Ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán HOSE - Pdf 45

Lời mở đầu
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh huy động vốn rất có
hiệu quả. Hoạt động này đã thu hút được nhiều các nhà đầu tư tham gia thị
trường. Sau hơn 10 năm hoạt động (TTCK) ở Việt Nam đã có khá nhiều
biến động xảy ra. Tuy nhiên trong quãng thời gian này đã có người kiếm
được khoản tiền khá lớn từ việc đầu tư chứng khoán nhưng bên cạnh đó
cũng không ít nhà đầu tư gặp nhiều rủi ro và thua lỗ khá nặng gây phá sản.
Giá chứng khoán của các công ty hầu như không ổn định chỉ số VNINDEX
biến động liên tục và hầu như là tụt dốc so với thời gian trước gây tâm lý
bất ổn cho các nhà đầu tư.Chính vì vậy các công ty chứng khoán trở thành
địa điểm tin cậy của các nhà đầu tư,nơi cung cấp các dịch vụ tốt nhất và
tiên tiến nhất cho các nhà đầu tư.Nơi đó có các chuyên gia phân tích cao
cấp-những người thường xuyên theo dõi biến động thị trường để đưa ra
những nhận xét,phân tích bổ ích cung cấp đến các nhà đầu tư như 1 cẩm
nang giúp các nhà đầu tư dựa vào đó và cùng những phân tích của bản thân
mình để đưa ra quyết định thích hợp.Vậy câu hỏi được đặt ra cho các
chuyên gia phân tích là gì?''Làm thế nào để phòng ngừa,có thể giảm thiểu
và tránh được rủi ro".Đây là 1 câu hỏi hàng đầu của các chuyên gia phân
tích. Một trong những phương pháp được sử dụng nhiều hiện nay nhằm tối
thiểu hóa rủi ro là nguyên tắc đa dạng hóa. Đa dạng hóa được thể hiện
thông qua việc đầu tư danh mục. Làm thế nào để có thể xây dựng được 1
danh mục đầu tư hiệu quả?
Trong thời gian thực tập tại công ty chứng khoán Liên Việt em đã
được gợi ý nghiên cứu lập danh mục đầu tư bằng phương pháp toán
học.Với vốn kiến thức được tích lũy sau gần 4 năm học đại học,rèn luyện
trong chuyên ngành Toán tài chính em quyết định lựa chọn đề tài: "Ứng
dụng lý thuyết danh mục đầu tư vào thị trường chứng khoán HOSE nhằm
xác định danh mục đầu tư hiệu quả của 1 số ngành".
Kết cấu chuyên đề của em gồm 3 chương:
- Chương I: Tổng quan về danh mục đầu tư chứng khoán
- Chương II: Một số lý thuyết và mô hình áp dụng trong việc xây

Cổ phiếu gồm 2 loại chính:cổ phiếu phổ thông(hay cổ phiếu thường)
và cổ phiếu ưu đãi.
●Cổ phiếu phổ thông
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt
động kinh doanh của công ty. Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được tham
gia họp Đại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề
quan trọng nhất của công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng
quản trị của công ty.
Loại cổ phiếu này được chia cổ tức đều đặn hàng năm và được tăng
giá trị cổ phiếu khi công ty kinh doanh có lãi và phát triển tốt.
●Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi tương tự như cổ phiếu phổ thông nhưng cổ đông sở
hữu nó không được tham gia bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị,
nhưng lại có quyền được hưởng thu nhập cố định hàng năm theo một tỷ lệ
lãi suất cố định không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty, được ưu tiên
chia lãi cổ phần trước cổ đông phổ thông và được ưu tiên chia tài sản còn
lại của công ty khi công ty thanh lý, giải thể.
Gọi là cổ phiếu ưu đãi vì thông thường cổ tức được chia cao hơn cổ
phiếu thường, và khi công ty bị thanh lý thì có ưu tiên thanh toán hơn cổ
phiếu thường. Có nhiều cách phân loại cho cổ phiếu ưu đãi tuỳ theo các
điều kiện ưu đãi cho cổ phiếu đó, có thể phân loại theo hình thức như sau:
Cổ phiếu ưu đãi được chia cổ tức cao hơn cổ phiếu thường, bù lại cổ
phiếu ưu đãi không được dự chia giá trị gia tăng của doanh nghiệp khi
doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn.
Cổ phiếu ưu đãi dự phần, cũng như trên, cổ phiếu này được chia cổ
tức cao hơn cổ phiếu thường, và thỉnh thoảng được dự chia giá trị gia tăng
của doanh nghiệp.
Cổ phiếu ưu đãi có lãi suất điều chỉnh, loại cổ phiếu này có lãi suất
(tức là cổ tức gắn theo sự điều chỉnh của lãi suất trái phiếu chính phủ và
được điều chỉnh từng quý một).

