NHÓM 2
Chuyên đề:
Phân tích mối quan hệ giữa Nhà nước và làng xã
trong lịch sử nông thôn Việt nam.
MỤC LỤC
I- ĐẶT VẤN ĐỀ 3
II- TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC – LÀNG XÃ 4
1- Tổ chức bộ máy Nhà nước: 4
2- Tổ chức bộ máy Làng xã 5
III- MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ LÀNG XÃ TRONG LỊCH SỬ
NÔNG THÔN VIỆT NAM 6
1. Về phía Nhà nước: 6
1.1.Nhà nước thực thi chính sách của mình thông qua làng xã: 6
1.2. Nhà nước chỉ biết nội tình làng xã một cách đại khái, khái quát: 6
1.3. Nhà nước phong kiến thường bắt nhân dân liên đới trách nhiệm với
làng xã: 7
1.4. Nhà nước không nhúng tay vào việc làng xã nhưng đưa đẳng cấp vào
tận nông thôn: 7
1.5. Nhà nước gián tiếp tham gia vào việc phân phối ruộng đất của làng
xã: 7
1.6. Nhà nước có nghĩa vụ với làng xã như làng xã đối với Nhà nước: 8
2. Về phía Làng: 9
2.1. Làng có tính chủ động và linh hoạt một cách rõ nét: 9
2.2. Làng thuộc nước, nhưng làng vẫn độc lập: 9
2.3. Làng xã thường có quan hệ thù địch với những cá nhân hoặc tập thể
nào thường xâm phạm đến nó 10
2.4. Làng xã dễ có phản ứng mỗi lần nhà nước thi hành một chính sách
đụng chạm đến lợi ích của nó 10
3. Mối quan hệ giữa luật nước và lệ làng: 12
3.1. Luật nước phải dựa vào hương ước, lệ làng mà “thẩm thấu” vào đời
sống xã hội 13
Để hiểu rõ về mối quan hệ giữa Nhà nước và làng xã nông thôn Việt nam, chúng tôi
xin phân tích mối quan hệ này dưới chế độ Nhà nước nhất nguyên phong kiến với Vua là
người đứng đầu.
3
II- TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC – LÀNG XÃ.
Muốn hiểu được mối quan hệ Nhà nước – Làng xã, trước hết ta cần tìm hiểu về cơ
cấu tổ chức bộ máy Làng – Nước truyền thống ở nước ta.
1- Tổ chức bộ máy Nhà nước:
Như chúng ta đã biết, ở Việt Nam thời kỳ trung đại, nhà nước được quản lý theo chế
độ gia trưởng chuyên chế, trên nguyên tắc không hề có sự chia sẻ quyền lực. Mọi quyền lực
được chia nhỏ cho những người có trách nhiệm, có phụ trách lẫn nhau nhưng tất cả đều tập
trung vào tay người tối cao là Vua. Đó là Bộ máy nhà nước nhất nguyên chế.
Tính nhất nguyên được thể hiện rõ rệt qua Tổ chức bộ máy nhà nước từ sau cải cách
Lê Thánh Tông (1460 - 1527):
Nhà nước là nhất nguyên nhưng toàn bộ hệ thống của nhà nước lại đặt trên cơ sở nhị
nguyên.
- Thứ nhất, Để có sức người sức của dùng vào việc công và quốc phòng, nhà nước
phải dựa trên sự đóng góp của của mỗi người dân thông qua làng xã - những tập thể quần
chúng. Nhà nước chỉ biết có tập thể làng xã mà không biết đến từng cá nhân hay từng gia
đình; cũng không quan tâm gì đến sự phân phối các nghĩa vụ đó.
- Thứ hai, để có người có đủ khả năng quản lý xã hội theo ý mình, nhà nước có một
đội ngũ cán bộ, trong đó có những phần tử ưu tú trúng tuyển sẽ gia nhập vào bộ máy quan
liêu có quyền hạn và địa vị theo thứ bậc.
4
VUA
Quan
đại thần
Cơ quan giúp việc
Nhà Vua
Lục Bộ
+ Hương trưởng: người chịu trách nhiệm điều khiển công việc tại nơi làm việc công
ích.
