TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI &
NHÂN VĂN
VIỆN XÃ HỘI HỌC
--------*-------
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI TRONG GIA
ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Trịnh Duy Luân
Hà Nội, 2009
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc (tháng
2/1990). Các quyền cơ bản của trẻ em được Việt Nam tôn trọng và luật hoá trên
cơ sở phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đặc biệt được
thể hiện trong Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) được Quốc hội thông
qua ngày 15/6/2004. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân gia đình, Luật chống bạo lực
gia đình cũng dần được ban hành và thực thi. Các chức năng của gia đình như
chức năng kinh tế, giáo dục, duy trì và phát triển nòi giống, chức năng thỏa mãn
tình cảm cũng được khẳng định, ghi nhận rõ ràng và khoa học hơn. Trách nhiệm
và quyền lợi của các thành viên trong gia đình đang tiến dần tới sự công bằng,
mối quan hệ giới cũng được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, trách nhiệm giữa các
thành viên trong gia đình cũng không quá khắt khe như trước, mỗi người chịu
trách nhiệm về hành vi của mình trước gia đình, pháp luật và xã hội. Sự biến đổi
kinh tế - xã hội đã tác động sâu sắc đến sự biến đổi các quan hệ gia đình, trong
đó có quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Cho đến nay việc tìm hiểu thực chất chất keo kết dính trong mối quan hệ
giữa các thành viên gia đình vẫn luôn là một vấn đề phức tạp. Có thể nói, sự gắn
bó giữa các thành viên trong gia đình luôn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Nó
không phải chỉ đơn thuần là yếu tố vật chất mà còn là những yếu tố phi vật chất,
những giá trị tinh thần, tình cảm, đạo đức vốn không thể thiếu được trong cuộc
sống hàng ngày của gia đình. Thực tế cho thấy, vượt lên trên tất cả vẫn là những
yếu tố về mặt tình cảm, sự yêu thương gắn bó giữa các thành viên trong gia
đình. Chính những yếu tố này đã là cơ sở quan trọng nhất đối với sự tồn tại của
các quan hệ gia đình.
Mặc dù trên thực tế, nhiều mâu thuẫn bất đồng trong gia đình đã được nảy
sinh từ những thay đổi trong quan niệm sống hay từ những lý do kinh tế nhưng
chính tình cảm, sự yêu thương giữa các thành viên trong gia đình, sự nhường
nhịn, hòa thuận trong mối quan hệ gia đình đã giúp các gia đình vượt qua được
những khó khăn, trở ngại để tiếp tục tồn tại, gắn bó với nhau hơn.
3
Books xuất bản năm 1985): “Theo một nghĩa chặt chẽ nhất, gia đình nói lên một
4
đơn vị thân tộc cơ bản. Trong hình thức tối thiểu của nó hay là hình thức hạt
nhân, gia đình gồm mẹ, bố và các con. Rộng ra nó có thể nói lên gia đình mở
rộng, có thể gồm ông, bà, anh chị em họ, con nuôi… tất cả đều hành động như
một đơn vị được công nhận…” [Penguin Books, 1985, tr.269].
Mối quan hệ trong gia đình phản ánh kết cấu nội tại của hệ thống gia đình.
Hình thức, nội dung và cách thức quan hệ gia đình phụ thuộc vào các loại hình
gia đình như truyền thống hay hiện đại, hạt nhân hay mở rộng… Ngoài ra, nó
còn phụ thuộc vào cơ cấu gia đình và khung cảnh văn hóa xã hội.
Trong gia đình truyền thống, một hệ thống các chuẩn giá trị cổ truyền được
hình thành và tồn tại với những biểu tượng như “tam tứ đại đồng đường”, “đông
con, nhiều cháu”, “tam tòng tứ đức”, “trên kính dưới nhường” v.v… Vấn đề
quan hệ giữa các thế hệ vốn được xem như một chuẩn mực, giá trị. Các quan hệ
này có sự phân biệt theo trật tự cha mẹ, con cái và chồng vợ, song quyền lực của
cha mẹ và chồng (nam giới) không có tính tuyệt đối như trong gia đình Nho
giáo. Con cái trong gia đình phải nghe lời và tuân thủ ý kiến của cha mẹ. Con
cái phải biết ơn và tôn trọng cha mẹ.
