nộp
thuế vào NSNN, đảm bảo tính nợ thuế của NNT theo từng khoản phải nộp.
- Chức năng thu nợ và cưỡng chế thuế
Một trong những tiêu thức để đánh giá hiệu quả của bộ máy quản lý là
đánh giá thông qua số nợ thuế thu hồi được. Cơ quan thuế phải được đảm bảo
về cơ sở pháp lý: có đủ thẩm quyền và sự phối hợp của các cơ quan có liên
quan để thực hiện chức năng cưỡng chế thuế và phải có bộ máy chuyên trách
để thực hiện chức năng cưỡng chế thu nợ thuế.
Cơ quan thuế phải luôn theo dõi, nắm sát tình hình nợ thuế của từng
NNT, phân tích nguyên nhân và khả năng thu hồi nợ để áp dụng biện pháp thu
nợ phù hợp, hiệu quả. Các biện pháp thu nợ có thể từ các biện pháp ban đầu
đơn giản như: gọi điện thoại, gửi thông báo nhắc nhở, làm việc trực tiếp với
NNT cho đến các biện pháp cưỡng chế như: khấu trừ từ tiền gửi ngân hàng,
phong toả tài khoản, thông báo yêu cầu các khách hàng hoặc bên thứ ba trích
từ tiền thanh toán cho doanh nghiệp để nộp thuế, yêu cầu cơ quan hải quan
phong toả hàng hoá xuất nhập khẩu, kê biên và bán đấu giá tài sản, truy tố
trước pháp luật…
Để đảm bảo hiệu quả trong công tác thu nợ, tiết kiệm nguồn lực, cơ
quan thuế thực hiện công tác thu nợ trên cơ sở đánh giá rủi ro của các khoản
nợ, các đối tượng nợ thuế, từ đó ưu tiên nguồn lực vào quản lý thu nợ những
trường hợp nợ có mức độ rủi ro cao.
- Chức năng kiểm tra, thanh tra thuế
Trong cơ chế TKTN thuế, bên cạnh trách nhiệm TTHT, hướng dẫn
NNT hiểu rõ nghĩa vụ thuế thì cơ quan còn phải tăng cường giám sát việc
nộp thuế
1.2.1. Khái niệm, các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT
1.2.1.1. Khái niệm
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT được xem là một trong những nội
dung quan trọng trong chiến lược cải cách và hiện đại hoá ngành Thuế cho
phù hợp với tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế. Tuyên truyền thuế là
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
8
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
việc cơ quan thuế sử dụng các hình thức thông tin liên lạc để truyền tải đến
cho NNT và cộng đồng các thông tin về thuế nhằm nâng cao hiểu biết và
trách nhiệm của họ đối với nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Hỗ trợ NNT là việc
cơ quan thuế cung cấp các dịch vụ tư vấn, giải đáp các vướng mắc của NNT
để họ có thể hiểu được các quy định về chính sách, pháp luật thuế đối với
trường hợp của mình và các nghĩa vụ mình phải thực hiện. Cùng với quá trình
phát triển, hiện đại hoá ngành Thuế, công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT ngày
càng được coi trọng.
1.2.1.2. Các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Trên thế giới hiện nay hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ NNT được thực
hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Tuỳ theo phương thức tiếp
cận với NNT có thể phân chia công tác TTHT trong cơ quan thuế thành 2
hình thức, đó là: hình thức TTHT gián tiếp và hình thức TTHT trực tiếp.
* Các hình thức TTHT gián tiếp
- Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài
phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, các gameshow với chủ đề thuế… để đưa
hình ảnh của cơ quan thuế tiếp xúc rộng rãi với công chúng. Tuyên truyền các
khẩu hiệu trên các panô, áp phích được đặt ở các khu trung tâm, đường giao
thông lớn, phát hành các ấn phẩm tuyên truyền, các tài liệu, sách hướng dẫn
về thuế cũng là một trong những hình thức tuyên truyền được áp dụng rộng
rãi. Thông thường các ấn phẩm tuyên truyền này được biên soạn và in ấn dưới
về trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác này để hỗ trợ một cách hiệu
quả nhất cho NNT thì cũng yêu cầu về hệ thống trang thiết bị, các ứng dụng
hiện đại để có thể trợ giúp cho cán bộ làm tốt công tác này.