+ Xã tuần: đặc trách vấn đề an ninh cho làng xóm bằng cách tổ chức, cắt cử canh gác
tuần phòng, ngăn ngà nạn trộm cắp và trong tay họ có một đội tuần đinh gồm những trai định
được cắt cử ra để làm nhiệm vụ tuần phòng.
- Ngoài ra trong làng còn có các chức vụ khác như thư ký, thủ quỹ, mõ làng,…
Với tổ chức bộ máy rõ ràng, chặt chẽ như trên, làng xã là cơ sở vững chắc, là đơn vị
hành chính quan trọng của nhà nước phong kiến. Đối với nhà nước, làng xã có tính chất hai
mặt: nhất trí và không nhất trí, thần phục và bướng bỉnh. Mối quan hệ giữa làng xã với nhà
nước là quan hệ phụ thuộc không triệt để. Mối quan hệ này thể hiện như sau:
5
III- MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ LÀNG XÃ TRONG LỊCH
SỬ NÔNG THÔN VIỆT NAM.
1. Về phía Nhà nước:
1.1.Nhà nước thực thi chính sách của mình thông qua làng xã:
Để các chính sách của mình đến được với người dân, Nhà nước không thể tự mình
thực hiện được mà phải thông qua tổ chức Làng xã.
Làng xã có một hội đồng quản trị do dân cử để làm việc cho nó và để liên hệ với nhà
nước, đứng đầu không phải là người có chức cao, học giỏi mà là một vài người nhiều tuổi
nhất gọi là “bô lão”, bên cạnh đó là “Hội đồng Kỳ mục”.
Thông qua Hội đồng kỳ mục, mọi thứ phú thuế, bất cứ một nghĩa vụ gì, nhà nước
thường chia ra cho các làng xã, bắt đóng góp nguyên vật liệu và sức lao động. Làng xã đến
lượt lại chia ra cho những người dân nam hay các hộ…Tóm lại, nhà nước chỉ biết có tập thể
làng xã mà không biết đến từng cá nhân hay từng gia đình; cũng không quan tâm gì đến sự
phân phối các nghĩa vụ đó.
1.2. Nhà nước chỉ biết nội tình làng xã một cách đại khái, khái quát:
Do nhà nước không đi tới từng người dân, từng đám đất, nên nhà nước không có khả
năng kiểm soát làng xã một cách chặt chẽ, chính xác. Nó chỉ nắm được một cách mơ hồ. Con
số trong sổ sách của nhà nước chỉ là con số ước lệ, nếu không nói là một con số ma. Đó là
chỗ yếu của nhà nước bất kỳ triều đại nào - dù là nhà nước phong kiến hay nhà nước của bọn
tạo ra sự cách bậc trong nông thôn và buộc các làng khác phải chấp nhận. Khi về làng, những
phần tử ưu tú giành những địa vị cao và quyền lợi nhiều hơn các thành viên khác.
Luật lệ đã từ lâu của làng xã là: người nhiều tuổi nhất – tiên chỉ (thủ chỉ) sẽ là người
nắm giữ mọi quyền hành của làng xã. Còn luật lệ của nhà nước thì địa vị đó phải dành cho
những người thi đậu, có quan tước cao trong các thành viên. Nhưng luật lệ làng xã nói chung
vẫn không chị để tự thủ tiêu một cách dễ dàng, “triều đình dụng tước, hương đảng dụng xỉ”.
Một sự giằng co xảy ra. Cuối cùng cũng mặc nhiên đi đến một sự thỏa thuận: có lúc bên cạnh
vai trò tiên chỉ còn có cai trò xã quan (cũng chỉ có nơi gọi là đại toát, tiểu toát).
Đời Nguyễn đó là những chức hương quan hoặc hương thân: có lúc làng xã chịu để
cho những người đồ đạt được ưu tiên vượt lên trên thứ tự đăng ký của họ theo tiêu chuẩn (ví
dụ ở Nam Đàn - Nghệ An đỗ tú tài được nhắc lên trên 10 người, đỗ cử nhân 15 người, phó
bảng 20 người, tiến sĩ 30 người….) để những người ấy được giữu chức tiên chỉ trước tuổi mà
không hoàn toàn phá vỡ nề nếp của làng xã: có lúc làng xã chịu để những người có chức
phận những quyền lợi tương đương hoặc cao hơn chút ít những người có tuổi tác (ví dụ ở xã
Cao Xá- Thái Bình lúc chia phần thịt tế, cái thủ cái cổ thường chia đôi: một nửa cho các cụ
già, một nửa cho những người thi đỗ (khoa tràng) hoặc làm quan (sắc mệnh).