Ở Việt Nam, những khảo luận và phân tích về gia đình cũng đã được chú
ý từ rất lâu. Trong lịch sử, cha ông ta không chỉ để lại cho con cháu những giá
trị truyền thống về tính cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái, sự ham học
hỏi và tôn trọng tri thức mà còn là sự tôn trọng và bảo vệ các giá trị gia đình và
vai trò của nó trong việc tổ chức và điều hành xã hội. Điều này thể hiện rất rõ
trong các câu chuyện lịch sử, trong văn chương bác học và văn học dân gian (Cá
không ăn muối cá ươn. Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư..). Có khi gia
đình là đề tài riêng biệt, cũng có khi nó được đề cập đến trong các đề tài khác và
nó cũng thường được đề cập trong các chính sách, chiến lược xây dựng và phát
triển đất nước.
Cũng bàn về sự biến đổi trong các chức năng của gia đình, Vũ Mạnh Lợi
& Vũ Tuấn Huy đã chỉ ra rằng: Trong những thay đổi quan trọng nhất các chức
năng của gia đình là sự “đổi ngôi” trong giá trị con cái, từ chỗ con cái được xem
như một tài sản (hay lao động) sang việc con cái được coi như nguồn thỏa mãn
6
nhu cầu tình cảm của cha mẹ (điều này thường đi kèm với sự “đổi ngôi” khó
khăn khác là vị trí của người già trở nên yếu đi)... [Vũ Tuấn Huy, 2004, tr.35].
Trong cuốn "Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” (2002)
của GS. Lê Thi, đã nghiên cứu những chuyển đổi của gia đình Việt Nam khi đất
nước chuyển sang thế kỷ XXI; tiếp cận các vấn đề của gia đình ở góc độ giới.
Trong đó, chương III: tác giả đã đề cập đến vần đề xây dựng mối quan hệ tốt
đẹp giữa cha mẹ và con cái từ góc độ tâm lý và tình cảm. Những yếu tố xã hội
đang ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái hiện nay như: sự đổi
mới về cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường đã
nâng cao mức hưởng thụ vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình;
sự phát triển nhanh chóng đa dạng của các phương tiên thông tin đại chúng;
quyền tự do bình đẳng, dân chủ; quỹ thời gian dành cho con cái ít ỏi... Do đó,
các thành viên trong gia đình cần một nghệ thuật ứng xử đúng đắn mới đảm bảo
gia đình trở thành tế bào của xã hội trong gia đoạn chuyển đổi.
Nhiều kết quả điều tra xã hội học cho thấy, quan hệ giữa cha mẹ và con
cái đang là mối quan tâm hàng đầu trong việc củng cố các quan hệ gia đình. Hầu
hết những người được hỏi đều cho rằng cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc giáo
dục lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà cho thế hệ trẻ. Có tới 94,6% ý kiến
người được hỏi cho rằng họ được hấp thụ lòng hiếu thảo từ gia đình qua ông bà,
cha mẹ, 88,5% số người được hỏi cho rằng cần phải dạy dỗ lòng hiếu thảo cho
con cháu. Theo tương quan với thu nhập, nhu cầu phải truyền dạy sự hiếu thảo
cho con cái ở các gia đình giàu có cao hơn các gia đình nghèo: 92,6% gia đình
dục trẻ, như là người thầy đầu tiên, là linh hồn của gia đình v.v... và có phần
xem nhẹ vai trò của người cha, một trụ cột của gia đình và có ảnh hưởng lớn đến
sự hình thành phát triển nhân cách của trẻ. Sự thiếu vắng người cha ở các gia
đình phụ nữ đơn thân, nuôi con một mình đã dẫn đến những hạn chế nhất định
trong việc giáo dục con.
