Chuyển biến về sở hữu trong hệ thống ngân hàng thương mại ở việt nam - Pdf 10

Chuyển biến về sở hữu trong hệ thống ngân
hàng thương mại ở Việt Nam

Nguyễn Tuấn Hùng

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế Chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Hệ thống những vấn đề mới liên quan đến sở hữu và sở hữu trong ngành
ngân hàng, cụ thể là sở hữu trong hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam và một
số quốc gia - đặc biệt là vai trò của sở hữu đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Làm rõ thực trạng chuyển biến sở hữu (vốn, phương thức quản lý - kinh doanh, phân
phối) trong hệ thống ngân hàng thương mại để đánh giá tác động của những chuyển
biến này. Đưa ra một số gợi ý và giải pháp về vấn đề chuyển đổi sở hữu trong hệ
thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu được nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển hiệu quả, bền vững cho hệ thống
này.

Keywords: Ngân hang; Kinh tế chính trị; Việt Nam; Sở hữu

Content
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở bất kỳ một quốc gia nào hệ thống ngân hàng thương mại đều đóng vai trò là
huyết mạch của nền kinh tế. Với Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, hệ thống NHTM đang đứng trước nhiều cơ hội, thách thức
trong quá trình chuyển biến để phát triển.
Nhiều năm qua các NHTM đã có bước phát triển, đóng góp lớn trong lĩnh vực tài chính

ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu những vấn đề lí luận cơ bản, mới về sở hữu và sở hữu ngân
hàng; tìm hiểu rõ sự chuyển biến các nội dung của vấn đề sở hữu: vốn, phương thức quản lí -
kinh doanh, hiệu quả hoạt động kinh doanh trong hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt
Nam. Gắn liền với sự chuyển biến đó sẽ là các phản ứng dây chuyền lên ngành và nền kinh tế.
Về thời gian, luận văn tập trung chủ yếu những mốc chuyển biến chính của vấn đề nghiên cứu
từ 1986 tới nay. Về không gian, đối tượng nghiên cứu là hệ thống ngân hàng thương mại gồm:
Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh, Ngân
hàng (chi nhánh ngân hàng) nước ngoài.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu trong khi vẫn cố gắng ở
một chừng mực nào đó sử dụng phương pháp định lượng trên cơ sở thống kê, phân tích, tổng
hợp. Đồng thời sử dụng phương pháp tiếp cận biện chứng duy vật kết hợp với điều tra, so
sánh.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về sở hữu trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam và
một số quốc gia. Chú trọng việc khái quát các ghiên cứu, lí luận về “chuyển biến sở hữu trong
hệ thống ngân hàng” ở Việt Nam và các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Từ đó, làm nổi bật
những tác động mà chuyển biến trong sở hữu của các ngân hàng thương mại lên ngành ngân
hàng và nền kinh tế. Luận văn cố gắng nghiên cứu có hệ thống vấn đề này nhằm đưa ra được
một số giải pháp cho bối cảnh mới: Việt Nam đang thực hiện các cam kết của WTO.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề chuyển biến về sở hữu trong hệ
thống ngân hàng
Chương 2: Những chuyển biến về sở hữu trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại
Việt Nam và tác động của nó tới sự phát triển của ngành và nền kinh tế giai đoạn 1986 -
nay

and Performance)” của các tác giả Alejandro Micco, Ugo Panizza, Monica Yanez như là khuôn khổ
lý thuyết để tôi áp dụng cho trường hợp của Việt Nam.
Trong tác phẩm này, các tác giả Alejandro Micco, Ugo Panizza, Monica Yanez đã sử
dụng số liệu của 119 nước trong giai đoạn 1995-2002 để đánh giá: mối quan hệ sở hữu của
ngân hàng với hoạt động ngân hàng cho hai nhóm nước phát triển và đang phát triển. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng: trong khi sở hữu có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động của ngân hàng
ở các nước đang phát triển thì điều này không xẩy ra với các nước phát triển. Cụ thể, các ngân
hàng thương mại nhà nước ở các nước đang phát triển dường như có khả năng sinh lời kém
hơn và chi phí cao hơn ngân hàng tư nhân, ngân hàng nước ngoài.
Nghiên cứu này cũng cho thấy: ở các nước đang phát triển, việc tham gia hoạt động của
các ngân hàng nước ngoài sẽ là “cú hích” cho các ngân hàng trong nước nâng cao hiệu quả
hoạt động (được thể hiện bởi tổng chi phí thấp hơn) và khả năng cạnh tranh của ngành ngân
hàng. Chính sự hoạt động kém hiệu quả của các ngân hàng trong nước là lý do thu hút các
ngân hàng nước ngoài thâm nhập thi trường mới. Sức ép cạnh tranh buộc các ngân hàng trong
nước hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hơn. Đây là kết quả quan trọng bởi vì nó cho thấy sự
thâm nhập của ngân hàng nước ngoài (có thể liên quan với công nghệ mới và các rào cản thâm
nhập thấp hơn) dẫn đến sự chuyển biến về sở hữu của ngành ngân hàng cả về qui mô lẫn cấu tạo
là một hiện tượng có lợi đóng vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả của ngành ngân hàng ở
một số nước đang phát triển.
Các tác giả đã đưa ra một số tiêu chí đánh giá mối quan hệ về sự chuyển biến sở hữu tới
hoạt động của hệ thống ngân hàng như thế nào và đó cũng là những tiêu chí mà tôi cố gắng
xem xét trường hợp của Việt Nam trong luận văn này:
- Đối với hai chỉ số ROA, ROE
- Tổng tài sản và thị phần của ngân hàng
- Tổng chi phí và tỷ lệ tổng chi phí trên tổng tài sản
- Tỷ lệ nợ xấu hay những khoản vay không hiệu quả và những điều khoản cho vay
1.1.3. Chuyển biến sở hữu trong hệ thống ngân hàng của một số quốc gia trên thế
giới