1.5. Nhà nước gián tiếp tham gia vào việc phân phối ruộng đất của làng xã:
Chúng ta đều biết, mỗi một làng xã đều có ruộng đất công, một thứ tài sản tập thể lâu
đời. Thi hành quyền sở hữu, làng xã cứ mấy năm một lần chia đều cho các thành viên.
Nhưng đằng sau quyền sở hữu đó còn có quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà nước
7
(tức của vua). Cái quyền sau có thể tước đoạt cái quyền trước, vì là “đất của vua, chùa của
bụt”.
Nhà nước tham gia ngày một sâu vào việc phân phối ruộng đất cho các thành viên
đặc biệt là đựa vào đó tiêu chuẩn cấp bậc, làm cho những thành viên nào có chức sắc cao
thấp sẽ được phần ruộng nhỏ hơn, nhưng vẫn lướn hơn ruộng của thành viên thường. Thực
chất là nhà nước lấy một phần ruộng làng xã làm lộc bổ sung cho phần tử ưu tú (các quan) và
lương ăn cho quân đội. Số còn lại mới chia cho các thành viên làm nông nghiệp, nhưng nhà
nước lại cọi việc phân phối này là một phương diện của việc trả công cho những người gánh
vác nghĩa vụ đối với nhà nước: nông đân được chia ruông vừa phải nạp thuế nạp xâu, vừa
Khi quy luật kinh tế hàng hóa phát triển thì quan hệ đẳng cấp được nước khuyến
khích, quan hệ công xã được làng xã bảo lưu: cả ba đúc thành một mối quan hệ áp bức bóc
lột khá nặng nề nhưng lại được ngụy trang bằng những cái lốt như quan hệ thân thuộc, quan
hệ láng giềng, … những cái lốt đẹp đẽ êm dịu này che khuất cái ruột gớm ghiếc, có nghĩa là
chúng làm mờ tính chất giai cấp trong quan hệ giữa người với người trong làng xã.
2. Về phía Làng:
2.1. Làng có tính chủ động và linh hoạt một cách rõ nét:
Làng xã không phải là một thực thể cứng đờ, bị động mà nó rất linh hoạt, chủ động,
biết phản ứng khi có va chạm, nó tự động mai phục, ngụy trang, chống trả,… khi cần thiết thì
không phải chỉ là hành động, là thái độ của vài người. Có thể nói đó là một cơ thể trọn vẹn,
gần như một con người, nhưng một con người phi giai cấp. Trong “ cơ thể người” trọn ven
đó còn ẩn giấu một linh hồn, một tâm lý ý thức cộng đồng mà còn có một cá tính riêng, có
nét riêng đặc sắc về tính cách. Chúng ta chẳng những nghe được những câu tục ngữ trình bày
nhận xét vê cá tính của một số làng xã như : “Trai Cầu Vòng Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu
Lim”. “ Văn chương Xuân Mỹ, lý sự Thủy Khuê” ,… tất nhiên, trong những nhận xét trên
cũng có những trường hợp cường điệu, nhưng về cơ bản vẫn phản ánh được tính biệt lập của
địa phương. Tính biệt lập này có nguồn gốc từ đặc trưng khép kín của công xã xa xưa, nó
làm cho làng xã phần nào bằng quan với các đơn vị ở xung quanh nó, nó nuôi dưỡng đầu óc
địa phương.
2.2. Làng thuộc nước, nhưng làng vẫn độc lập:
Một mặt, làng xã phục tùng Nhà nước, một mặt lại giấu giếm thực chất bản thân, mục
đích là để giảm binh lương thuế khóa nhà nước phong kiến đổ vào đầu người dân.
