TAP CHÍ KHOA HỌC DHQGHN, KINH TẾ - LUẬT, T.XVIII, s ố 3, 2002
BẢO HIỂM XẢ HỘI TRONG HỆ T H ốN G AN SINH XẢ HỘI
ở VIỆT NAM
L ê T h ị H o à i T h u
nh ừ n g nước nghèo tr ê n t h ế giới [6 ]. Vì vậy, an sinh xã hội nói ch u n g và bảo hiểm xã hội
nói riêng có ý ng hía r ấ t to lớn đôi với người dân và người lao động. Ngay từ khi th à n h
lập nưdc, C hính p h ủ Việt N a m đã r ấ t chú trọng đến p h á t triể n chính sách bảo hiểm xã
hội và bảo trợ xã hội (bảo trợ xã hội ở Việt N am có sự đ a n xen giữa Social S ecurity và
Social Protection). Riêng tro n g lĩnh vực bảo hiểm xã hội, qua gần 40 n ă m thực hiện,
chính sách bảo hiểm xã hội đã p h á t huy dần từng bưỏc, từ chỗ đôì tượng bảo hiểm xă
hội chỉ là công n h â n viên chức n hà nước, đến nay đ ã mở rộng cho ngưòi lao động trong
các doanh nghiệp thuộc các th à n h p h ần kinh tế. T ính đến nay đã có hơn 4 triệu người
th a m gia bảo h iể m xã hội và gần 2 triệu người đang hưởng các trợ cấp bảo hiểm xà hội
thường xuyên [ 1 ].
52
Lê Th ị Hoài Thu
C hính sách bảo hiểm xã hội đã góp p h ầ n to lớn vào việc ổn định đời sống cho
người lao động t h ụ hưởng bảo hiểm xã hội; góp p h ầ n ổn định chính trị-x ã hội của đ ấ t
nước. T uy nhiên, so với lực lượng lao động cả nước thì tỷ lệ lao động th am gia bảo hiểm
xã hội còn thấp. Bộ lu ậ t Lao động qui định có 2 loại hình BHXH b ắ t buộc và tự nguyện
áp d ụn g cho người lao động n hư ng cho đến nay loại hình BHXH tự nguyện chưa được
b an h ành. Do đó, h iện còn hơn 30 triệu lao động sản x u ất nông nghiệp, tiểu th ủ công
nghiệp, dịch vụ làm việc ỏ các đơn vị sử dụng dưới 10 lao động có nguyện vọng được
th a m gia BHXH, n h ư n g chưa có loại h ìn h BHXH p h ù hợp để th a m gia [2]. Điều nay đã
làm tă n g nguy cơ g á n h n ặn g của hệ thông a n sinh xã hội (tầng th ứ nhất). Nghĩa là tă n g
nguy cơ cho các chi p h í công cộng để trợ giúp cho các đối tượng này. Theo m ột số dự báo,
d ân sô' nước ta tiếp tục tă n g trong 20 n ăm tới, mặc dù tốc độ t ă n g đã giảm. Có thấy điều
này qu a các sô liệu sau:
N ăm
D ân sô
N hư vậy, đến n h ữ n g n ă m 20 của t h ế kỷ này, d ân sô' nước ta sẽ đ ạ t khoảng hơn
97 triệu ngươi và lực lượng lao động khoảng 26 triệu người. Đ ây là lực lượng lao động
đông đảo có thể th a m gia bảo hiểm xã hội nếu n h ư chính sách bảo hiểm xã hội được mở
rộng và như vậy sẽ có k ho ản g 50% sô' d ân được sự bảo vệ của t ầ n g th ứ hai của hệ thông
an sinh xã hội quốc gia. H ay nói cách khác nguy cơ rủ i ro tro n g lao động của gần 50%
d ân cư đã dược bảo vệ bởi các c h ế độ bảo hiểm xã hội. Điều n ày đã giảm chi phí công
cộng để thực hiện các trợ giúp xã hội tối thiểu (tầng th ứ nhất). Xét dưới khía cạnh k inh
tế, khi các chi phí công cộng cho trợ giúp xã hội giảm đi thì s ố tiền từ ngân sách và xã
hội sẽ được đ ầu tư vào lĩnh vực khác của n ền k inh t ế qụốc d â n làm cho đời sống của
người dân được (an sinh) hờn. Đây là ý nghĩa r ấ t lớn lao của sự mở rộng và p h á t triển
bảo hiểm xã hội tro n g hệ thông an sinh xã hội quốc gia.