4

cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội" (Đại
hội VII - 1991), "Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng nền kinh tế
nhiều thành phần" và "Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần" (Đại hội VIII - 1996) là một bước tiến dài trong nhận thức và tổng kết những
thành tựu đổi mới.
Đặc biệt, Đại hội IX của Đảng (2001) đã nêu ra một nhận thức mới về vấn đề sở hữu khi
khẳng định "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc" và "Từ các hình thức sở hữu cơ bản:
sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với
những hình thức đan xen, hỗn hợp".
Việc thừa nhận nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, coi "kinh tế cá thể,
tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài", "khuyến khích phát triển
kinh tế tư bản tư nhân trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm", "phát triển đa dạng
kinh tế tư bản nhà nước", tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận
lợi", "chú trọng phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức
sở hữu", thể hiện rõ chiến lược lâu dài và nhất quán của đường lối phát triển đất nước của
Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi bắt đầu quá trình đổi mới.

5
Cần khẳng định: trong điều kiện nước ta hiện nay, thừa nhận sở hữu tư nhân, khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác không mâu thuẫn với định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong việc hình thành chiến lược giải quyết vấn đề sở hữu ở Việt Nam chúng ta cần
chú ý những đặc điểm:
Thứ nhất, trong điều kiện của thế giới ngày nay, bất cứ quốc gia nào đều buộc phải duy
trì cả hình thức sở hữu tư nhân lẫn hình thức sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất.
Thứ hai, đổi mới chế độ sở hữu hiện nay, là thực hiện chế độ đa sở hữu.
Thứ ba, Việt Nam từ trình độ phát triển thấp công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần sở
hữu khác nhau là phương án hợp lý, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động.

lớn ngân hàng thương mại không đạt yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo thông lệ quốc
tế là (8%), hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp. Trước tình hình đó, Chính phủ đưa ra nhiều
phương án để cải thiện chất lượng hoạt động của ngân hàng. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
đề án chấn chỉnh, củng cố, sắp xếp lại các ngân hàng thương mại và thành lập ban chỉ đạo
chấn chỉnh, củng cố sắp xếp lại ngân hàng thương mại.
Chính việc sắp xếp lại hệ thống ngân hàng thương mại là quá trình thay đổi cấu trúc sở
hữu theo xu hướng giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước, tăng dần tỷ lệ sở hữu trong lĩnh vực này
cho các thành phần kinh tế khác.
Xét về cơ cấu sở hữu, trong hệ thống ngân hàng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ: cho
phép sự tham gia ngày một nhiều hơn của các thành phần kinh tế. Một chuyển biến tích cực

6
nữa là chúng ta cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thâm nhập vào lĩnh vực này. Hiện nay,
không chỉ cho phép thành lập các ngân hàng liên doanh, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
chúng ta đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia sở hữu các ngân hàng thương mại trong
nước. Đặc biệt khi Việt Nam cam kết thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và
lộ trình WTO thì việc tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này ngày càng
nhiều, cấu trúc về sở hữu ngân hàng càng chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa.

Chƣơng 2
NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ SỞ HỮU TRONG HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH VÀ NỀN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY

2.1. TỔNG QUAN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NỀN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN
NAY
2.1.1. Tổng quan kinh tế Việt Nam 1986 đến nay
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới toàn bộ nền kinh tế, bằng việc áp dụng mô
hình kinh tế nhiều thành phần theo định hướng thị trường thay thế cho thể chế kinh tế kế

Còn xét theo khu vực sở hữu thì kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP,
khoảng 38-39% giai đoạn 2001 - 2005.