* Các hình thức TTHT trực tiếp
- Tổ chức tiếp và trả lời NNT tại trụ sở của cơ quan thuế : Hình thức này
đòi hỏi cán bộ tiếp và trả lời NNT không những phải vững về chuyên môn mà
còn phải có thái độ phục vụ nhiệt tình, niềm nở. Có như thế NNT mới thấy
thoải mái và có cảm tình hơn với cán bộ thuế, đồng thời cũng có ý thức hơn
trong nghĩa vụ thuế của mình. Theo hình thức hỗ trợ này, tất cả những vướng
mắc về cơ chế chính sách, thủ tục đăng ký, kê khai, khiếu nại, tố cáo… sẽ được
giải đáp (trừ những trường hợp quá phức tạp thì NNT sẽ được hẹn trả lời vào
hôm sau hoặc được cơ quan thuế gửi trả lời bằng văn bản).
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
10
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại giữa cơ quan thuế với
NNT : Tuỳ từng đối tượng khác nhau để tổ chức các buổi hội thảo phù hợp
với những loại hình đối tượng đó nhằm nâng cao chất lượng của các buổi hội
thảo, hội nghị. Thông qua các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại không những
NNT hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, hiểu rõ
hơn về việc áp dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp mình; bên cạnh đó
cơ quan thuế có thể nắm bắt được nhu cầu của từng đối tượng khác nhau để
có hình thức hỗ trợ phù hợp.
- Tổ chức tập huấn cho NNT về chính sách thuế, các văn bản pháp luật
thuế, đặc biệt là các văn bản, chính sách mới. Việc tập huấn cho NNT có thể
kết hợp cùng với các buổi hội thảo, hội nghị đối thoại. Thông thường các cơ
quan thuế chủ động tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn khi có chính sách thuế
mới để NNT hiểu các thay đổi về quy định và thủ tục khi thực hiện nghĩa vụ
thuế. Với các doanh nghiệp mới thành lập, cơ quan thuế tổ chức riêng các
buổi tập huấn giới thiệu về chính sách thuế, các quy định về sổ sách kế toán,
mình để thực hiện kê khai, nộp thuế, yêu cầu giải đáp vướng mắc qua mạng
Internet. Nhờ việc triển khai các ứng dụng này, NNT có thể giảm đáng kể chi
phí đi lại cũng như sự phiền hà trong việc tuân thủ nghĩa vụ thuế.
Thứ ba, với các dịch vụ tư vấn cho NNT, cơ quan thuế đã kịp thời giải
quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc của NNT, giúp họ hiểu các quy định
về thuế đối với trường hợp của mình, từ đó có các định hướng, chiến lược
kinh doanh cho phù hợp.
Thứ tư, công tác TTHT trong cơ quan thuế bảo vệ quyền lợi chính đáng
của NNT. Trước hết, cơ quan thuế cần nâng cao hiểu biết của người dân và
các tổ chức, cá nhân nộp thuế về quyền lợi và nghĩa vụ của mình thông qua
các hoạt động tuyên truyền qua báo chí, tờ rơi, sách hướng dẫn… Khi NNT
không hài lòng với các quyết định của cơ quan thuế, họ có thể gửi khiếu nại
đến cơ quan thuế và bộ phận Bảo vệ quyền lợi cho NNT có trách nhiệm tiếp
nhận và giải quyết các khiếu nại của NNT một cách khách quan và công bằng.
Thứ năm, công tác TTHT góp phần ngăn ngừa rủi ro cho NNT. Thông
qua việc công bố công khai các thông tin cảnh báo về các trường hợp NNT đã
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
12
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh; các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; các
hoá đơn, chứng từ không còn giá trị sử dụng… cơ quan thuế đã giúp các tổ
chức, cá nhân kinh doanh tránh được những rủi ro khi gặp phải các đối tượng
lừa đảo, kinh doanh không trung thực.
Thứ sáu, việc thực hiện tốt công tác TTHT góp phần nâng cao ý thức
tuân thủ pháp luật thuế nói riêng và nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ
pháp luật nói chung của cả cộng đồng. Công tác TTHT không chỉ đóng vai trò
cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật thuế mà còn đóng vai trò tuyên
truyền về bản chất tốt đẹp của tiền thuế, giáo dục cộng đồng về ý thức, trách
nhiệm đối với NSNN. Qua đó, thúc đẩy cộng đồng lên án, tố giác các hành vi
vi phạm pháp luật thuế, đảm bảo sự công bằng cho mọi NNT.
NNT. Một trong các biện pháp quản lý thuế hiện đại là căn cứ theo mức độ
tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của NNT để đánh giá, phân chia NNT ra 4
nhóm sau:
- Nhóm NNT có ý thức tự giác tuân thủ : Đây là nhóm chiếm số lượng
lớn nhất trong tổng số NNT. Nhóm này luôn có xu hướng chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định, thủ tục về thuế. Do đó, cơ quan thuế cần tạo điều kiện tốt
nhất để NNT thuộc nhóm này hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình.