Đâu có phải chỉ có một vài thứ phú dịch mà ta thường biết. Bóc lột siêu kinh tế vốn là
một đặc trưng của chế độ phong kiến. Cho nên, ngoài “binh lương thuế khóa” ra, còn có
nhiều món bóc lột khác rất tùy tiện và đều gõ vào làng xã. Bọn quan lại lính tráng thường cứ
dựa vào khả năng, nghĩa là dựa trên con số dân cư, ruộng đất, tài sản v.v mà các làng xã đã
khai báo, tức là đã đăng ký với nhà nước, để quân phân theo tỷ lệ một cách rất máy móc.
Nhưng nếu chỉ có thế thì chẳng nói làm gì. Thói tục “bán hàng nói thách, làm khách trả rẻ”
thường được áp dụng một cách linh động vào quan hệ giữa nhà nước với làng xã. Có nghĩa là
mỗi lần có những phú dịch bất thường ngoài phú dịch thường kỳ, thì bọn quan lại ở các
đến mình. Vào năm 1935, có hai làng ở Tam Kỳ (Quảng Nam) suýt đánh nhau to vì một bài
thơ trào phúng (người bên này làm thơ chế giễu đám hương lý bên kia bày chuyện khánh
thành trường học để kiếm chác, và bên kia họa lại để trả đũa bên này).
2.4. Làng xã dễ có phản ứng mỗi lần nhà nước thi hành một chính sách đụng
chạm đến lợi ích của nó.
Mỗi một yêu cầu mới của chính quyền phong kiến ngoài phú thuế thường kỳ, thường
vấp phải ít nhiều sự chống đỡ của làng xã. Thậm chí có làng xã nghi ngờ đến cả những công
10
việc có tính chát lợi ích chung. Gu-ru một học giả thực dân viết Người nông dân đồng bằng
Bắc Bộ từng nói đến một làng nọ đã góp nhau số tiền 200 đồng để chạy chọt với quan, xin
quan tránh cho con đường đê không đi qua địa phận làng mình. Không phải là họ ngốc mà có
lẽ vì sợ mất một diện tích ruộng đất nào đó, cũng có lẽ vì sợ con đường ấy sẽ là con đường
thuận tiện đi vào làng, do đó, quan nha lính tráng sẽ quấy nhiễu làng nhiều hơn trước.
Sự phản ứng của làng xã còn bộc lộ tích cực hơn. Ví dụ có những làng ở An Quảng
thời Hồng Đức liên kết lại chống quân đội nhà nước kéo về khám đạc điền thổ vì đã đến lúc
không thể ẩn lậu được mãi về diện tích ruộng đất của mình. Hay là có những làng ở Nghệ
An, Quảng Bình, bằng những thủ đoạn ranh mãnh khác nhau đã buộc bọn vua chúa phải
chấm dứt những lệ cống đặc sản (ví dụ cá rô bầu Nón, Nam Đàn; mắm hâm hương, Cảnh
Dương v.v ) Lịch triều hiến chương loại chí chép năm 1773 khi Trịnh Sâm buộc các làng xã
phải khai thật đúng số đinh, thì “dân chúng bốn phương không đâu là không xôn xao ơ ư
mạn đông nam nhiều người làm phản, có kẻ tự xưng “Đinh suất đại vương” để dụ quần
chúng”. Việc ấy cuối cùng đành phải tạm gác lại.
Như vậy là không phải bất cứ lúc nào nhà nước cũng buộc được các làng xã tuân
theo ý chí của nó. Nõi một cách khác, làng xã thời xưa cũng có lúc đấu tranh có kết quả để
buộc nhà nước làm theo ý chí của mình.
2.5. Mâu thuẫn: Trong phong trào nông dân, làng xã nhiều lúc không hoàn toàn đứng
về phía nông dân.Trong cùng một làng một bộ phận tham gia tích cực, một bộ phận tham
gia miễn cưỡng.
