Tiểu luận môn học nghiệp vụ ngân hàng thương mại Hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam - Pdf 10



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ñeà taøi: GV hướng dẫn : TS. LẠI TIẾN DĨNH
HV thực hiện : Trần Văn Thanh
Lớp : Ngân hàng – Ngày 1, Cao học Khóa 17
1. TP. Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2009

một số khái niệm cơ bản về hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam;
Phần 2: Thực trạng hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian
qua (2006-2008): Phần này tập trung đánh giá những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế, phân
tích nguyên nhân trong quá trình hoạt động của Hệ thống Ngân hàng thương mại nước ta giai
đoạn 2006 - 2008.
Phần 3: Những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện phát triển hệ thống Ngân hàng
thương mại Việt Nam: Phần này đưa ra các kiến nghị, định hướng và giải pháp nhằm hoàn
thiện, phát triển hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn.

PHẦN I:
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm:
Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004:
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 3
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức
tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng”.
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các
loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận
tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng
thương mại rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ
thuật kinh tế và xã hội, hoạt động của Ngân hàng thương mại cũng có nhiều phương pháp
mới, nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt
động cho vay, đầu tư. Qua NHTM các chính sách tài chính tiền tệ của Quốc gia sẽ được
thực hiện một cách nhanh chóng và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của các
doanh nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của

mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền. Từ một lượng tiền cơ sở do
NHTƯ phát hành qua hệ thốngNHTM sẽ được tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng
cho nền kinh tế. Khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng được tính theo công thức :
D=m.MB
D: khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng
MB: khối lượng tiền cơ sở
M=1/rd: hệ số nhân tiền
rd : tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHTƯ có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi lượng tiền tỷ lệ dự trữ
bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của NHTM từ đó ảnh hưởng đến khả năng
cấp tín dụng cho nền kinh tế do đó đạt được hiệu quả mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặt ra .
2.3. Chức năng cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán
Thông qua chức năng làm trung gian tài chính NHTM làm tăng lượng tiền trong lưu
thông và cung cấp cho những người đầu tư những chứng khoán có tính lỏng cao hơn và có
rủi ro thấp hơn do đó sẽ an toàn hơn khi nhà đầu tư nắm giữ những chứng khoán sơ cấp do
doanh nghiệp, công ty phát hành.
Các NHTM còn cung cấp một danh mục phương tiện thanh toán rất đa dạng và
phong phú : sec chuyển tiền, sec chuyển khoản, thẻ tín dụng sự xuất hiện của các phương
tiện thanh toán này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng giao dịch thương mại, mua
bán hàng hoá an toàn nhanh chóng, chi phí thấp.
2.4. NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính
Ngoài các dịch vụ truyền thống là huy động và cho vay, NHTM ngày nay còn cung
cấp một danh mục dịch vụ khá đa dạng và phong phú: dịch vụ thanh toán, dịch vụ môi giới,
bảo lãnh tư vấn bảo hiểm
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các loại dịch vụ ngân hàng cũng phát
triển và mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. chưa bao giờ các dịch vụ tài chính ngân
hàng lại phát triển như bây giờ, tỷ trọng thu nhập từ thu phí dịch vụ ở các ngân hàng hiện
đại có thể chiếm tới 40-50% tổng thu nhập của ngân hàng. Đồng thời việc phát triển các
dịch vụ này cũng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng chu chuyển vốn trong nền kinh tế,
làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí in ấn kiểm đếm tiền.