7
Các năm 2006-2007 kinh tế Việt Nam vẫn phát triển mạnh, tăng trưởng kinh tế hai năm liên
tiếp đạt trên 8%; đầu tư và tiêu dùng tăng cao. Từ đầu năm 2008, khủng hoảng tín dụng dụng bất
động sản bắt đầu từ Hoa Kỳ đã lan rộng sang tất cả các nước, tác động tiêu cực đến thị trường
chứng khoán, tiền tệ và hàng hóa. Tháng 9/2008, Chính phủ Việt Nam đã quyết liệt điều hành
thực hiện 8 nhóm giải pháp chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm nền kinh tế không rơi
vào khủng hoảng. Kết thúc năm 2008, Việt Nam vẫn có mức tăng trưởng khá: tổng sản phẩm
quốc nội GDP tăng 6,23%. Tiếp tục áp dụng chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt, linh hoạt điều
chỉnh theo diễn biến tình hình kinh tế trong và ngoài nước, Việt Nam đã có những dấu hiệu phục
hồi ngay từ những tháng đầu năm 2009. Việt Nam vẫn đảm bảo mức tăng trưởng khá đạt 6,78%
trong đó khu vực nông lâm ngư nghiệp và thuỷ sản tăng 2,78%, khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng 7,7%, khu vực dịch vụ tăng 7,52%.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển ngành ngân hàng Việt Nam
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, Việt Nam chưa có ngân hàng mà chỉ có 3 ngân
hàng nước ngoài hoạt động là: Hương Cảng Ngân hàng (1865), Đông Dương Ngân hàng
(1875), chi nhánh Chartered Bank (1904).
Vài năm sau Thế Chiến I, một số ngân hàng nước ngoài khác được thành lập: Đông Á
Ngân hàng (1921), Ngân hàng Thương mại Pháp (1922). Năm 1927, một số thân sĩ có tinh
thần độc lập dân tộc kêu gọi các nhà tư sản góp vốn thành lập Ngân hàng Việt Nam là ngân
hàng thuần túy sở hữu của người Việt Nam, do người Việt Nam quản trị và phục vụ người
Việt Nam.
Sau Thế Chiến II, có 3 ngân hàng nước ngoài nữa thâm nhập vào Việt Nam là: Trung
Quốc Ngân hàng (1946), Giao Thông Ngân hàng, Quốc gia Thương mại và Kỹ nghệ Ngân
hàng (1947). Sau đó, hàng loạt ngân hàng Việt Nam ra đời để cạnh tranh với ngân hàng nước
ngoài và phần nào đó chứng tỏ năng lực tài chính của nước nhà.
Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền với 2 chế độ chính trị khác nhau nên hệ
thống ngân hàng cũng có sự khác biệt:

có nền kinh tế thị trường, bao gồm:
- Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò ngân hàng trung ương
- Các tổ chức tín dụng, bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển,
công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng đóng vai trò ngân hàng kinh doanh.
Hệ thống ngân hàng như thế đã xoá bỏ được tính chất độc quyền Nhà nước, cho phép
thành lập ngân hàng thương mại thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Mặt khác, hệ thống
ngân hàng tổ chức gần giống hệ thống ngân hàng có nền kinh tế thị trường.
Cải tổ hệ thống ngân hàng năm 1990 đã góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng về
mặt hình thức sở hữu cũng như số lượng ngân hàng.
Giai đoạn 1991- 2000 cho thấy sự phát triển đa dạng các loại hình ngân hàng thương
mại Việt Nam kể cả số lượng lẫn hình thức sở hữu. Sự phát triển đa dạng này thúc đẩy nỗ lực
cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, từ đó, nâng cao trình độ nghiệp vụ và chất lượng
phục vụ.
Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2000 - nay: cải tổ lần thứ ba
Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và Luật Các Tổ Chức Tín Dụng được Quốc Hội
thông qua ngày 12/12/1997 và được công bố ngày 26/2/1997. Theo Luật hiện hành, hệ thống
Ngân hàng ở Việt Nam bao gồm:
- Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam đóng vai trò ngân hàng trung ương
- Các Tổ Chức Tín Dụng đóng vai trò định chế tài chính trung gian
Quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng trong giai đoạn này tập trung vào quá trình cổ phần hóa
hệ thống NHTM NN, đổi mới hoạt động của Ngân hàng Nhà nước đi kèm với đó là sự đổi mới của
hệ thống pháp luật về ngân hàng. “Đề án cải cách” ngân hàng thương mại nhà nước xây dựng vào
năm 2001 với mục tiêu xây dựng một hệ thống ngân hàng mạnh với sức cạnh tranh cao, trong đó
các ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Đề án cơ cấu lại các ngân hàng thương mại Nhà nước đã đề cập đến vấn đề cổ phần hóa, thiết
nghĩ đây chính là giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề còn lại của ba trụ cột.
2.2. THỰC TRẠNG CHUYỂN BIẾN SỞ HỮU TRONG HỆ THỐNG THTM Ở
VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH VÀ NỀN
KINH TẾ.
2.2.1. Chuyển biến về sở hữu trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại

Vietcombank là ngân hàng đầu tiên trong hệ thống các ngân hàng sở hữu nhà nước tiến hành
cổ phần hóa, trở thành NHTMCP và thông báo chính thức hoạt động với tư cách một ngân
hàng TMCP vào tháng 5/2008, sau đó đến ngân hàng Công thương Việt Nam. Ở các NHTM
NN được cổ phần hóa, sở hữu Nhà nước được khuyến nghị có thể giữ vai trò chi phối mà
không cần nắm giữ tỷ lệ cổ phần tuyệt đối lớn (trên 50%).
Đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, các nhà đầu tư nước
ngoài được phép mở ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Ngày 08/9/2008, Standard Chartered
Bank là ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập tại Việt Nam.
Năng lực tài chính của các ngân hàng Việt Nam được cải thiện dần qua các năm. Tổng vốn
điều lệ của NHTM NN đã tăng từ trên 6.000 tỷ đồng vào năm 2001 lên đến trên 21.000 tỷ đồng
vào năm 2004. Năm 2011 cả nước có 5 NHTM NN, 39 NHTMCP, 5 NH 100% vốn nước ngoài
với tổng vốn điều lệ trên 250.000 tỷ đồng (sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu các
ngân hàng thương mại phải tăng vốn điều lệ) thì tổng vốn điều lệ của NHTM NN là gần 60.000 tỷ
đồng (nếu tính thêm cả 2 ngân hàng cổ phần là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân
hàng Công thương Việt Nam mà Nhà nước đang là cổ đông chính) số vốn điều lệ mà Nhà nước
sở hữu trong hệ thống ngân hàng thương mại là khoảng 90.000 tỷ đồng.
Theo báo cáo tài chính của 25 NHTM CP, vốn điều lệ của 25 NHTM CP cũng tăng trưởng
nhanh, từ 22.000 tỷ năm 2006, 44.000 tỷ đồng năm 2007, và tăng lên 72.000 tỷ đồng vào năm
2008 và đến nay nếu tính thêm cả 2 ngân hàng là Vietcombank và Viettinbank thì số vốn điều lệ
mà khối NHTM CP có được là khoảng 168.000 tỷ đồng.
Hệ số an toàn tài chính được cải thiện theo thông lệ quốc tế 8% vào giai đoạn 2001-
2005, cuối 2008 hệ số an toàn của các NHTM đều giữ ở mức trên 10%. Hệ thống ngân
hàng đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguồn vốn cho phát triển sản xuất,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và là kênh chủ yếu để dẫn vốn thực hiện các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô của nền kinh tế.
* Chuyển biến về chất lượng quản lý kinh doanh ngân hàng
Giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, theo nghiên cứu của một số chuyên
gia kinh tế thế giới, và kinh nghiệm của một số quốc gia cho thấy chất lượng quản lý kinh doanh
được cải thiện.
Cán bộ ngành ngân hàng trưởng thành nhanh chóng, có khả năng tiếp cận kiến thức mới và