- Nhóm NNT có ý thức tuân thủ nhưng chưa thực hiện đầy đủ các quy
định : Nhóm NNT này cũng có ý thức nghiêm túc trong việc chấp hành pháp
luật thuế nhưng thường mắc các lỗi số học trong kê khai, lỗi không cố ý do
thiếu hiểu biết về các quy định, thủ tục thuế. Vì vậy, cơ quan thuế cần trợ giúp
họ bằng cách cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và cung cấp
các dịch vụ tư vấn, giải đáp và các dịch vụ tiện ích khác để họ có thể thực
hiện tốt các nghĩa vụ thuế.
- Nhóm NNT chưa có ý thức tuân thủ pháp luật thuế: Đây là nhóm
NNT có hiểu biết về pháp luật thuế nhưng chưa thực sự nghiêm túc chấp
hành. Đôi khi nhóm này có thể lợi dụng các khe hở của pháp luật để thực hiện
các hành vi trốn thuế. Với nhóm này, cơ quan thuế cần phải có biện pháp
tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật và có chế độ theo dõi, kiểm
tra để răn đe ngăn chặn các hành vi nợ đọng tiền thuế, trốn thuế.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
14
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Nhóm NNT cố tình không tuân thủ : Đây là nhóm NNT có rủi ro cao
nhất trong quản lý thuế. Nhóm này có xu hướng cố tình thực hiện các hành vi
vi phạm pháp luật thuế để trục lợi như mua, bán hoá đơn giả, làm hồ sơ hoàn
thuế khống, khai báo không trung thực để trốn thuế… Mặc dù nhóm này
chiếm tỷ lệ rất ít trong tổng số NNT nhưng đây lại chính là nhóm mà cơ quan
thuế phải dành nhiều nguồn lực nhất trong việc quản lý. Với nhóm này, cơ
quan thuế cần sử dụng nhiều biện pháp như khuyến cáo, răn đe, cưỡng chế
thuế tốt là tính hiệu quả của hệ thống đó mà thể hiện rõ nét là tính tự giác tuân
thủ tự nguyện cao trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của
NNT. Trên cơ sở các thông tin và dịch vụ hỗ trợ do cơ quan thuế cung cấp,
NNT tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức dành cho việc nghiên cứu,
tìm hiểu và chấp hành pháp luật thuế, từ đó giảm dần những sai phạm không
cố ý trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Sự tự giác
chấp hành nghĩa vụ thuế và chấp hành đúng không những sẽ làm giảm chi phí
quản lý của cơ quan thuế như chi phí cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát, truy thu, cưỡng chế mà còn giảm tỷ lệ thất thu cho NSNN.
Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự gia tăng về số lượng
NNT với quy mô lớn hơn và mức độ sai phạm nghiêm trọng hơn, tinh vi hơn.
Vì vậy, càng cần thiết phải đẩy mạnh công tác TTHT NNT nhằm làm cho các
tổ chức, mọi cá nhân và toàn xã hội kịp thời nắm bắt các quy định về thuế,
hiểu rõ được bản chất tốt đẹp và ý nghĩa quan trọng của việc nộp thuế, đó là
nghĩa vụ thiêng liêng và quyền lợi chính đáng của bản thân NNT. Mọi hành vi
trốn thuế, tránh thuế, gian lận thuế không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà
còn là hành vi vi phạm đạo đức công dân, dư luận xã hội cần phải lên án,
không khoan nhượng. Từ đó, xây dựng ý thức tự giác chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định về pháp luật thuế trong toàn dân, toàn xã hội.
Đứng trước những yêu cầu trên, rõ ràng cục Thuế Hà Nội cần phải đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế cho toàn dân, triển khai
mạnh mẽ công tác hỗ trợ, phục vụ các tổ chức và cá nhân nộp thuế, đưa công
tác TTHT NNT thành một trong những khâu trọng tâm trong công tác quản lý
thu thuế.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
16
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, HỖ TRỢ
NGƯỜI NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2010, Hà Nội thu hút
được 278 dự án, với vốn đầu tư đăng ký khoảng 290 triệu USD, bằng 58% so
với năm 2009.
Tổng thu Ngân sách trên địa bàn cả năm 2010 đạt 100.000 tỷ đồng,
vượt 12,7% dự toán năm, tăng 17% so năm 2009, trong đó thu nội địa là
87.560 tỷ đồng. Tổng chi Ngân sách địa phương năm 2010 là 40.037 tỷ đồng,
vượt 14,9% dự toán, giảm 13,2% so năm trước, trong đó chi thường xuyên là
17.905 tỷ đồng; chi xây dựng cơ bản là 16.922 tỷ đồng.