Người cha, đặc trưng cho lý trí, kỷ cương của gia đình, là tấm gương để
các con noi theo, đặc biệt là con trai. Do đó, người cha cần tham gia vào việc
nuôi daỵ con từ nhỏ, dành thời gian chơi với con, chăm sóc hướng dẫn con một
cách tin cậy. Cần khắc phục quan niệm cho rằng nuôi dạy con là việc của phụ
8
nữ... Thực tế, đây là công việc của cả hai vợ chồng, cùng có trách nhiệm, chung
lưng đấu cật nuôi dạy con cái. Đó cũng chính là quyền lợi thiết thân của cả hai
người, qua đó con cái có tình cảm thương yêu, gắn bó với cả cha và mẹ.
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ mật thiết tình cảm. Ngay từ
nhỏ, mối quan hệ này là khuôn khổ cần thiết cho sự phát triển của trẻ, làm cho
sự trưởng thành sinh học của nó và những mối liên hệ của nó phù hợp với môi
trường. Sự phụ thuộc về vật chất và mật thiết về tình cảm tạo ra sự kết dính
mạnh mẽ giữa con cái với những người chăm sóc nó là bố mẹ. Vì thế đối với trẻ,
gia đình đại diện cho thế giới rộng lớn xung quanh nó. Do đó, sự cảm nhận về
thế giới, về xã hội, về chính bản thân ảnh hưởng trực tiếp bởi thái độ, hành vi,
niềm tin của bố mẹ. Thông qua các thông tin thành văn và bất thành văn, cha mẹ
đã truyền đạt lại cho con cái những giá trị, niềm tin, thái độ và cả những tri thức
về thế giới xung quanh.
Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người sinh ra, bắt đầu một
cuộc đời, bắt đầu sự nhận biết và trong suốt cuộc đời cho đến khi kết thúc. Rõ
ràng quá trình xã hội hóa của một người từ những năm tháng đầu tiên của cuộc
đời có ảnh hưởng quyết định tới những thái độ và hành vi khi đã lớn. Những gì
mà cá nhân thu nhận được từ gia đình là rất đáng kể. Một trong những khía cạnh
“Ảnh hưởng của địa vị xã hội của cha mẹ lên giáo dục đạt được của con cái” tại
Tiền Giang thì cho thấy: địa vị xã hội của cha mẹ có ảnh hưởng nhất định đến
việc học của con cái. Tuy nhiên, ảnh hưởng này khá phức tạp và có thể bị can
thiệp bởi nhiều yếu tố. Học vấn của cha mẹ là một yếu tố quan trọng giải thích
sự khác biệt về học vấn của con cái thuộc các gia đình có học vấn bố mẹ khác
nhau. Tuy nhiên, nếu mặt bằng học vấn chung của cha mẹ còn thấp dưới cấp
trung học cơ sở thì sự khác biệt giữa hai nhóm trẻ thuộc cha mẹ có học vấn cấp
tiểu học và trung học cơ sở sẽ không rõ lắm. Sự khác biệt chỉ thực sự rõ khi bố
mẹ có học vấn từ cấp ba trở lên. Vấn đề là những đứa trẻ thuộc gia đình có bố
mẹ học vấn cấp 3 trở lên sẽ có nhiều khả năng để học hết cấp 3 và học lên cao
hơn. Trong khi đó, những đứa trẻ có cha mẹ học vấn tiểu học hoặc trung học cơ
sở thường kết thúc việc học hành ở trình độ trung học cơ sở và vì vậy chúng khó
có thể có cơ hội có việc làm cao. [Kết quả nghiên cứu khảo sát tại Tiền Giang,
2005].