Rất ít trường hợp có làng xã dám chống lại nhà nước một cách cực đoan. Không
những thế, đối với những việc thiết thân với quyền lợi của mình, làng xã còn tỏ ra chấp hành
đó, thái độ cảu làng xã đối với khởi nghĩa cũng không dứt khoát, trừ những làng nào mà bộ
phận tham gia chiếm ưu thế, có sức mạnh lôi cuốn hoặc cô lập được bộ phận chống đối. Sự
hưởng ứng không triệt để (hoặc thái độ hai mang) của làng xã thường là đầu mối thất bại của
phong trào nông dân nói chung. Nếu phong trào Tây Sơn lúc mới nổi dậy đã đưa các làng xã
chống lại chính quyền phong kiến, phục tùng mình một cách tuyệt đối, thì, khi phong trào đi
dần vào thất bại cũng không ngăn cản được các làng xã ly khai mình để đi theo Nguyễn Ánh.
3. Mối quan hệ giữa luật nước và lệ làng:
Luật pháp hay luật nước là những văn bản thể hiện quyền lực của nhà nước. Tuy
nhiên ở mỗi làng xã Việt Nam luôn có luật lệ riêng được làng ghi nhận dưới danh nghĩa
“Hương ước”. Đôi khi luật lệ này trái với cả pháp luật của Nhà nước. Do tính khép kín cho
nên: “Phép vua thua lệ làng”, chức dịch kỳ hào có thể tổ chức thành một pháp đình tiêng để
phạt vạ trong làng.
Hương ước do mỗi làng lập nên, có thể xem là hệ thống luật tục tồn tại song song với
pháp luật của Nhà nước nhưng không đối lập với luật pháp của Nhà nước. Từ đây chúng ta
đặt ra các câu hỏi như luật nước lớn hợn hay lệ làng lớn hơn? Lệ làng phụ thuộc hay tách
biệt với luật nước? Như vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa nhà nước và làng xã trong lịch
sử nông thôn Việt nam ta không thể không xem xét mối quan hệ giữa luật nước và lệ làng.
12
Có thể thấy rằng phép nước và lệ làng là hai mặt của một thể chế chính trị phản ánh
mối tương quan của sự thống nhất quốc gia và quyền riêng tự quản của các cộng đồng làng
xã, làm quân bình sự phát triển của mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
làng xã và cả nước. Con người Việt Nam luôn tồn tại trong mối quan hệ chi phối giữa làng
và nước. Do vậy, việc làng, việc nước luôn là mối quan tâm của cả cộng đồng và lợi ích của
làng luôn gắn với lợi ích của nước, chúng vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
3.1. Luật nước phải dựa vào hương ước, lệ làng mà “thẩm thấu” vào đời sống xã
hội.
Tính chất tự trị của các làng xã trong lịch sử về phương diện hình thức tưởng chừng
như phong tỏa quyền lực nhà nước trung ương và sự hiện diện của hương ước dường như
ngăn chặn khả năng điều chỉnh của luật nước. Nhưng trên thực tế cơ cấu tổ chức bộ máy tự
quản của các làng, xã được quy định trong các bản hương ước đều là công cụ “cai trị” của
nước mà còn là sự bổ sung quan trọng cho luật nước.
Luật nước cụ thể đến mấy cũng không thể bao quát được tất cả các đặc thù cả quan
hệ làng xã, hơn nữa mỗi làng xã lại có đặc điểm riêng. Do vậy, mỗi cồng động làng xã cụ thể
luôn cần đến các quy định cụ thể gần gũi dễ hiểu, dễ thực hiện cho mọi thành viên trong
làng, phản ánh được nhu cầu tổ chức và phát triển quan trọng cho khả năng điều chình của
luật nước.
Điều đó được thể hiện qua:
- Hương ước biến các quy định chung của pháp luật thành các quy định cụ thể của làng
qua lỗi hành văn dung dị, có vần, có điệu theo kiểu dân gian. Do vậy, tinh thần của
pháp luật thấm sâu và đời sống cộng đồng một các tự nhiên mà không ít cần đến các
phương tiên tuyên truyền, phổ biến ồn ào, tốn kém.
- Hương ước góp phần biến cái khuôn khổ cứng nhắc, các quy tắc có tính nghiêm khắc
lạnh lung của luật pháp thành cái uyển chuyể, linh động và biến hóa trong lối hành xử
của các cộng đồng.