khác nhau trong hoạt động đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Danh mục
đầu tư biểu hiện sự phân bổ các tài sản đầu tư. Việc phân bổ tài sản là việc
lựa chọn các tài sản đầu tư nhằm mục đích được mức lợi nhuận dài hạn cao
nhất với một mức rủi ro thấp nhất. Trong quá trình đầu tư nhà đầu tư có thể
thay đổi các tỷ lệ nhằm tận dụng cơ hội xuất hiện để đạt được mức lợi
nhuận cao hơn. Khi nhà đầu tư nhận thấy triển vọng (hoặc kì vọng) về một
tài sản tốt họ có thể điều chỉnh danh mục đầu tư bằng cách giảm tỷ trọng
vào các tài sản không có triển vọng và tăng đầu tư vào các tài sản có tỉ
trọng cao có triển vọng tốt hơn.
Danh mục đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ, khả năng
hiểu biết và phân tích TTCK của các nhà đầu tư, mức thuế suất với từng
đối tượng nhà đầu tư, lứa tuổi, tâm lý, tính chất nhà đầu tư, thái độ của nhà
đầu tư với rủi ro có người thì ưa thích rủi ro, có người thì dung hòa nhưng
cũng có người thì e ngại rủi ro,…do đó với nhà đầu tư khác nhau thì có
danh mục đầu tư khác nhau. Việc quyết định đầu tư phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: tình hình tài chính của nhà đầu tư, thông tin về các tài sản đầu
tư, xu thế chung của thị trường, mức chấp nhận rủi ro của chính nhà đầu tư.
Tương ứng với mức chấp nhận rủi ro khác nhau thì lợi suất kỳ vọng
danh mục của từng nhà đầu tư cũng khác nhau. Với nhà đầu tư ưa thích rủi
ro, có thể chấp nhận một mức rủi ro cao thì lợi nhuận kỳ vọng cao. Ngược
lại, các nhà đầu tư e ngại rủi ro có mức chấp nhận rủi ro thấp tương ứng với
lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn.
1.2.2.Sự cần thiết phải đầu tư chứng khoán theo danh mục
Đối với nhà đầu tư trên thị trường, đầu tư chứng khoán là một hoạt
động đầu tư mang lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên, điều đầu tiên họ phải chấp
nhận là không bao giờ có sự đầu tư nào đem lại lợi nhuận mà không có rủi
ro. Nói cách khác khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, họ không thể
chắc chắn về lợi nhuận thu được; mặt khác khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư
đơn lẻ vào một loại cổ phiếu thì sẽ đối mặt với độ rủi ro cao. Do đó, nhà
đầu tư cần thiết phải xác định một danh mục đầu tư cho phù hợp với mức

đầu tư đã đề ra, hoặc khi có một cơ hội thực sự lớn hơn. Đồng thời cần phải
tiến hành quản lý danh mục đầu tư, việc quản lý này đòi hỏi nhà đầu tư và
người quản lý danh mục phải theo sát các tin tức quan trọng liên quan đến
công ty trong danh mục đầu tư. Chiến lược quản lý danh mục đầu tư ở đây
có thể là chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động; chiến lược quản lý
chủ động và chiến lược quản lý hỗn hợp.
- Chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động là chiến lược mua và
nắm giữ. Khi các nhà đầu tư đều có cùng một đánh giá chung về lợi suất và
rủi ro một tài sản,có cùng quan điểm là các tài sản được định giá đúng thì
các nhà đầu tư lúc này sẽ quyết định nắm giữ tài sản này trong danh mục.
Tỷ trọng của tài sản trong danh mục không thay đổi trong một thời hạn dài
nhất định mặc dù các tài sản này bị biến động trên thị trường.
- Chiến lược quản lý chủ động là chiến lược quản lý mà nhà đầu tư
cho rằng các tài sản được định giá sai.Hay qua phân tích và dự báo, lợi suất
và rủi ro của tài sản phân tích khác với số đông.Lúc đó nhà đầu tư quyết
định điều chỉnh danh mục để kiếm lời. Do đó, danh mục của chiến lược đầu
tư chủ động luôn biến đổi theo biến động của thị trường.
- Chiến lược quản lý hỗn hợp là chiến lược kết hợp cả hai chiến lược
trên. Nhà đầu tư căn cứ vào tình hình chung của thị trường và các kết quả
định giá tài sản để tiến hành quản lý danh mục đầu tư.
Chương 2:
Một số lý thuyết và mô hình áp dụng trong việc xây
dựng danh mục
2.1.Phân tích chứng khoán dựa trên các mô hình và lý thuyết cơ
bản
2.1.1.Các lý thuyết cơ bản trong việc xác định danh mục đầu tư
a.Lý thuyết thị trường hiệu quả
Một thị trường vốn hiệu quả là nơi mà giá chứng khoán điều chỉnh
nhanh chóng mỗi khi xuất hiện thông tin mới và do đó mức giá hiện tại của
một chứng khoán bất kỳ là kết quả phản ánh mọi thông tin liên quan đến