- Mục đích hoạt động vì lợi nhuận
- Sản phẩm tồn tại chủ yếu dưới dạng dịch vụ tài chính.
- Quan hệ khách hàng và Ngân hàng trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm.
- Thiếu sự đảm bảo trước đổi mới.
- Chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước.
- Cung cấp sản phẩm trực tiếp là chủ yếu.
- Chịu tác động lớn và nhạy cảm với môi trường Kinh tế vĩ mô.
- Chịu nhiều rủi ro.
5. Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 6
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
5.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn
của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức
tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước.
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
5.2. Hoạt động cấp tín dụng
NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu
thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo
quy định của NHNN như bao thanh toán tài trợ nhập khẩu, tài trợ xuất khẩu, cho vay thấu
chi, và cho vay theo hạn mức tín dụng, và hạn mức tín dụng dự phòng, … Trong các hoạt
động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
5.2.1. Cho vay
NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhắm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và

nhập khẩu.
- Bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn.
- Chấp nhận hối phiếu.
- Cho thuê kho bãi để chứa và bảo quản an toàn hàng hóa nhập khẩu với giá cho thuê
phải chăng (nhờ lợi thế về quy mô số lượng khách hàng của Ngân hàng) tại các địa điểm
hay các địa phương khác nhau.
- Giúp khai báo thuế (thí dụ, lập tờ khai và áp mã vạch thuế chính xác nhanh chóng,
nhận lại tiền hoàn thuế nếu nộp dư do cơ quan thuế tạm tính thuế phải nộp, …).
- Cho vay để thanh toán tiền hàng nhập khẩu cho nhà xuất khẩu nếu đến hạn mà nhập
khẩu chưa có tiền.
- Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kỹ thuật từ giúp soạn thảo hợp đồng thương mại, mua
bảo hiểm cho suốt quá trình vận chuyển và chuyển giao hàng hóa, theo dõi và kiểm tra hóa
đơn chứng từ và hàng hóa cả về số lượng, quy cách và chất lượng.
- Các hỗ trợ khác do sự bất cập về tập quán, luật pháp, …
5.2.7. Tài trợ xuất khẩu.
Các hình thức tài trợ xuất khẩu của các NHTM còn phong phú hơn do các doanh
nghiệp xuất khẩu thường nhận được tài trợ từ các Ngân hàng Thương mại về các giao dịch
kinh doanh cả trước và sau các thương vụ xuất khẩu, bao gồm:
- Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, mua nguyên vật liệu để sản xuất, cho vay đầu tư
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm dịch vụ, cho vay bảo trì đối với các dự án chiến
lược về máy móc thiết bị, nhà xưởng ở nước ngoài.
- Cho vay nộp thuế xuất khẩu.
- Giúp khai báo thuế (thí dụ lập tờ khai và áp mã vạch thuế chính xác, nhanh chóng,
nhận lại tiền hoàn thuế nêu nộp dư do cơ quan thuế tạm tính thuế phải nộp, khấu trừ thuế
GTGT, …).
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 8
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
- Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kỹ thuật từ giúp soạn thảo hợp đồng thương mại, mua
bảo hiểm cho suốt quá trình vận chuyển và chuyền giao hàng hóa, theo dõi kiểm tra hóa
đơn chứng từ và hàng hóa cả về số lượng, quy cách và chất lượng.

hiện thanh toán giữa các Ngân hàng với nhau thong qua NHNN, NHTM phải mở tài khoản
tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chình và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo
quy định. Ngoài ra, chi nhánh của NHTM được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh Ngân
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 9
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán
và Ngân quỹ của của NHTM bao gồm các hoạt động sau:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên Ngân hàng
trong nước.
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
5.4. Các hoạt động khác.
Ngoài các hoạt động truyền thống bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung
cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số
hoạt động khác, bao gồm:
5.4.1. Góp vốn và mua cổ phẩn.
NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phẩn của các doanh
nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra,
NHTM còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với Ngân hàng nước ngoài để thành
lập Ngân hàng liên doanh.
5.4.2. Tham gia thị trường tiền tệ.
NHTM được tham gia thị trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước,
thong qua các hình thức mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ.
5.4.3. kinh doanh ngoại hối.
NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh

PHẦN II:
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA (2006 - 2008)
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 11
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh

1. Khái quát chung
Kể từ năm 1980, hệ thống NHTM Việt Nam đã thực hiện quá trình đổi mới và cho tới
nay đã đạt được những thành tựu đáng kể. Những thay đổi quan trọng đã đạt được cả về
mặt cơ cấu, quy định pháp lý và hoạt động đã đưa hệ thống NHTM Việt Nam sang hoạt
động theo cơ chế gần hơn với thông lệ quốc tế. Cho tới nay, hệ thống NHTM Việt Nam vẫn
tiếp tục được thống lĩnh và chi phối bởi bốn NHTM Nhà nước chiếm khoảng 70% tổng tài

Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 12
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
định kinh tế vĩ mô:
Chủ động thu hút tiền về từ lưu thông nhằm kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng tổng
phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng, đồng thời, hỗ trợ kịp thời vốn ngắn hạn cho các
tổ chức tín dụng gặp khó khăn về thanh khoản.
Quy định trần lãi suất huy động VND ở mức 12%/năm kể từ ngày 26/2/2008 đến
18/5/2008. Từ ngày 19/5/2008, thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với Luật
Ngân hàng Nhà nước và Bộ luật Dân sự, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh
bằng VND đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà
nước công bố trong từng thời kỳ; đồng thời từng bước điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản và
các mức lãi suất khác cho phù hợp với mục tiêu kiểm soát chặt chẽ tiền tệ.
2.2.2. Tiếp tục kiềm chế lạm phát nhưng linh hoạt trong điều hành nhằm ổn định kinh tế vĩ
mô và chủ động ngăn ngừa nguy cơ suy giảm kinh tế.
Trước những tín hiệu khả quan về kinh tế vĩ mô và kết quả kiềm chế lạm phát của
nước ta từ tháng 7/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước nới lỏng chính sách
tiền tệ bằng các giải pháp linh hoạt để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động
ngăn ngừa suy giảm kinh tế:
- Điều chỉnh linh hoạt lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc, lãi suất tín phiếu Ngân hàng
Nhà nước bắt buộc phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ; từng bước giảm dần
lãi suất cơ bản và các mức lãi suất khác phù hợp với xu hướng giảm của lãi suất cơ bản.
- Giảm dần tỷ lệ dự trữ bắt buộc, c
ho phép các tổ chức tín dụng sử dụng tín phiếu
Ngân hàng Nhà nước bắt buộc trong các giao dịch tái cấp vốn với Ngân hàng Nhà nước và
thanh toán trước hạn nếu có nhu cầu.

2.2.3. Điều hành tỷ giá linh hoạt theo quan hệ cung cầu thị trường, hỗ trợ xuất khẩu và
hạn chế nhập siêu.
Trong năm 2008, diễn biến cung cầu ngoại tệ trên thị trường không ổn định do biến
động tăng, giảm luồng ngoại tệ chuyển vào Việt Nam, nhập siêu tăng cao và yếu tố tâm lý,

vừa, các dự án đầu tư khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn;
tăng cường cho
vay và thực hiện có hiệu quả chính sách cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, học sinh, sinh
viên và các đối tượng chính sách khác.
- Quy định chặt chẽ điều kiện cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay, chiết khấu
giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ
chức tín dụng. Ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng theo hướng chỉ cho vay đối với nhu cầu nhất thiết phải sử dụng vốn vay bằng
ngoại tệ, hạn chế tình trạng đôla hoá.
- Chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức tín dụng hỗ trợ vốn cho các lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh gặp khó khăn, như: kinh doanh, nhập khẩu xăng dầu;
các
dự án nguồn điện cấp bách;
sản xuất hàng may mặc;
thu mua, tiêu thụ
cá tra, cá ba sa và lúa gạo hàng hoá vùng đồng
bằng sông Cửu Long
;
tiêu thụ cà phê ở Tây Nguyên; các lĩnh vực bị thiệt hại do thiên tai,

dịch bệnh…
-
Thành lập Tổ công tác xử lý khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa trong quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội và Hồ
Chí Minh.
Một số chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng đạt được năm 2008:
- Tổng phương tiện thanh toán ước tăng 16-17% và dư nợ tín dụng ước tăng 21-22%
so với cuối năm 2007. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,4% và tỷ giá giao dịch của
các ngân hàng thương mại tăng 8-9% so với cuối năm 2007.
- Lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng giảm nhanh trong những tháng cuối

