DSpace at VNU: Quan hệ triều cống Việt Nam- Trung quốc trong lịch sử thời trung đại (938-1884) - Pdf 45

QUAN HỆ TRIÈU CỐNG VIỆT NAM - TRUNG QUỐC
TRONG LỊCH s ủ THỜI TRUNG ĐẠI (938 - 1884)
N

1.
Trung đại

g

u

y



n

M

i n

h

T

ư



n


2. Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb Khoa học xã hội, H. 1998, tập 1, tr. 211.
3. Việt sử lược. Sđd, tr. 58.
4. Lưu Xưởng: Vua cuối cùng của Nam Hán (958-970), đầu hàng tướng nhà Tống là Phan Mỹ.
5. Đại Việt sử kỷ toàn thư. Sđd, tập 1, tr. 211.
6. Việt sừ lược. Sđd, tr. 55.
795


VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THÚ T ư

mà: “Sai Nam Việt vương [Đinh] Liễn sane sứ thăm nhà Tống” 1. Sách Cương mục
chép giống Toàn thư: “Thái Bình năm thứ 3 (972): Sai Nam Việt vương [Đinh] Liễn
sang nhà Tống, đem biếu sản vật địa phương”2. Tiếp đó, cả Toàn thư và Cương mục
đều chép: “Thái Bình năm thứ 4 (973): Nam Việt vương [Đinh] Liễn đi sứ về. Nhà
Tống sai sứ sang phong cho vua [Đinh Tiên Hoàng] làm Giao Chỉ Quận vương,
[Đinh] Liễn làm Kiểm hiệu Thái sứ Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ... .
Sử gia đầu thế kỷ XIX, Phan Huy Chú (1782-1840) nhận xét về sự kiện trên
như sau: “Nước ta từ thời Hùng Vươne, mới bắt đầu thône, hiếu với Trung Quốc,
nhưng danh hiệu còn nhỏ, không được dự vào hàng chư hầu triều hội ở nhà Minh
Đường4... Đến sau nội thuộc vào nhà Hán, nhà Đường, bèn thành quận huyện. Đen
khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ
điển lễ sách phong của Trung Quốc mới nhận cho đứng riêng là một nước”5.
Qua những ghi chép trên đây của chính sử Việt Nam, cho ta thấy Việt Nam và
Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ bang giao vào đầu thập niên 70 của thế kỷ X.

2. Vấn đề sính lễ, triều cống và sách phong
Trong thời đại quân chủ, quan hệ bang giao giữa các vương triều của Việt
Nam và Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở Sách phong , Triều cong. Đây là một
kiểu quan hệ đặc biệt, kinh nghiệm trên thế giới, chỉ thấy có trong quan hệ giữa
Trung Quốc với các nước láng giềng, mà Việt Nam thường được xem là một thí dụ

QUAN HỆ TRIỀU CỐNG VIỆT NAM - TRUNG QUỐC.

thống trị, song nước đó phải được Trung Quốc xếp vào hàng “Phiên bang” ('/# ^|ỉ),
hoặc

"Phiên quốc”

(fir IU ), (nước che chắn xung quanh), thường xuyên triều cống.

Su y nghT và lý giải nguyên nhân vì sao các vương triều V iệ t N am thườnẹ
xuyên phải xin cầu phong T ru n g Q uố c, sử eia Phan H uy C h ú viết: “ N ư ớ c V iệ t ta,
có cả cõi đất phía N am , m à thông hiếu với Tru ng H oa. tuy nuôi dân dựne nước có
quy mô riêng, nhưng ở trone thì xư ne

Đe,

Vương, vẫn
N am “chịu

mà đối với ngoài thì xưng

lý thế thực phải như thế” 1. “ Cứ/ lý” buộc V iệ t
phong hiệu” , “xưng vương” vớ i T ru n g Q uốc m à Phan H u y C h ú nói tới
chịu phong hiệu, xét

ở đây là cái

thực tế V iệ t N am là một nước nhỏ, lại ở cạnh T ru n g Q u ố c, lớn hơn nhiều lần và là
một đế quốc thường xu yên nuôi ý đồ thôn tính V iệ t N am . B ở i vậy, để có thể tồn tại
(.tộc lập được, cũ n e như có thể sốnẹ hòa m ục vớ i naười láng giềng khốriR lồ ấy. V iệ t

sự nước C ô n D i. C h ỉ riêng bậc trí giả m ới có thể lấy nước nhỏ phụng sự nước lớn.
V í như việc T h á i vương [nhà C hu] phụng sự nước H uân D ụ c ; C â u T iễ n [nước V iệt]
phụng sự nước Ngô.
L ấ y nước lớn phụng sự nước nhỏ, là an vui vớ i mệnh trời.
L ấ y nước nhỏ phụng sự nước lớn, là kính phục mệnh trời.
A n vui vớ i mệnh trời thì bảo vệ được thiên hạ, kính phục mệnh trời thì bảo vệ
được nước m ìn h” .