Tuy nhiên, Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác.
Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm, dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi
trường đầu tư của thành phố còn thấp. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn
chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ
lực mũi nhọn. Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội
không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân
cư. Và hiện nay còn có sự chênh lệch lớn về kinh tế giữa vùng trung tâm
thành phố và những vùng ngoại thành.
Trong những năm gần đây số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố tăng lên nhanh chóng cùng với nhịp độ gia tăng trong cả nước.
Tính đến thời điểm năm 2010, Cục thuế Hà Nội quản lý trên 80.000 doanh
nghiệp, trên 120.000 hộ kinh doanh cá thể.
Sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
không những góp phần vào việc tăng thu cho NSNN mà còn góp phần giải
quyết một lượng lớn lao động trong cũng như lao động ở ngoài thành phố.
Tuy nhiên, cùng với đó là còn có nhiều doanh nghiệp nợ đọng tiền thuế, chậm
nộp thuế làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế, cũng như mục
tiêu thu NSNN của thành phố.
Năm 2011 là một năm hết sức quan trọng, được mở đầu bằng sự kiện
chính trị trọng đại là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Đây
cũng là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và kế
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
Hà Nội bao gồm 23 Phòng chức năng và 29 Chi cục thuế quận, huyện, thị xã
trực thuộc.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
19
Hc vin Ti chớnh Lun vn cui khúa
Mụ hinh bụ may tụ chc cuc thuờ Ha Nụi co thờ hinh dung qua s ụ sau:
Chc nng, nhim v ca cỏc phũng ban, n v trc thuc:
* Vn phũng cc:
- Phũng Tuyờn truyn v h tr NNT: Giỳp Cc trng Cc thu t
chc thc hin cụng tỏc tuyờn truyn v chớnh sỏch, phỏp lut thu, h tr
NNT trong vic thc hin phỏp lut thu; B phn tip nhn, gii quyt th
tc hnh chớnh v cung cp dch v v thu (B phn 1 ca) do Phũng Tuyờn
truyn h tr NNT trc tip ph trỏch.
- Phũng Kờ khai v K toỏn thu: Giỳp Cc trng Cc thu t chc
thc hin cụng tỏc ng ký thu, x lý h s khai thu, k toỏn thu, thng kờ
thu trong phm vi Cc Thu qun lý.
- Phũng Qun lý n v cng ch n thu: Giỳp Cc trng Cc thu
t chc thc hin cụng tỏc qun lý n thu, ụn c thu tin thu n v cng
ch thu tin thu n, tin pht trong phm vi qun lý.
- Phũng Kim tra thu (06 phũng Kim tra thu): Giỳp Cc trng Cc
Thu kim tra, giỏm sỏt kờ khai thu; chu trỏch nhim thc hin d toỏn thu
i vi NNT thuc phm vi qun lý trc tip ca Cc Thu.
SV: Nguyn Hi Linh Lp: CQ45/02.01
Cục trưởng
Phó Cục Trư
ởng
Phó Cục
Trưởng
Cục phó
Phòng
và
kế
toán
thuế
Phòng
Quản
lý nợ
và cư
ỡng
chế nợ
thuế
Phòng
kiểm
tra nội
bộ
Phòng
Tổ
chức
cán bộ
Phòng
Hành
chính-
Lưu
trữ
Phòng
Tuyên
truyền
Hỗ trợ
người
nộp
luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan
đến NNT thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý;
- Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán: Giúp Cục trưởng Cục thuế
trong việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật
thuế; xây dựng và thực hiện dự toán thu NSNN thuộc phạm vi Cục Thuế
quản lý;
- Phòng pháp chế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công
tác pháp chế về thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục thuế quản lý.
- Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ
chức, chỉ đạo triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các cá nhân có
thu nhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp
luật thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý.
- Phòng Kiểm tra nội bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo,
triển khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính
của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại
các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội
bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công
vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi
quản lý của Cục trưởng Cục thuế.
- Phòng Tin học: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức quản lý và vận
hành hệ thống trang thiết bị tin học cục Thuế; triển khai các phần mềm ứng
dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán
bộ thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản lý.