- Hương ước đưa ra nhiều quy định cụ thể bổ khuyết và các lỗ hổng của luật pháp
trong các mối quan hệ cụ thể cả cuộc sống làng xã, Các vấn đề như chia ruộng đất
công, lão quyền…thường là những vẫn đề được quy định chung trong luật nước lại
rất cụ thể trong hương ước.
3.4.Tính cưỡng chế của các hương ước dựa vào tính cưỡng chế của luật nước.
Hương ước sở dĩ có hiệu lực điều chỉnh khá cào đối với các công việc và quan hệ
trong khuôn khổ các làng không chỉ do chúng phù hợp với các đặc điểm về phong tục, lối
sống và tâm lý của người dân trong xã mà còn do tính cưỡng chế của chúng luôn được đảm
bảo bởi tính cưỡng chế của luật nước. Có thể dễ dàng nhận thấy điều đó qua các quy định về
xử phạt. Các hình thức phạt quy định trong các hương ước là sự cụ thể hóa về phạm vi, mức
độ trong mối quan hệ với luật nước và được chính quyền nhà nước chấp nhận, bảo trợ.
14
3.5.Hương ước không chỉ bị quy định bởi luật định bởi luật nước mà về phần
mình, hương ước cũng chi phối mạnh mẽ đến luật nước.
- Hương ước phản ánh lợi ích, ý chí, nguyện vọng của các cộng đồng làng xã buộc các
chính quyền nhà nước phải tính đến trong việc ban hành và thực thi luật nước.
IV- KẾT LUẬN:
Tóm lại, trong thời đại cũ, làng xã là cơ sở vững chắc, là đơn vị hành chính quan
trọng của nhà nước phong kiến. Vì thế, chỉ với nguyên tắc “liên đới trách nhiệm” của pháp
chế phong kiến, nhà nước đã khuôn được làng xã đi theo quỹ đạo của mình. Không cần đi
thẳng đến cá nhân, chỉ thông qua làng xã, nhà nước vẫn buộc được cá nhân làm theo ý chí
của nó. Mặt khác, nhà nước còn biết nắm lấy ruộng công của làng xã, sử dụng nó như một hệ
thống tiền lương, thắt chặt nông dân vào sự phụ thuộc phong kiến. Đó là những thủ đoạn tinh
vi nhất của nhà nước phong kiến chuyên chế Việt Nam, và nó có những thành công nhất
định.
Nhưng đặc biệt làng xã Việt Nam vẫn giữ được tính độc lập tương đối. Nó không
đóng kín cửa, không bàng quan với mọi biến động từ bên trên như công xã Ấn Độ mà Mác
đã nhận xét. Làng xã chúng ta rất nhạy cảm đối với những vấn đề thiết thân: trị thủy, chống
ngoại xâm v.v Cái năng động tính của nó nhiều lúc khá nổi bật. Không những thế, nó còn
biết phản ứng, biết co mình để tự vệ, có lúc còn chống trả kịch liệt vì lợi ích của nó.
Nói chung, đối với nhà nước, làng xã có tính chất hai mặt: nhất trí và không nhất trí,
thần phục và bướng bỉnh. Rõ ràng quan hệ giữa làng xã với nhà nước là quan hệ phụ thuộc
không triệt để. Điều đó không khỏi để lại ảnh hưởng sâu sắc: mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực
trong việc xây dựng quan hệ xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay.
Lịch sử trải qua hàng nghìn năm đã chứng minh mối quan hệ không thể thiếu giữa
Làng – Nước. Trải qua một thời gian dài từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, mối quan hệ
đó sẽ và còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng đất nước.
16
CÂU HỎI THẢO LUẬN
Mối quan hệ giữa Nhà nước và Làng xã ngày nay có gì thay đổi so với trước đây.
* Mối quan hệ giữa Nhà nước và làng xã ngày nay:
Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa đang từng bước phát triển với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Trong sự phát triển đó, làng xã Việt
Nam truyền thống quan hệ giữa làng xã và Nhà nước hiện nay cũng đã có một số thay đổi so
với trước đây.
- Bộ máy do nông dân bầu ra, ý kiến của người dân tham gia vào bộ máy nhà nước phổ
%87-nh%C3%A0-l%C3%A0ng-n%C6%B0%C6%A1c-st#!p=6
18