Kỉnh Thỉ có câu rằng: “ Kính phục uy trời, theo thời thì bào vệ được mình” .
T ư tưởng trên đây của Nho giáo đã ảnh hư ớ ns đến giai cấp thống trịthời quân
chủ V iệ t N arn, qua các văn bản kinh điển được giảng dạy, truyền bá rộng rãi,
sách

Le ký, sách Xuân Thu

củ a K h ổ n g Tử,

sách Mạnh Tử của

như

M ạnh T ử . .. T h í dụ

ngay như L ê Th án h T ô n g (14 42-14 97), m ột vị vua tiêu biểu cho ý ch í tự cường dân

tộc mạnh mẽ ở nửa sau ihế kỷ XV, quan niệm: “ Đợr/ hoài, tiểu ủy” (~ỳ\ tu 'h H )
(N ư ớc lớn thân thiện, nước nhỏ sợ u y )1.

Ke cả Phan Huy Chứ, một sử gia đầy tinh thần tự hào dân tộc, vẫn không thoát
khỏi tư tưởng

“Sính” (IỊệ),

chứ không phải

(ận f t ) , m ặc dù trong sử Trung Q u ố c bao eiờ cũng viết là

Cống (Mị
T h ờ i kỳ này, trong các bộ chính sử V iệ t N am như

Toàn thư, Cương mục...

đều chép về v iệ c các vương triều sai sứ thần sane Tru ng Q u ố c thường sử dụng các
từ như:

“Khiển”

(Đ e m sang),

“Báo sính”

(Đ á p lễ, thăm hỏ i),

uTu hiếu”

(Thông

h iế u ), v .v ...

T h í dụ:



5. N h ư

tr ê n , t ậ p 1, tr. 2 6 1 .

6. N h ư

t r ê n , t ậ p 1, tr. 3 0 6 .

799


VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO ỌUÓC TÉ LÀN TH Ứ T ư

Th eo các nguồn sử liệu V iệt Nam ghi chép như:

Toàn thư, Bang giao chỉ

( t r o n g L ị c h t r iề u h iế n c h ư ơ n g lo ạ i c h í c ủ a P h a n H u y C h ú ) , C ư ơ n g m ụ c . . . . t h ì đ ố i

với V iệ t N am ,

“chế độ triều cống Trung Quốc”

bắt đầu một cách chính thức vào

giữa thế kỷ X I I I , cụ thể vào năm thứ 8 niên hiệu N g uyên Phong (1 2 5 8 ), triều Trần
T h ái Tông. Sách

Toàn thư chép:

cổng ( f t )



Sính (Ipặ).

N ếu

“Cống" là

phải nộp nhũng sản vật quý như: vàng, bạc, sừng tê, ngà v o i... cho nước lớn

mạnh, có tính bắt buộc, thì " Sính" chỉ là
Sách

Le ký chép,

quà thăm

hỏi.

ở Truníi Q uốc thời cổ, các nước chư hầu có quan hệ ngoại

giao khi cử sứ giả qua lại thăm hỏi lẫn nhau và tặng biếu lễ vật, gọi là

Sính. Sính lề

không định kỳ hạn nhất định, thường được tiến hành khi hai bên m uốn giao hiếu,
báo tin thắng trận hoặc sau khi được sách phong3. T h ậm ch í, trong thời Đ ông C hu
(770 ír. C n - 2 2 1 ) , vua Thiên tử nhà C h u không còn thực sự giữ vững được vị thế

tới sính nước L ỗ . M ở đầu v iệ c các nước chư hầu sính lễ vớ i nhau” .
T h eo các bộ

là Cổng' (H ạ
S ách

Từ điên Trung Quốc giải

thích:

"Bèn dưới hiến dâng lên trên gọi

phụne thượng viết: cống).