- Phòng Tổ chức cán bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển
khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương,
đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục thuế.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
21
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
- Phòng Tài vụ - Quản trị: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo,
22
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ
kinh doanh cá thể và người có thu nhập cao. Với mô hình quản lý này, công
tác TTHT NNT không được quan tâm và quy định trách nhiệm thực hiện một
cách rõ ràng. Theo đó, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nơi mà công tác
TTHT NNT được quy định và phân công cho các bộ phận khác nhau trong cơ
quan thuế chứ không có một bộ phận chuyên trách về công tác này. Nhiệm vụ
tuyên truyền có thể do phòng Tổ chức cán bộ hoặc phòng hành chính thực
hiện. Nhiệm vụ hỗ trợ, giải đáp các vướng mắc cho NNT thì được thực hiện
rải rác tại phòng quản lý và phòng nghiệp vụ, thanh tra tuỳ theo đối tượng hỏi
và nội dung được hỏi.
Với cách thức hoạt động như trên, công tác TTHT NNT chưa đáp ứng
được yêu cầu ngày càng tăng theo sự phát triển của nền kinh tế và trình độ
của người dân, cũng như sự gia tăng NNT. Các hoạt động tuyên truyền chỉ
mang tính hình thức, chưa có hiệu quả thiết thực tác động đến ý thức của
người dân, chưa cung cấp thông tin về chính sách, thủ tục về thuế đến cho
NNT và cộng đồng một cách đầy đủ và kịp thời. Hoạt động hỗ trợ, giải đáp
vướng mắc cho NNT được thực hiện rải rác tại nhiều bộ phận độc lập và
không có cơ chế kiểm soát chất lượng cũng như quy định tham chiếu, lấy ý
kiến giữa các bộ phận trong cùng cơ quan. Điều này dẫn đến chất lượng các
câu trả lời của cơ quan thuế cho NNT chưa cao, chưa hoàn toàn giải quyết
được vấn đề NNT quan tâm. Trong nhiều trường hợp, các văn bản do cơ quan
thuế ban hành có nội dung hướng dẫn không đồng nhất trong việc giải quyết
cùng một vấn đề, dẫn đến những khó khăn cho NNT trong việc tuân thủ nghĩa
vụ thuế của mình. Bên cạnh đó, do chưa quan tâm đến nhiệm vụ TTHT NNT
nên việc bố trí các trang thiết bị phục vụ công tác này trong Cục thuế còn rất
nghèo nàn, lạc hậu. NNT không có địa điểm cụ thể để đến cơ quan thuế yêu
cầu giải đáp vướng mắc. Cán bộ thuế thiếu trang thiết bị hỗ trợ để thực hiện
nhiêm vụ của mình. Do đó, kết quả hoạt động TTHT NNT trong giai đoạn
Thứ nhất, việc tập trung nhiệm vụ giải đáp vướng mắc, yêu cầu của
NNT vào một bộ phận duy nhất trong cơ quan thuế sẽ đảm bảo cho việc trả
lời của cơ quan thuế được thực hiện một cách thống nhất và tăng cường kiểm
soát về mặt nghiệp vụ tư vấn.
SV: Nguyễn Hải Linh Lớp: CQ45/02.01
24
Học viện Tài chính Luận văn cuối khóa
Thứ hai, tổ chức một hệ thống TTHT NNT trong ngành sẽ giúp cho
việc đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ cán
bộ làm trong hệ thống này được thực hiện một cách bài bản và đúng đối
tượng. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả làm việc của bộ phận này trong cơ
quan thuế.
Thứ ba, hệ thống TTHT NNT sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượng, đa
dạng hóa hình thức hoạt động tuyên truyền, quảng bá thông tin đến với người dân,
đảm bảo tính kịp thời và chính xác trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn cho NNT.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động
nhưng hệ thống TTHT NNT đã và đang từng bước khắc phục khó khăn, đáp
ứng nhu cầu của NNT và cộng đồng trong việc tìm hiểu thông tin, chính sách
về thuế. Vai trò và mức độ ảnh hưởng của hệ thống này tới các nhiệm vụ quản
lý khác trong cục thuế cũng đã được cục thuế nhận thức rõ và có những sự
đầu tư nhất định về cả nhân lực và trang bị kỹ thuật. Đã có nhiều chi cục thuế
xây dựng tiêu chuẩn và bố trí cho bộ phận TTHT NNT có được những địa
điểm làm việc thuận lợi, các trang thiết bị hiện đại và nhất là xây dựng được
đội ngũ cán bộ chuyên trách vừa có năng lực, vừa có tinh thần trách nhiệm
cao trong công việc.
Trong chương trình cải cách và hiện đại hóa cục Thuế, công tác TTHT
NNT đóng vai trò tiên phong. Do đó, hiện đại hóa công tác TTHT NNT là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện thành công cuộc cải
cách cơ chế quản lý thuế theo cơ chế TKTN thuế.
2.3. Những kết quả về công tác TTHT NNT của cục thuế Hà Nội giai