Hệ th()ng BHXH được mở rộng góp p h ần giảm bớt n h ữ n g đối tượng cần trợ giúp
xã hội. Hiện nay ở V iệt N am n hừ n g đôi tượng cần trợ giúp r ấ t nhiều như: n h ừ ng người
già cô đơn không nơi nương tự a là 142.209 người, người tà n t ậ t n ặn g là 653.161 người,
trẻ em mồ côi k h ô ng nơi nương tự a là 129.017, người nghèo: chiếm 14,55% số hộ cả
nưốc [5]... N hữ ng đôi tượng này (không phải t ấ t cả) nếu được th a m gia vào các hệ thống
BHXH (hoặc b ắ t buộc hoặc tự nguyện), đặc biệt là nông d ân và lao động nông thôn, nơi
chiếm đến 80% d ân số’và trê n 70% lực lượng lao động cả nước, thì họ sẽ p h ần nào được
sự bảo vệ của hệ thông, được sự san sẻ của nh ữ ng người cùng th a m gia bảo hiểm và
như vậy gánh n ặ n g của n g ân sách, của các quỹ công cộng và của cộng đồng sẽ được nhẹ
bớt. Điều này củng có nghía là hệ thông an sinh xà hội quốc gia cảng đảm bảo và p h á t
triển. T ấ t nhiên để đ ạ t được sự an sinh xã hội nói chung, không chỉ là tự t h â n của hệ
thống mà còn ph ụ thuộc vào sự p h á t triển kinh tế-xã hội nói chu ng của d ấ t nước.
B ả o h i ế m xá hôi tr o n g hệ th ô n g an s inh xà hôi.
53
M ột đ ấ t nước m uôn có một nến an sinh vững m ạ n h thì phải có một n ền k inh tê đ ủ
BHXH, đến n a y con số này đã tă n g lên là 4,1 triệu lao động (chưa kể lực lượng vũ
trang) trong đó có 517.000 lao động ngoài quốc doanh (kể cả doanh nghiệp liên doanh) [2]
- T h à n h lập được quỹ BHXH độc lập với ng ân sách N h à nước trê n cơ sở đóng góp
của ngươi sử d ụ n g lao động, người lao động và có sự hỗ trợ của N h à nước.
- Việc tổ chức BHXH được táp tru n g th ông n h ấ t và p h â n đ ịn h rõ chức n ă n g của cơ
q uan qu ản lý N h à nước về BHXH và cơ q u a n quản lý sự nghiệp BHXH. Sự q u ả n lý quỹ
BHXH tậ p t r u n g th ố n g n h ấ t đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực h iện tốt nghía
vụ của m ình đối với ngưòi lao động, n â n g cao trá ch nhiệm đ ảm bảo qu yền lợi cho người
lao động của cơ q u an BHXH Việt Nam.
- H ình th à n h được hệ thông BHXH Việt N am thông n h ấ t từ T ru n g ương xuống
địa phương. Với hệ th ô n g tổ chức này, lần đầu tiên việc thực hiện các nhiệm vụ thu
BHXH, chi tr ả cho các đổi tượng, xét duy ệt hồ sơ hưởng BHXH đã được tậ p tru n g vào
một đầu môi.
Lê Thị Hoài Thu
54
- Việc thực hiện các chê độ chính sách BHXH theo cơ chê mới dựa trê n nguyên tắ c
có đóng BHXH mới được hưởng các quyển lợi về BHXH. N guyên tắc này đã làm th a y
đổi một cách cơ b ả n n h ặ n thức của h à n g triệ u người lao động và người sử d ụ n g lao động
tron g việc thực hiện ng hĩa vụ đóng BHXH, làm cho chính sách BHXH của Đ ản g và N h à
nước thực sự đi vào cuộc sông, bảo đảm sự công b ằn g giữa n h ữ n g người lao động và
ngưòi sử d ụ n g lao động về nghĩa vụ và quyền lợi BHXH.
N hìn chung, chính sách BHXH hiện h à n h đã góp p h ần tích cực vào việc làm là n h
m ạ n h hoá thị trư ờ ng lao động ở nước ta, góp p h ầ n thực hiện b ìn h đẳng xã hội và ổn
đ ịnh xã hội “Mới hơn 5 n ă m h oạt động n h ư n g BHXH Việt N am đã có tổ chức ở 61 tỉnh,
t h à n h phô' và t ấ t cả các huyện, thị. Việc chi t r ả các c h ế độ BHXH đã được thực hiện cho
gần 2 triệu người nghỉ hưu, h à n g chục triệ u lượt người hưởng c h ế độ ốm đau, th ai sản,
5. Niên giám thống kê Lao động-Thương binh và Xả hội năm 2001, NXB Lao động Xã hội,
Hà Nọi, 2002.
6 . Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ, NXB Chính trị Quôc
gia, Hà Nội, 2002.
7. Xã luận “Bảo hiểm xã hội vì lợi ích của người lao động”, báo N hân dân 11/11/2002.
VNU JOURNAL OF SCIENCE, ECONOMICS - LAW, T.XV1I1, N03, 2002
SO C IA L I N S U R A N C E IN V IE T N A M ’S S O C IA L S E C U R IT Y S Y S T E M
LL M . Le T h i H o a i T h u
F a c u lty o f L a w , V ietnam N a tio n a l U n iversity, H anoi
In th is article, an a tte m p t is m ade to carry out an intensive research on the
development of social in su ran ce as an im p o rtan t c o n stitu te n t ol’ social th e security in
the world. The a u t h o r pointes out the main characteristics of social insurance,
differences b etw een social in su ran ce and o th er forum of social security.
The a u th o r b rin g s out th e process of sh ap in g and developing V ietnam 's social
insurance. By a p p ra is in g th e strong points and the draw backs of th e c u r re n t forms of
social insurance th e a u th o r proposes some m easu res to perfect th e law on social
insurance in V ietnam .