TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHQGHN, NGOẠI NGỮ, T.XVIII, N ọỊ, 2002
Đ Ồ I Đ IỂ U V Ể C H U Y ÊN DI N G Ử D Ụ N G HỌC
C Ủ A NG Ư Ờ I V IỆT HỌC TIÊN G A N H
Hà Cẩm Tâm
Khoa N gôn ngữ & Văn hóa A n h - M ỹ
Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội
1. Đ ặt vấ n đề
•
Một trong n h ữ n g vấn đề mà t ấ t cả n h ữ n g người t h a m gia giao tiếp rất
thường xu*yên q u a n tâm là vấn đề "lịch sự". "Lịch sự là cái mà ai cũng phải cô' gắng
để đ ạ t được trong giao tiếp bởi nếu th iếu nó ngưòi ta sẽ bị coi là th iếu lịch s ự ’ [3 ,
5]. Theo hai học giả t r o n g tài liệu này (Brown và Levinson) thì lịch sự nghía là
q u a n tâm đến th ể diện của người khác và điều này có ả n h hưởng tới việc lựa chọn
mức độ g iả m nhẹ (redress) trong giao tiếp mà trong lý t h u y ế t người ta hay cùng
t h u ậ t ngữ “mức độ g iá n tiếp” (indirectness). Lý thu y ết về lịch sự của hai học giả
này chia “lịch sự” r a làm hai loại chính và được gọi là “lịch s ự dương tín h ” (positive
politeness) và “lịch sự â m t í n h '’ (negative politeness). Nếu lịch sự dương tính
không q u a n tâm nh iều tới th ê diện mà chủ yếu là sự t h â n m ặ t gần gũi của các đối
tương th a m gia giao tiếp, thì lịch sự âm tín h lại quan t â m đến th ế diện bằ ng việc
tìm mọi cách tạo lối t h o á t cho người nghe để họ không bị m ấ t th ể diện khi không
th ể đáp ứng được yêu cầu người nói. Ớ đây, chúng ta q u a n tâm tới sự n h ã nhặn và
lịch sự khi yêu cầu người khác một việc gì đó ( d i r e c t n e s s , politeneSK in
req u e st s) .
Bàn về vấn đề mức độ n h ã n h ặ n và lịch sự trong câu yêu cầu tiếng Anh,
Blum-Kulka, House & K a s p e r [1] đã p h â n chia các loại câu yêu cầu ra thành ba
nhóm chiến lược chính. Ba nhóm đó gồm Direct (D) - trực tiếp, Conventionally
Indirect (CID) - gián tiếp theo quy ước và Non-eonventionally I n direc t (NID) - gián
tiếp không theo quy ước. Trong nhóm D có loại câu mện h lệnh (imperative), trong
3. N hữ n g k ết quả n g h iê n cứu và b ìn h luận
Như đã nói ở trên, kết quả p h â n tích sô" liệu cho t h ấ y hai nhóm đôi. tượng
được nghiên cứu là nhóm sinh viên Au stralia và sinh viên Việt Nam học tiếng Anh
đã sử dụng nh ữn g chiến lược (strategy) như n ha u khi h ìn h t h à n h các lòi yêu cầu
trong một sô" tình hu ống nghiên cứu. Tuy nhiên, tôi đã kh ông tin rằng các dổi
tượng được nghiên cứu là sinh viên Việt Nam và sinh viên A u s tr a l ia đã x u ấ t p h á t
từ nh ữ n g ngu yê n n h â n n hư n h a ụ khi lựa chọn lời yêu cầu d ù n g cấu trúc "Can I ..."