ngân hàng Việt Nam đã có những bước cải thiện về chất. Điều này thể hiện ở sự cải thiện
đáng kể về chất lượng tài sản - tỷ lệ nợ xấu giảm từ gần 5% năm 2003 xuống còn 2,85% năm
2004. Các ngân hàng, đặc biệt các NHTM CP đã có những bước cải thiện mạnh mẽ về khả
năng sinh lời và các tỷ lệ an toàn, giải quyết nợ quá hạn, xử lý nợ tồn đọng cùng với sự phát
triển chung của toàn nền kinh tế.
Trong những năm 2005 - 2007, các ngân hàng thực hiện kiềm chế mở rộng cho vay,
nâng cao chất lượng tín dụng, do đó dư nợ cho vay có tốc độ tăng thấp nhất so với các năm
trước; tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm đáng kể. Khối NHTM cổ phần có chiến lược mở rộng cho vay
các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn có hiệu quả, thị trường tiêu thụ ổn định, có uy tín và hầu
hết hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nên tỷ lệ nợ xấu luôn đảm bảo ở mức độ an toàn cao. Tỷ
lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng năm 2007 là 2%. Đến năm 2008, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ
của khối NHTM cổ phần ở mức dưới 2,5%, của các NHTM nhà nước dưới 5%
Quá trình chuyển biến sở hữu theo hướng giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước hiện nay cần
được chú trọng nhiều hơn bởi hệ thống NHTM NN đang gặp nhiều khó khăn, trong khi khu
vực ngoài “quốc doanh” đang chứng tỏ “khả năng kiểm soát và phát triển” đáng ghi nhận.
- Kết quả kinh doanh
Hoạt động ngân hàng ổn định, số dư tiền gửi của dân cư năm sau cao hơn năm trước.
Chênh lệch thu chi của toàn hệ thống NHTM trong quý 2/2007 đạt trên 12 nghìn tỷ đồng, tăng
36,2% so với cùng kỳ năm 2006, mức tăng kết quả kinh doanh ngành ngân hàng tính đến hết
quý 2/2007 cao hơn mức tăng GDP là 25,09%, được coi là một trong những ngành có hiệu
quả hoạt động cao và tốc độ tăng trưởng nhanh.
Kể từ năm 2007 đến cuối năm 2008, giai đoạn sở hữu nhà nước trong lĩnh vực ngân
hàng giảm đáng kể do sự gia tăng của các loại hình ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nước
ngoài theo tinh thần các cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO, cùng với chủ trương cổ phần
hóa của Nhà nước, chênh lêch thu nhập - chi phí tăng trưởng tương đối tốt. Trong năm 2008
kết quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng tăng trưởng ổn định với chênh lệch về thu nhập và
chi phí tăng dần từng quý: Quý I: 11 nghìn tỷ, Quý II: 13.9 nghìn tỷ, Quý IV: 19.8 nghìn tỷ.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, đồng thời với lạm phát cao
trong năm 2008, con số này đã suy giảm trong năm 2009.
* Chuyển biến về tăng trưởng tín dụng

năm 2005, thị phần này đã thay đổi: tổ chức tín dụng cổ phần 16%; nước ngoài 11%; liên
doanh, công ty thuê mua tài chính, quỹ tín dụng… 5%; NHTMNN 68%.
Năm 206-2007, khu vực Nhà nước vẫn duy trì vị trí chi phối, song các NHTMCP đã
ngày càng mổ rộng thị phần, chiếm tỷ trọng đáng kể: 30,4% trong tổng tiền gửi và 28,6% tín
dụng của cả hệ thống ngân hàng.
Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có những thành công đáng ghi nhận trong cạnh
tranh cũng như thâm nhập sâu hơn vào thị trường tài chính nội địa. Năm 2005, tổng lợi nhuận
trước thuế của 33 chi nhánh tổ chức tín dụng nước ngoài với vốn pháp định khoảng 600 triệu
Đôla Mỹ, đạt gần 1.200 tỉ đồng, tăng hơn 50% so với năm trước đó.
Nhìn chung qua một thời gian đa dạng hóa các loại hình sở hữu ngân hàng, theo quy
luật cạnh tranh, các ngân hàng đều đã nỗ lực tìm kiếm khách hàng. Khối lượng tiền gửi đã
tăng từ 43% GDP năm 2000 lên 82% năm 2006.
Thị phần cho vay của khối các NHTM NN vẫn chiếm ưu thế và tương đối ổn định trong
suốt những năm 2000-2004, chiếm khoảng 75-80% thị phần. Tuy nhiên, sau khi giảm tỷ lệ sở
hữu nhà nước, cổ phần hóa các ngân hàng, thị phần cho vay của khối này đã giảm xuống 54%
trong năm 2007. Khối NHTM CP, ngân hàng liên doanh cũng hết sức cố gắng để mở rộng thị
phần, do vậy thị phần của khối này ngày càng được mở rộng.
Dư nợ cho vay nền kinh tế năm 2007 tăng 50,6% so với năm 2006, vượt 30% so với
mục tiêu Chính phủ đề ra. Trong giai đoạn này, 65,4% tổng dư nợ cho vay của các NHTM
nhà nước và 82,5% dư nợ cho vay của các NHTM khác là dành cho khu vực tư nhân. Dư nợ
cho vay của các NHTM nhà nước tăng khoảng 25%.

12
2.2.2. Tác động của chuyển biến sở hữu đến sự phát triển của ngành ngân hàng và
nền kinh tế
* Tác động tới hiệu quả kinh doanh
- Lợi nhuận
Trong những năm qua, hiệu quả kinh doanh của các NHTM NN nhìn chung ngày càng
có những chuyển biến tích cực, lợi nhuận tăng trưởng cao, có những ngân hàng tỷ suất lợi
nhuận ròng trên VCSH (ROE) đạt trên 20%,… Năm 2008, ROE của toàn hệ thống ngân hàng