tướng Chính phủ, đầu tháng 12/2008, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định cho
phép các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định lãi suất kinh doanh tối đa bằng 165% lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.
2.5. Hiện đại hoá hoạt động ngân hàng và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Công tác hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và phát triển thanh toán không dùng tiền
mặt trong năm 2008 tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ:
- Các hệ thống thanh toán tiếp tục được ứng dụng công nghệ hiện đại hoá, tiên tiến
theo hướng tự động hoá, mở rộng dịch vụ, phạm vi áp dụng và tăng nhanh tốc độ xử lý.
Đặc biệt, từ ngày 18/11/2008, hệ thống thanh toán liên ngân hàng giai đoạn 2 đã được vận
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 15
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
hành chính thức thay thế giai đoạn 1 với dung lượng xử lý lên đến 2 triệu giao dịch/ngày,
góp phần mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán, chu chuyển vốn của nền kinh
tế.
- Đề án xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất và tái cấu trúc công ty cổ
phần chuyển mạch thẻ quốc gia (Banknetvn) đang được triển khai tích cực. Đến nay, 2 liên
minh thẻ lớn nhất là Banknetvn và Smartlink với 65% số máy ATM của toàn quốc đã được
kết nối liên thông.
- Dịch vụ thẻ ngân hàng và mở tài khoản cá nhân phát triển nhanh chóng với khoảng
15 triệu tài khoản cá nhân, tăng 36% so với cuối năm 2007 và 13,4 triệu thẻ, tăng 46% so
với cuối năm 2007. Hệ thống máy ATM đạt hơn 7 nghìn máy, tăng hơn 2.200 máy so với
cuối năm 2007.
- Các dịch vụ hỗ trợ thanh toán của các công ty làm dịch vụ kết nối trung gian giữa
các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán với người sử dụng cũng bắt đầu xuất hiện và đang
mở rộng về nội dung, phạm vi hoạt động, góp phần thúc đẩy dịch vụ thanh toán điện tử
phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Sự phát triển của các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần giảm tỉ lệ
thanh toán bằng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán từ mức 18% vào cuối năm 2007
xuống còn 14% vào thời điểm hiện nay.
2.6. Tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong cộng

chuẩn mực kiểm toán quốc tế (IAS) thì các NHTMNN khó có được nguồn lợi nhuận để lại
để bổ sung nguồn vốn tự có hàng năm.
So sánh hệ số an toàn vốn của các NHTM Việt Nam với các NHTM ở khu vực Châu
Á cho thấy, chỉ số CAR của các NHTM Việt Nam thấp hơn tương đối so với các NHTM ở
khu vực Châu Á, thậm chí chỉ số này có nguy cơ xấu đi do tốc độ tăng tài sản có nhanh
hơn tốc độ tăng vốn tự có. Tại thời điểm năm 2003, chỉ số CAR bình quân của các ngân
hàng khu vực Châu Á Thái Bình Dương (gồm 52 ngân hàng thuộc 10 quốc gia) là 9,4% và
của các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipine là khoảng 12,3%. Xem xét chỉ số
CAR của các NHTMCP cho thầy, hầu hết các ngân hàng này đã đạt tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu là 8%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo thông lệ quốc tế đang là một trong những vấn
đề khó khăn của các NHTMNN.
3.2. Nợ xấu ngân hàng có xu hướng gia tăng
Khó khăn của nền kinh tế, trong hoạt động của mỗi ngân hàng đang dần thể hiện ở xu
hướng gia tăng của nợ xấu. Nếu trong năm 2007, đa số thành viên khối quốc doanh chỉ trên
dưới 3%, khối cổ phần phổ biến dưới 2%, thì năm nay dự kiến sẽ có nhiều trường hợp có
nợ xấu trên 5%.
Cuối năm 2008, một số ngân hàng lớn đã chính thức công bố tỷ lệ nợ xấu thực tế hoặc
mục tiêu kiểm soát từ 5% đến hơn 6%. Tuy nhiên, nhiều thành viên chưa có động lực để
công bố và cập nhật số liệu liên quan. Dự kiến từ đầu năm 2009, bức tranh về nợ xấu của hệ
thống ngân hàng sẽ rõ ràng hơn.
Liên quan đến vấn đề nợ xấu, sự suy giảm mạnh của thị trường bất động sản và chứng
khoán là những lo ngại nổi bật trong năm 2008, ảnh hưởng đến chất lượng và quan hệ tín
dụng của các ngân hàng thương mại. Riêng làn sóng giải chấp chứng khoán cầm cố (thu hút
sự chú ý của dư luận trong tháng 2 và 3) cũng là một điểm nổi bật trong năm khó khăn này.
3.3. Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng còn đơn điệu và chất lượng chưa cao
Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng còn đơn điệu và chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho các
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 17
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
khách hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ

chế. Thông tin không đầy đủ và thiếu kịp thời nên công tác thẩm định dự án, cập nhật thông
tin về khách hàng, đánh giá và dự báo nhu cầu của khách hàng tới các ngân hàng không
hiệu quả.
Khả năng kết nối mạng thanh toán cục bộ của các ngân hàng với mạng thanh toán
quốc gia và giũa các mạng thanh toán cục bộ với nhau còn nhiều khó khăn, do trình độ
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 18
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
công nghệ thanh toán của các ngân hàng không đồng đều, mật độ cơ sở cung cấp dịch vụ
ngân hàng còn mỏng và hạ tầng viễn thông quốc gia còn nhiều yếu kém.
3.7. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ còn thấp
Đội ngũ lao động của các NHTM Việt Nam tuy đông về số lượng nhưng trình độ chuyên
môn nghiệp vụ còn thấp, nhất là cán bộ quản lý. Cơ cấu tổ chức trong nội bộ các ngân hàng
còn chưa hợp lý, còn chồng chéo và chưa khoa học trong việc bố trí, phân định chức năng,
trách nhiệm và quan hệ theo các chiều ngang và dọc ảnh hưởng xấu đến công tác điều hành
của ngân hàng. Nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ là một vấn
đề mang tính chiến lược xuyên suốt và cần được các ngân hàng thương mại Việt Nam quan
tâm đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng để sẵn sàng hội nhập quốc tế.
4. Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém
4.1. Nguyên nhân khách quan
- Khuôn khổ pháp lý về hoạt động tiền tệ, ngân hàng chưa phù hợp và hoàn chỉnh.
Nhiều quy định, chính sách trong lĩnh vực ngân hàng chưa phù hợp với nguyên tắc thị
trường và các thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Hệ thống chính sách khuyến khích và sử dụng
lao động trong lĩnh vực ngân hàng chưa họp lý.
- NHNN còn chịu nhiều sự chi phối trực tiếp của Chính phủ và sự can thiệp của nhiều
cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng và thực hiện CSTT. Mức độ can thiệp hành
chính vào hoạt động ngân hàng thương mại còn lớn. Quyền lợi và quyền tự chủ kinh doanh
của các NHTM chưa được bảo đảm bằng pháp luật và trên thực tế, nhất là trong lĩnh vực
hoạt động tín dụng, nhất là các vấn đề liên quan đến quyền của ngân hàng với tư cách là
chủ nợ, nghĩa vụ của con nợ, bảo đảm nghĩa vụ tài chính, xử lý bảo đảm tiền vay ;
- Nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở trình độ phát triển thấp. Thể chế kinh tế thị

PHẦN III:
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 20
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
NHỮNG KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁT
TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