10
Thái độ của các gia đình nông thôn với việc học tập của trẻ em cũng được
thể hiện ở nguyện vọng, dự định của họ. Có thể nói dự định “các con đều hết cấp
II” được những người mù chữ tính tới nhiều nhất (100%), rồi đến những người
biết đọc, biết viết (13,3%). Kết quả điều tra cho thấy, các bậc cha mẹ càng có
trình độ học vấn cao thì càng mong muốn con cái học cao (hết cấp III). Con số
này ở những người học hết cấp I là 1,2%, hết cấp II là 12%, hết cấp III là 14,2%
và số người có trình độ đại học là 50%. Xét theo nghề nghiệp, nhóm gia đình
làm nghề “nông nghiệp kết hợp với nghề khác” có nhiều người mong muốn cho
con học lên cao (16,9% tùy con trai, con gái hết phổ thông trung học). Dự định
cho con học hết cấp III ở nhóm gia đình “phi nông nghiệp” cao hơn hẳn (30,4%)
so với nhóm gia đình nông nghiệp (8,3%). [Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em,
2004].
Các nghiên cứu về mối quan hệ cha mẹ và con cái trong gia đình bao gồm
cứu của các công trình có liên quan đến chủ đề này, đồng thời phát hiện thêm
những vấn đề mới nhằm làm rõ hơn mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong
gia đình nông thôn hiện nay dưới tác động của sự chuyển đổi kinh tế - xã hội
đang diễn ra hiện nay ở nước ta.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Bằng cách phân tích các tác đông của điều kiện kinh tế – xã hội làm biến
đổi văn hóa gia đình, các chức năng cơ bản của gia đình, vai trò xã hội của gia
đình, đề tài góp phần bổ sung vào lý thuyết đã có với những luận điểm, lập luận
về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn hiện nay.
- Phát hiện và khái quát những biểu hiện của những thay đổi chức năng xã
hội hóa của gia đình Việt Nam trong sự chuyển đổi từ truyền thống đến hiện đại.
- Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ giữa cha mẹ và
con cái trong việc xây dựng gia đình nông thôn ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ một số biểu hiện của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong
đời sống gia đình nông thôn dưới tác động của những biến đổi kinh tế – xã hội ở
nước ta trong gia đoạn hiện nay.
12
- Nghiên cứu đánh giá vai trò, sự tương tác, chức năng xã hội hóa và xã
hội hóa trở lại giữa cha mẹ và con cái, những vai trò và chức năng này thay đổi
như thế nào trong điều kiện biến đổi kinh tế xã hội như hiện nay.
- Từ những phân tích về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia
đình nông thôn hiện nay để hiểu rõ thực trạng cũng như sự biến đổi để đề xuất
các giải pháp can thiệp.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số biểu hiện của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong
điển gồm Đại học Goteborg và Đại học Linkoping phối hợp thực hiện 2004 2008. Số liệu được trích dẫn trong đề tài lấy từ nguồn thông tin của dự án.
Thông tin định tính là của tác giả. Ngoài ra, các số liệu khác dùng để so sánh
đều có trích dẫn cụ thể.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
6.1.1. Hệ thống lý luận, phương pháp luận của xã hội học đại cương trong
việc giải thích các sự kiện, hiện tượng xã hội.
6.1.2. Lý thuyết chức năng của xã hội học.
6.1.3. Các lý thuyết xã hội học về xã hội hóa, về nhân cách và vai trò của
gia đình trong việc hình thành nhân cách con người.
6.1.4. Lý thuyết xã hội học gia đình.
6.1.5. Lý thuyết tương tác biểu trưng.
6.1.6. Phương pháp lịch sử cụ thể (phạm vi thời gian, không gian nghiên cứu
khái quát).
6.2.
Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Sử dụng và phân tích thứ cấp các số liệu điều tra của dự án nghiên cứu
“Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” (VS-RDE-05) nghiên cứu
trường hợp xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Cuộc điểu tra được tiến
14
hành năm 2008 do Viện Xã hội học (IOS) cùng hai đối tác Thuỵ điển gồm Đại
học Goteborg và Đại học Linkoping, Viện Gia đình và Giới (IFGS) và Viện Dân
tộc học phối hợp thực hiện năm 2008. Tổng số mẫu được khảo sát là 302 gia
đình thuộc xã Trịnh Xá.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu định tính
2.3. Cha mẹ với việc học tập của con cái
2.4. Cha mẹ với việc định hướng nghề nghiệp cho con
2.5. Quan hệ ứng xử đạo đức giữa cha mẹ và con cái
Phần 3: Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Báo cáo tổng kết năm học 2008 – 2009, trường THCS Trịnh Xá
[2]. Báo cáo tổng kết năm học 2008 – 2009, trường Tiểu học Trịnh Xá.
[3]. Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ
phát triển kinh tế xã hội năm 2009, UBND xã Trịnh Xá.
[4]. K.Marx và F.Eghels: Hôn nhân và gia đình, Nxb Sự thật, Hà Nội – 1999.
[5]. Chung Á, Nguyễn Đình Tấn: Nghiên cứu xã hội học, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội – 1996.
[6]. Đặng Bích Thủy: Vai trò của gia đình trong đời sống học tập của trẻ em
nông thôn miền núi qua khảo sát một xã ở Yên Bái (Kết quả nghiên cứu khảo
sát tại Yên Bái năm 2004), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 2007.
[7]. Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý: Gia đình học, Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội – 2007.
[8]. Đặng Cảnh Khanh: Gia đình trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống,
Nxb Lao động xã hội, Hà Nội – 2003.
[9]. Đặng Phương Kiệt (chủ biên): Gia đình Việt Nam: Các giá trị truyền thống
và những vấn đề tâm - bệnh lý xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội – 2006.
[10]. Đặng Thị Hoa: Thực trạng giáo dục và vai trò của cha mẹ trong giáo dục
con cái ở nông thôn Việt Nam (Tuyển tập các bài viết phân tích kết quả khảo sát
chung), Nxb Khoa học xã hội , Hà Nội – 2007.
[26]. Maurice porot: Trẻ em và quan hệ gia đình, Nxb Thế giới, Hà Nội – 2004.
[27]. Nguyễn Đức Truyến: Kinh tế hộ gia đình khu vực Đồng bằng sông Hồng,
18
HN, 1997.
[28]. Nguyễn Hồng Quang: Tình trạng việc làm và thu nhập, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội 2004.
[29]. Nguyễn Thế Long: Truyền thống gia đình và bản sắc dân tộc Việt Nam,
Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội – 2006.
[30]. Nguyễn Thị Minh Phương: Ảnh hưởng của địa vị xã hội của cha mẹ lên
giáo dục đạt được của con cái (Kết quả nghiên cứu khảo sát tại Tiền Giang
năm 2005), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 2007.
[31]. Nguyễn Thị Thu: Thực trạng giáo dục trẻ em trong gia đình tại một xã ở
Thừa Thiên – Huế (Kết quả nghiên cứu khảo sát tại Thừa Thiên – Huế năm
2004), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 2006.
[32]. Nguyễn Khắc Viện (chủ biên): Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội,
1994.
[34]. Những bài giảng về xã hội học, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2006.
[35]. Phan Đại Doãn: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội – 1998.
[36]. Phan Kế Bính: Việt Nam phong tục. Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội,
2003.
[37]. Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng: Xã hội học, Nxb Đại học quốc gia, Hà
Nội, 2006.
[38]. Rita Liljestrom – Tương Lai (chủ biên): Những nghiên cứu xã hội học về
gia đình Việt Nam (tập 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1991.
[39]. Richard T.schaefer- Dịch: Nguyễn Văn Thanh. Xã hội học. Nxb Thống kê
– 2003.
[40]. Tương Lai (chủ biên): Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
[55]. Trần Đình Hượu: Về gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho
giáo, Tạp chí Xã hội học số 2, 1989.
[56]. Dictionnaire de Sociologie, Nxb Larousse, 1973.
[57]. Dictionary of Psychology, Nxb Penguin Books, 1985.
21