xấu của khối NHTM Nhà nước là 4,59%, NHTM cổ phần 2,44%, Ngân hàng liên doanh và
nước ngoài 1,45%.
* Tác động tới năng lực cạnh tranh
- Năng lực tài chính
Thời gian qua các NHTM Việt Nam đã thực hiện lộ trình tăng vốn một cách nhanh
chóng bằng nhiều biện pháp. Đến nay, tổng số vốn điều lệ của toàn hệ thống là trên 250.000
tỷ đồng trong đó khối NHTM NN chiếm 24,67%; NHTM CP chiếm 69,58% và NH 100%
vốn nước ngoài chiểm 5,75%. Mặc dù vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam tăng mạnh so với
trước đây song vẫn còn thấp so với các ngân hàng trong khu vực.
- Năng lực hoạt động
+ Năng lực huy động vốn: Mặc dù đã có sự chuyển biến về thị phần vốn huy động trong
hệ thống ngân hàng (thị phần NHTM NN giảm dần qua các năm) song khối các NHTM này

13
vẫn nắm giữ phần lớn tài sản trong cả danh mục tiền gửi lẫn cho vay của toàn hệ thống
NHTM. Có được ưu thế này là do khối NHTM NN có mạng lưới rộng lớn, ra đời lâu năm.
Hiện nay, hệ số đòn bẩy của các NHTM NN mặc dù đã giảm dần trong những năm gần
đây song hệ số này vẫn rất cao (27,5 lần) cho thấy khối các ngân hàng này hoạt động dựa trên
nguồn vốn huy động là chính trong khi khả năng tăng vốn tự có còn gặp nhiều khó khăn. Khối
Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hệ số đòn bẩy huy động vốn
dưới 10 lần nên khả năng huy động vốn còn rất lớn. Nên khả năng phát triển của khu vực này
trong thời gian tới là rất triển vọng.
+ Năng lực tín dụng: Dư nợ tín dụng của các NHTM Nhà nước tăng với tốc độ cao
khoảng trên 20% trong những năm gần đây, thậm chí cao hơn cả tốc độ tăng vốn huy
động. Điều đó cho thấy khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế ngày càng tăng, nhất là
trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang rất cần vốn để phát triển.
*Tác động tới tăng trưởng kinh tế
- Huy động vốn góp phần tăng tiết kiệm cho nền kinh tế
Lượng vốn huy động qua hệ thống các NHTM tăng trưởng không ngừng và linh hoạt
góp phần tăng đầu tư toàn xã hội và tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng về vốn huy động của

gian qua đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của ngành ngân hàng: từ hệ thống ngân hàng 1
cấp chuyển sang ngân hệ thống ngân hàng 2 cấp tách bạch chức năng quản lý của ngân hàng trung
ương với hệ thống ngân hàng thương mại, từ chỗ sở hữu 100% nhà nước đến nay đã có nhiều
thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực này góp phần vào viêc nâng cao năng lực tài chính của

14
Việt Nam trong công cuộc Đổi mới. Quá trình chuyển biến sở hữu này không chỉ tác động đến sự
thay đổi của bản thân hệ thống ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế
xã hội. Vì vậy, việc tìm ra định hướng cho quá trình chuyển biến sở hữu cũng như quá trình đổi
mới hệ thống ngân hàng trong thời gian tới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang gặp phải một số bất cập điển hình:
Thứ nhất, mức độ đa dạng hóa thấp các sản phẩm dịch vụ và chất lượng dịch vụ chưa
cao.
Thứ hai, các dịch vụ ngân hàng thiếu sự liên kết đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của
toàn hệ thống ngân hàng và giảm giá trị gia tăng cho người sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Thứ ba, chưa gắn kết các hoạt động ngân hàng và hoạt động phi tài chính ngân hàng
để hình thành nên hệ thống dịch vụ ngân hàng trọn gói, đa dạng đáp ứng được nhu cầu
ngày càng cao của xã hội.
Thứ tư, cơ cấu tổ chức bộ máy chưa theo mô hình ngân hàng hiện đại.
Thứ năm, năng lực tài chính nhỏ bé.
Để khắc phục những bất cập trên chúng ta phải đảm bảo thực hiện được mục tiêu và
nguyên tắc sau:
Thứ nhất, đủ mạnh về vốn, hiện đại về công nghê, đa dạng hóa dịch vụ ngan hàng hiện
đại, đảm bảo về nguồn nhân lực; hoạt động phát triển tăng trưởng an toàn, hiệu quả.
Thứ hai, xử lý tồn tại đồng thời với tái cơ cấu tài chính, lành mạnh hóa tình hình tài
chính.
Thứ ba, tái cơ cấu mô hình hoạt động, chủ động hội nhập trên nền tảng tài chính ổn
định, vững chắc, chủ động vươn xa hơn tới các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ tư, tận dụng tối đa vị thế và cơ hội, chấp nhận cạnh tranh.
Thứ năm, hiệu quả hoạt động của khách hàng là hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