hoặc là "Can you
Sự lựa chọn t r ù n g lặp đã x u ấ t hiện ở tro ng tìn h huống mượn
ôtô (car) và trong tìn h huống kiểm t r a bằng lái xe (licence). Và sự nghi ngờ đó đã
tăn g lên khi tôi n h ậ n thấy rằ n g ngưòi Việt Nam, trong tìn h h u ố n g mượn cái kích
(jack) là tình huống mà cả hai nhóm khi điều t r a đều cho r ằ n g đây là một tình
huống khó xử {of high im position), lại sử dụng chiến lược câu có mức độ giảm nhẹ ít
hơn r ấ t nhiều so với dự đoán. Tôi ngờ rằng người Việt N a m có t h ể đã nghĩ r ằ n g cấu
trúc nổi mà họ sử dụng có ý nghĩa giảm nhẹ lớn hơn mức độ mà người bản ngữ
đánh giá về cấu trúc đó. Thực vậy, trong tình h u ống (jack) này, trong khi ngưòi
Australia lựa chọn nh ữ n g chiến lược nh ư 'F easibility 1 (th ă m dò tín h khả thi) và
Đôi điếu về chuyên di ngừ dụn g học..
33
'Perm ission' (lời yêu cầu kiểu xin phép) thì người Việt Nam chọn kiểu chiến lược
1A bility (thăm dò khả năng). Chiến lược được coi là có mức độ giảm nhẹ nhỏ hơn
nhiều so với chiến lược mà người Australia lựa chọn. Đê tìm hiếu nguyên n h â n vê
những sự giông n h a u và khá c nhau này, tôi đã thu th ập thêm sô" liệu ở một sô" sinh
viên Việt Nam đang học tậ p ở những trường đại học khác n h a u ỏ Melbourne. Chín
câu yêu cầu bằ ng tiếng Anh được lựa chọn bao gồm các chiến lược 'A b ility ,
Permission, và Im p e r a tiv e ' (kiêu th ă m dò khả năng, kiểu xin phép, và kiểu m ện h
p
tea
1
1.9
-
*
imp. = mệnh lệnh; nee = sự cần t h i ế t ; wis. = sự mong muôn; abi. = k h ả năng;
psn = xin phép; fea. = mức độ hiện thực.
Tương tự như vậy, tr o n g tình huông vay tiền (xem b ả n g 4), hai nhóm đã lựa
chọn nh ữn g chiến lược khác n h a u . So VỚI ngươi A u s tra lia thì ngưòi Việt trong tình
38
Hà Cẩm Tâm
huống này tỏ ra kém n h ã n h ặ n vì cấu trúc ngôn ngữ mà họ lựa chọn có mức độ nhã
n h ặ n thấp hơn so với cắu trúc mà người Australia lựa chọn. Song, nếu q u a n sát kỹ,
ta sẽ thấy sự sai lệch này là do người Việt Nam không có thói quen vòng vo, rào
trước đón sau trong tìn h huống hỏi xin tiề n bô mẹ để m u a một đồ d ù ng phục vụ cho
học tập. Có thể th ấ y một tâ m lý chung trong học sinh Việt n am , đặc biệt là ở
t h à n h phô, đó là chúng cảm thấy việc xin tiền bô" mẹ để ph ục vụ cho mục đích học
tập là điều chính đáng và bô" mẹ cũng luôn ủng hộ và sẵn sà n g đáp ứng cho những
yêu cầu đó. Có thể th ấy rằng, người Việt Nam trong tình h u ốn g này đã sử dụng các
nguyên tắc dụng học của tiếng mẹ đẻ để hình th àn h lời yêu cầu, chứ không phải là
J a pan ese, M u ltilin g u a 8 , 207-221, 1989.
VNU. JOURNAL OF S c i e n c e , Foreign Languages, T.XVIII, N01, 2002
PRAGMATIC INTERFERENCE IN VIETNAMESE LEARNERS OF ENGLISH
Ha Cam Tam
D epartm ent o f English Language and Culture
College o f Foreign Languages - V N U
Studies of prag m a ti c interference in second or foreign language acquisition
by spe akers from different cultural-linguistic communities have multiplied abroad.
But in Vietnam, such investigation s in respect of development of tact in general
and politeness stra te g ie s in particu lar by Vietnamese learnin g English are quite
limited both in kind a n d in degree. A solid theoretical a n d practical footing is
much in need now to help learners to develop a p pro pria te pragmatic
communicative strategies.
Ha Cam T a m ’s p a p er makes an effort to a d a p t Blum-Kulka syntactic
transfo rm ation model to conducting a comparative study of Vietnamese and
Australia n tact and politeness strategies in some concrete social situations.
Observat