trong tương lai có thể khác với dự tính ban đầu.
Người ta chia rủi ro thành hai loại, đó là rủi ro hệ thống (rủi ro thị
trường) và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống bao gồm rủi ro lãi suất, rủi
ro sức mua… chúng đều không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi
đến thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán. Ngược lại rủi ro phi hệ
thống do các yếu tố nội tại gây ra, có thể kiểm soát được và chỉ tác động tới
một ngành, một công ty hay một loại chứng khoán nào đó.
Rủi ro khi đầu tư chứng khoán là không thể tránh khỏi nhưng chúng
ta có thể kiểm soát được. Một trong những biện pháp được căn cứ để kiểm
soát rủi ro là “đa dạng hóa đầu tư”. Theo đó việc đầu tư nên được thực hiện
qua nhiều loại tài sản vốn khác nhau tạo thành một danh mục đầu tư sao
cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục được giới hạn nhỏ lại.
Khi tiến hành đa dạng hóa danh mục đầu tư thì lợi suất và phương
sai của danh mục được tính như sau:
Lợi suất danh mục: E(r
P
) = w
1
E(r
1
) + w
2
E(r
2
) +…+ w
n
E(r
n
)
=

σ
i
2
+
1 1
n n
i j= =
∑ ∑
w
i
w
j
cov(r
i
,r
j
)
Trong đó:σ
d
2

là phương sai của danh mục
σ
i
2
là phương sai của tài sản i
cov(r
i
,r
j

Theo như cách phân loại đã đề cập ở phần trước: mỗi một loại chứng
khoán đều tiểm ẩn hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường) và rủi
ro phi hệ thống. Tuy nhiên rủi ro phi hệ thống không phải là yếu tố được sử
dụng để xác định mức lợi suất kỳ vọng, vì rủi ro này có thể bị mất đi nếu
danh mục được đa dạng hóa hoàn hảo. Do đó rủi ro hệ thống là một trong
những yếu tố quyết định mức lợi nhuận dự kiến của một tài sản, vì thế
chúng ta cần biết cách thức đo mức độ rủi ro hệ thống cho các khoản đầu tư
khác nhau. Thước đo mà chúng ta sẽ sử dụng là hệ số Bêta (β).
Hệ số β cho ta biết mức rủi ro hệ thống của từng tài sản cụ thể so với
mức rủi ro hệ thống trung bình của tất cả tài sản là bao nhiêu.Theo định
nghĩa này, một tài sản nào đó có β = 0,5 nghĩa là: mức độ rủi ro có hệ thống
của tài sản này bằng một nửa so với mức rủi ro trung bình của một tài sản.
Đây là lý do giải thích tại sao khi phân tích rủi ro của từng cổ phiếu riêng lẻ
để đưa vào danh mục đầu tư, nhà đầu tư phải quan tâm nhiều đến phần rủi
ro hệ thống hơn là rủi ro tổng thể của danh mục.
Ta có: Tổng rủi ro = rủi ro hệ thống + rủi ro phi hệ thống

Đồ thị 2.1 : Rủi ro của danh mục
Nhìn trên đồ thị ta thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro của
danh mục với số lượng chứng khoán. Khi số lượng chứng khoán càng
Số lượng chứng khoán
Rủi ro
phi hệ
thống
Rủi ro
hệ
thống
Rủi ro tổng thể
nhiều thì rủi ro phi hệ thống của danh mục ngày càng nhỏ kéo theo rủi ro
của danh mục cũng càng nhỏ.


0 1/A
σ
2
P

Đồ thị 2.2 : Danh mục hiệu quả
2.1.2.Lựa chọn 1 số mô hình lý thuyết để phân tích và xác định
danh mục đầu tư hiệu quả
1)mô hình Markowitz
Mô hình Markowitz đã cung cấp một 1 cách thức xác định danh
mục đầu tư tối ưu.Đó là danh mục mà với mỗi lợi suất kỳ vọng cho trước ta
lựa chọn được rủi ro ít nhất hoặc với mỗi rủi ro ít nhất ứng với mức lợi suất
kỳ vọng lớn nhất.Với mô hình Markowitz cổ điển người ta đưa ra 2 bài
toán:
Với: r
i
là lợi suất tài sản i

i
σ
là độ dao động của tái sản i

ijji
rr
σ
=
),cov(
V =
[ ]

n
T
r
r
r
r
...
2
1

[ ]
)1...11(1
=

[ ]














=


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status