trường tín dụng tăng trưởng nóng trong những năm đầu cải cách.
Biện pháp khả thi là cơ cấu lại nguồn vốn kết hợp với thanh lý tài sản và cổ phần hóa.
Cách này huy động được cả nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân tham gia, thậm chí là các
đối tác nước ngoài. Các biện pháp nhà nước thường tiến hành là sử dụng các công cụ pháp lý
để yêu cầu các ngân hàng có nợ hoặc các công ty vay nợ thanh lý tài sản thế chấp. Các biện
pháp tư nhân thường là cổ phần hoá hoặc bán lại ngân hàng cho các nhà đầu tư chiến lược và
sau đó chủ sở hữu mới này sẽ cơ cấu lại các khoản nợ của ngân hàng cho phù hợp với điều
kiện của ngân hàng đó.
* Phi tập trung hóa hệ thống ngân hàng
Việt Nam đã bước đầu phi tập trung hoá hệ thống ngân hàng bằng cách thành lập hệ
thống ngân hàng hai cấp. Bước tiếp theo nên bao gồm:
- Tăng cường tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước
Trong hệ thống ngân hàng hiện đại, Ngân hàng nhà nước thường có vai trò độc lập, tách
khỏi các quyết định chính trị và chỉ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quy định bởi Luật
Ngân hàng Nhà nước. . Khi Ngân hàng nhà nước chỉ thực hiện một số ít chức năng nêu trên
thì không cần duy trì hệ thống Ngân hàng Nhà nước gồm nhiều chi nhánh phân chia theo địa
giới hành chính ở cả 63 tỉnh thành trên cả nước.
- Đa dạng hoá sở hữu hệ thống ngân hàng thương mại
Các nghiên cứu về những nền kinh tế đang chuyển đổi đã chỉ ra rằng tỷ phần cao của năm
ngân hàng lớn nhất có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của toàn hệ thống ngân hàng. Vì thế,
Việt Nam nên giảm bớt sự thống trị của 5 ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu hiện nay
trên thị trường bằng cách:
+ Cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước
+ Nới lỏng cấp phép cho các ngân hàng tư nhân và ngân hàng nước ngoài
* Kết hợp với các cải cách khác
Hệ thống ngân hàng chỉ phát triển lành mạnh nếu như các điều kiện kinh tế vĩ mô khác
phát triển tốt. Vì thế, cải cách ngân hàng ở Việt Nam phải đi đôi với các cuộc cải cách khác:
cải thiện môi trường pháp lý, cải cách doanh nghiệp nhà nước, tăng khả năng giám sát của
Ngân hàng Nhà nước
3.2.2 Một số giải pháp phát triển hệ thống ngân hàng thƣơng mại

hơn của khu vực tư nhân và khu vực nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng đem lại hiệu quả cho
nên kinh tế thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chú trọng những giải pháp:
- Tăng cường khả năng giám sát tài chính
- Tăng cường phát triển công nghệ ngân hàng và dịch vụ ngân hàng

KẾT LUẬN

Hệ thống NHTM Việt Nam cùng với sự mở cửa của nền kinh tế đang từng bước thực
hiện lộ trình cơ cấu lại và chủ động hội nhập quốc tế. Không thể phủ nhận rằng, thành tựu
kinh tế Việt Nam trong những năm qua có đóng góp không nhỏ của hệ thống NHTM với
vai trò là “huyết mạch”. Đặc biệt là chặng đường từ 1986 đến nay, chặng đường đổi mới
căn bản toàn diện của hệ thống NHTM Việt Nam. Hệ thống NHTM Việt Nam đã trải qua
ba lần cải tổ với nhiều bước ngoặt đáng ghi nhận. Giai đoạn 1988-1990, đánh dấu quá
trình chuyển hoá ngân hàng Việt Nam từ cơ chế hoạt động một cấp sang hai cấp. Sự ra
đời của 2 luật về ngân hàng (12-1997) tạo hành lang pháp lý cho các NHTM hoạt động, từ
đó đến nay, hệ thống NHTM Việt Nam phát triển không ngừng về quy mô, chất lượng
hoạt động và hiệu quả kinh doanh.
Quá trình phát triển, lớn mạnh của hệ thống NHTM Việt Nam gắn chặt với quá
trình chuyển biến sở hữu trong lĩnh vực này. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, hệ
thống NHTM là 100% “quốc doanh” , tỷ lệ này giảm dần qua từng năm, nay chỉ còn
khoảng 50% do có sự tham gia ngày một nhiều hơn của các thành phần kinh tế khác vào
lĩnh vực này (đa dạng hoá sở hữu).
Từ năm 2007, hệ thống tài chính Việt Nam mở rộng dần theo thoả thuận gia nhập
WTO, các nhà đầu tư nước ngoài (Ngân hàng 100% vốn nước ngoài) xâm nhập vào thị
trường Việt Nam ngày càng nhiều. Quá trình đa dạng hoá sở hữu đã góp phần cải thiện
mạnh mẽ chất lượng cho hệ thống ngân hàng: tăng tính cạnh tranh, nâng cao chất lượng
quản trị doanh nghiệp, áp dụng công nghệ hiện đại Từ nay, hệ thống NHTM Việt Nam
bắt đầu bước vào “sân chơi chung” - “sân chơi ngân hàng quốc tế”.
Trong bước khởi đầu của giai đoạn này, NHTM Việt Nam xác định sẵn sàng vươn
lên chủ động hội nhập quốc tế với mục tiêu: Đổi mới toàn diện, gắn liền với phát triển bền