1. Tạo môi trường pháp lý - kinh tế - xã hội ổn định
Hiện nay, hành lang pháp lý của Việt nam còn rất nhiều bất cập cần phải thay đổi theo
hướng tạo quyền tự chủ cho các NHTM và các chi nhánh trực thuộc nhưng cũng phải gắn

trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu. Nước ta cần phải có một hoặc hai
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 21
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
ngân hàng thương mại quốc doanh có mức vốn điều lệ tương đối lớn ngang tầm khu vực
(tương đương vài tỷ USD). Muốn đạt được điều này cần phối hợp nhiều giải pháp: Có thể
sáp nhập một số NHTMNN thành một vài NHTM lớn hoặc trên cơ sở sáp nhập, sắp xếp lại
các NHTM, đồng thời cổ phần hóa một số NHTMNN, trong đó số vốn của Nhà nước đủ
sức chi phối những ngân hàng mới này. Qua đây có thể huy động nguồn lực trong công
chúng vào quỹ đạo của thị trường tài chính. Hoặc thông qua hình thức ngân hàng sở hữu
công ty, thực hiện chế độ tham dự đối với hàng loạt tập đoàn sản xuất kinh doanh, biến
NHTMNN trở thành tập đoàn mạnh về vốn, về cộng nghệ về năng lực điều hành đủ sức
làm “bà đỡ” cho phát triển kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Với những giải pháp mang tính định hướng trên đây, chắc rằng hệ thống ngân hàng
Việt Nam sẽ thoát khỏi tình trạng khó khăn trong một thời gian không xa . Tất nhiên cùng
với nó, phải có hàng loại giải pháp đồng bộ như xử lý dứt điểm nợ tồn đọng, nợ xấu của các
ngân hàng thương mại, lập công ty mua bán nợ và chứng khoán hóa các khoản nợ của hệ
thống ngân hàng, huy động vốn qua thị trường chứng khoán tránh tư tưởng ỷ lại, trông
chờ vào ngân sách Nhà nước. Và điều này không thể giải quyết trong một sớm một chiều
được.
3. Nâng cao sức mạnh, năng lực hoạt động của các NHTM.
Để tiến hành đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình các NHTM Việt
Nam có thể chọn lựa hai cách thức cơ bản:
- Tập trung khai thác các lợi thế sẵn có kết hợp với sử dụng một số thành tựu khoa
học công nghệ mới.
- Chủ yếu dựa vào sáng tạo và áp dụng tri thức công nghệ mới có tính cạnh tranh cao
ở cả trong nước lẫn trên phạm vi quốc tế, xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay còn nhiều
hạn chế, khó khăn các NHTM chưa thể thực hiện cách thứ hai nên có thể chọn cách trước.
Nhưng về lâu dài các NHTM sẽ phải từng bước chuyển sang thực hiện cách thứ hai để đảm
bảo cho sự phát triển bền vững, tham gia hội nhập và cạnh tranh quốc tế một cách chủ động
và có hiệu quả.

Tăng cường hợp tác và liên kết giữa các NHTM Việt Nam để có thể hợp lực giải
quyết những vấn đề lớn, đem lại lợi ích chung. Đồng thời cũng mở rộng hợp tác quốc tế để
tranh thủ sự trợ giúp nhiều mặt cả về tài chính, kỹ thuật và đào tạo, tư vấn của các ngân
hàng nước ngoài và tổ chức tài chính –tiền tệ quốc tế để đẩy nhanh quá trình này.
Tăng cường hợp tác, liên kết với các công ty tư vấn, cơ quan nghiên cứu để nâng
cao khả năng định hướng các hoạt động của mình cũng như dự báo đúng các xu hướng phát
triển của thị trường, công nghệ và đánh giá, thẩm định đúng các dự án vay vốn ngân hàng
để đầu tư cho các lĩnh vực mới, có áp dụng các công nghệ cao
4. Áp ụng tiến bộ khoa học kỹ thuât.
Hiện đại hoá đồng bộ hạ tầng kỹ thuật công nghệ trên phạm vi toàn hệ thống ngân
hàng; đồng thời bảo đảm sự tương thích và tính mở của hệ thống công nghệ thông tin. Hiện
đại hoá các hệ thống thanh toán ngân hàng theo hướng tự động hoá, phát triển hệ thống
thanh toán điện tử trong phạm vi toàn quốc và hiện đại hoá hệ thống thanh toán điện tử liên
ngân hàng kết nối đến hầu hết các NHTM để hình thành hệ thống thanh toán quốc gia thống
nhất và an toàn. Cụ thể:
4.1. Trong ngắn hạn:
Phát triển các kênh giao dịch điện tử, trước hết ở các thành phố, trung tâm kinh tế
lớn;
Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam Trang 23
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
Tổng kết chương trình tái cơ cấu, đặc biệt là chương trình phát triển thể chế quản trị
mới của NHTMNN để rút kinh nghiệm, đẩy mạnh và nhân rộng chương trình này ra cho
các NHTMCP (chiến lược kinh doanh, sổ tay tín dụng, kiểm toán nội bộ, quản trị rủi ro );
4.2. Trong trung hạn:
Hoàn thiện và chuẩn hóa các qui trình tác nghiệp và quản lý nghiệp vụ ngân hàng;
Hoàn thiện xây dựng các phần mềm quản lý nghiệp vụ ngân hàng cơ bản (quản lý tín
dụng, tài trợ thương mại, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng đầu tư, quản lý tài chính - kế toán,
dịch vụ thanh toán).
Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý tập trung tại Hội sở chính của các NHTM.
4.3. Trong dài hạn:

sâu, có tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác.
Bởi vậy, cần dành một quỹ thời gian để hướng dẫn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến
thức về chuyên môn nghiệp vụ, chú trọng nghiệp vụ marketing, kỹ năng bán hàng, thương
thảo hợp đồng và văn hoá kinh doanh.
7. Đa dạng hóa các kênh phân phối và thực hiện phân phối có hiệu quả.
Trong xu thế hội nhập, phát triển dịch vụ ngân hàng được xác định là một định
hướng chiến lược quan trọng của các NHTM Việt Nam. Trong đó, việc phát triển các kênh
phân phối là một trong những giải pháp tiên quyết, đòi hỏi phải tích cực phát triển mạng
lưới các chi nhánh cấp I, chú trọng mở rộng thêm các phòng giao dịch vệ tinh với mô hình
gọn nhẹ. Bên cạnh việc duy trì và mở rộng các kênh phân phối truyền thống như các chi
nhánh, các phòng giao dịch, các NHTM cần nghiên cứu và ứng dụng các kênh phân phối
hiện đại, đồng thời tăng cường quản lý phân phối nhằm tối đa hóa vai trò của từng kênh
phân phối một hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giao dịch ở mọi lúc, mọi nơi như:
- Tăng cường hiệu quả và khả năng tự phục vụ của hệ thống ATM nhằm cung cấp
nhiều loại dịch vụ khác nhau với chi phí rẻ hơn, nâng cấp hệ thống ATM thành những
“ngân hàng thu nhỏ” trải đều khắp các tỉnh, thành phố. Đồng thời, phát triển mạng lưới các
điểm chấp nhận thẻ (POS) và tăng cường liên kết giữa các NHTM để nâng cao hiệu quả và
mở rộng khả năng sử dụng thẻ ATM và thẻ POS;
- Phát triển loại hình ngân hàng qua máy tính và ngân hàng tại nhà nhằm tận dụng sự
phát triển của máy tính cá nhân và khả năng kết nối internet. Trong đó, các NHTM cần sớm
đưa ra các loại dịch vụ mới để khách hàng có thể đặt lệnh, thực hiện thanh toán, truy vấn số
dư và thông tin về cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, v.v;
- Phát triển loại hình ngân hàng qua điện thoại, đây là mô hình phổ biến với chi phí
rất thấp, tiện lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại
bất cứ thời gian, địa điểm nào;
- Mở rộng các kênh phân phối qua các đại lý như, đại lý chi trả kiều hối, đại lý phát
hành thẻ ATM, đại lý thanh toán.
Quá trình phát triển và hoàn thiện dịch vụ ngân hàng phải được thực hiện từng bước,
vững chắc, đồng thời có bước đột phá để tạo đà phát triển nhanh chóng trên cơ sở giữ vững
thị phần đã có và mở rộng thị trường, tạo nhiều tiện ích cho người sử dụng dịch vụ, kết hợp


KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status