Từ Hải giải

thích: “ cống,

Hiến, cố thường chỉ bả vật pham tiến hiến cấp

Thiên tử”] (nghĩa là: cống là dâng lên trên. Thời cổ đại thường thường đem vật
phẩm dâng tiến để cung cấp cho T h iê n tử).

Khang Hy tự điến giải thích: “ C ố n g , H iến dã - Thư - Vũ cổng tự: Vũ biệt
cỉm châu tùy sơn tuấn xuvẽn nhậm thổ tác cổng”2 (nghĩa là: c ố n g là dâng lên trên.
S ách

Thiên Vũ cống sách Kinh Thư cho biết: Vua Hạ Vũ chia 9 châu, tùy theo địa hình
núi, sông, chất đất tốt xẩu kh ác nhau m à định chế độ cống).



chiến tranh, sự biến chính t r ị... nên trên thực tế, chế độ triều cốna không thực hiện
đúng. C h ỉ từ sau khi vương triều L ê (14 28-17 88) ra đời và thiết lập n so ạ i giao với
nhà M inh (13 6 8 -1 6 4 4 ), thì chế độ triều cống m ới được tiến hành nghiêm ngặt. Sách

Minh thực lục cho biết Trune Quốc quy định 3 năm một lần cống đối với Việt Nam
được bắt đầu năm 1375: "N gày 6 tháng 6 năm H ồng V ũ thứ 8 (4 -7 -1 3 7 5 )... V u a A n

Nam Trần Đoan (tức Trần Duệ Tôna - TG) sai bọn Thône nghị Đại phu Nguyễn
N hược K im đến triều yết, xin cho biết kỳ hạn tiến cổ n g ... V ì vậy, quan T ru n g thư
sảnh được lệnh dụ các nưó'c A n Nam , C ao L y , C h iê m Th ành rằng: “ K e từ nay 3
năm đến triều cống một lần. nếu các vương muốn đen cổnơ một đời một lần thi
cũng được” 1. C h ế độ V iệ t N am , 3 năm triều cốna một lần được duy trì cho tới năm
1584, tức năm D iê n Kh ánh thứ 7 đời M ạc M ậu Hợp (1562-1592) (ngang với năm
Vạn L ịc h thứ 12 đời M inh Thần Tông: 1573-1619), thì chuyển sang lệ 6 năm một
lần cống, theo phương thức gộp 2 kỳ lại làm một. Sách

Minh thực lục chép:

“N gày

22 tháng G iê n g năm V ạn L ịc h thứ 12 (4-3 -1 584): Đ ô Thống sứ A n N am M ạc Mậu
H ợp từ khi được thế tập chức tước đến nay, triều cổng không thiểu. N a v đúng kỳ

hạn cho 3 năm cống, lại cống bồi 2 kỳ (6 năm 1 lần cống - TG)...” 2. Sang triều
Th an h (1 6 4 4 -1 9 1 1 ), vào năm K h an g H y thứ 6 (ngang với niên hiệu C ả n h T rị thứ 5
(1667) đời L ê H u yền TÔH 2 - V iệt Nam ), lại thực hiện 6 năm một lần cống như thời
V ạ n L ịc h nhà M in h.
V iệ c triều cống của V iệ t Nam đối với Trun g Q uốc, tiếp tục được thực hiện vào
triều N guyễn (1 8 02-19 45), và ch ỉ thực sự chẩm dứt vào năm 1884, năm Pháp chính

1. Thái Tỏ thự c lụ c , q. 100, t ờ 2 b - 3 a .
2. Thần tông thự c lụ c , q. 145, t ờ 4 b - 5 a .

802


QUAN HỆ TRIỀU CỐNG VIỆT NAM - TRU NG QUỐC.

N am ), L ê Th àn h K h ô i trong

Le Vietnam, Histoire et civilisation

(N ư ớ c V iệ t Nam ,

lịch sử và văn m in h ) ...

Trong vòng 50 năm trở lại đây, vấn đề Việt Nam - Trung Quốc được nhiều
nha Đ ông phương học người N ga quan tâm nehiên cứu. Trong số đó, cần kể tới
công trình

Quan hệ Việt

N am

- T ru n g Q u ố c

thế kỷ

X V Ỉ I - X 1 X của nữ sử gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status