thương mại nhà nước ở Việt Nam,Tài liệu giảng dạy Chương trình Kinh tế Fulbringht Việt
Nam
11. Kornai János (2002), Hệ thống xã hội chủ nghĩa: chính trị kinh tế học phê phán, tổng
quan kinh tế xã hội chủ nghĩa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
12. Lê Xuân Nghĩa, Cao Văn Học, Lê Hoàng Nga… (2005), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học, “Tái
cơ cấu các ngân hàng thương mại nhà nước: Thực trạng và giải pháp”, Nxb Phương
Đông, Hà Nội
13. Marie Lavigne (2002), Các nền kinh tế chuyển đổi - Từ kinh tế kế hoạch tập trung sang
kinh tế thị trường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
14. Ngân hàng Nhà nước (2005), Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
NHNN ban hành, Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005-2010), Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà
nước, Hà Nội
16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2007), Hội thảo khoa học: Tự do hóa tài chính- Xu thế
và giải pháp chính sách, Hà Nội
17. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2008), Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa
học,Quyển 8, Hà Nội
18. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo tài chính các NHTM (2004-2008), Hà Nội
19. Ngô Thị Bích Ngọc (2007), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Đề tài khoa học: Giải pháp
đẩy mạnh tái cơ cấu NHTM Việt Nam trong tiến trình Hội nhập quốc tế, Mã số:
KNH.2005.04, Hà Nội
20. Nguyễn Cúc (2005), “Một số vấn đề về sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, Số 84
21. Nguyễn Cúc, Kim Văn Chính (2006), Sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội
22. Nguyễn Ngọc Sơn, Trần Thanh Tú (2007), Nguồn tài chính trong nước và nước ngoài
cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội
23. Nguyễn Sinh Cúc (2006), “Phát triển thương mại - dịch vụ Việt Nam thời kỳ 2001- 2005

Problems, Discussion papers in economic policy analysis
37. Giovanni Capannelli (2009), ADB, Fiancial integration and cooperation in Asia and the
global crisis
38. Joseph Prokopenko, Alexander Letenko and Dmitry Lvov, Wei Wang, Privatization:
Lessons from Russia and China, Enterprise and Management Development Working
Paper - EMD/24/E
39. Margarete Biallas, Kien Dam (8/2008), Vietnam financial sector diagnostic 2008
40. Mody’s (2009), Banking system outlook Report
41. Nguyễn Hồng Sơn (2009), Research paper written under the grant of Thai Research
Fund, Banking system of vietnam reform strategies and transition assessment
42. Robert E. Litan, Paul Masson, Michale Pomerleano (2001), Open Doors, Brookings
institution, Washington D.C
43. Stijin Claessens and Tom Clasesner (1998), Internatinalization of Financial Services in
Asia
44. Vina Capital (2006), Banking Sector Report
45. World Bank (2009), Vietnam Development Report 2008
Website:
46. http://beta.vneconomy.vn/68411P0C6/thua-von-van-kho-vay.htm
47. http://beta.vneconomy.vn/68411P0C6/thua-von-van-kho-vay.html
48. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/11/03/4021/ (Nguyễn Tuấn Anh, Mối
quan hệ giữa hoạt động của NHTM và tăng trưởng kinh tế)
49. http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_sach_ngan_hang_tai_Viet_Nam
50. http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/09/806170

19
51. http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/09/806170/]-tháng 9/2008
52. http://vneconomy.vn/20090709021419816P0C6/ngan-hang-va-noi-lo-no-xau.htm
53. http://www.baomoi.com/Loi-nhuan-ngan-hang-Co-thuc-su-cao/126/2930214.epi
54. http://www.ciem.org.vn/home/vn/upload/info/attach/1161312417281_tu_nhan_hoa_DN
NN_o_Ba_Lan.pdf (Đinh Văn Ân, CIEM, Tư nhân hóa DNNN ở Ba Lan: Thực tiễn và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status