một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng khám phá MTXQ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi - Pdf 45

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“Vì sao lại thế và vì sao lại thế
Sao không thế này mà lại thế kia?
Vì sao lại thế mà tìm ra ngọn ngành
Càng thêm hiểu biết chúng ta càng lớn nhanh”
Đó là câu hỏi của trẻ luôn đặt ra với người lớn, càng lớn nhanh khi thấy
một điều gì mới lại xung quanh. Trong cuộc sống hàng ngày, muốn tồn tại và
phát triển em phải tiếp cận với MTXQ. Trong quá trình tiếp cận ấy các sự vật
hiện tượng xung quanh là những đối tượng để cho trẻ tìm hiểu, nhận xét và mở
mang hiểu biết. Quá trình nhận biết, nếu trẻ được người lớn, các cô giáo tổ
chức, hướng dẫn một cách khoa học thì quá trình nhận biết ấy sẽ phát triển cả
về số lướng và chất lượng. Nhu cầu hiểu biết của trẻ về MTXQ của trẻ về
MTXQ sẽ được thoả mãn. Thông qua khám phá với MTXQ trẻ không chỉ tích
luỹ được hệ thống kiến thức chính xác về thế giới khách quan mà còn phát triển
các quá trình tâm lý nhận thức, các phẩm chất trí tuệ và ngôn ngữ, làm cơ sở
cho việc tiếp thu các khái niệm khoa học ở trường phổ thông sau này. Việc cho
trẻ tiếp xúc với thiên nhiên, cuộc sống, người lớn và trẻ em khác giúp trẻ phát
triển, xúc cảm, tình cảm, thẩm mĩ, đạo đức tích cực, thái độ ứng xử đúng đắn
với thiên nhiên, xã hội. Khám phá, hoạt động trong MTXQ giúp trẻ phát triển
về thể chất và các kỹ năng lao động. Có thể nói khám phá MTXQ là một
phương pháp quan trọng, chủ yếu để trẻ phát triển toàn diện, khi đó MTXQ là
phương tiện giáo dục trẻ mầm non.
Để chuẩn bị cơ sở cho trẻ vào học ở phổ thông, việc tổ chức cho trẻ khám
phá MTXQ chỉ có thể hiệu quả khi căn cứ trên đặc điểm học của trẻ mầm non.
Trẻ mầm non học qua bắt chước, qua tư duy suy luận và vui chơi. Tạo môi
trường chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp, kích thích trẻ hoạt động tích cực trong
MTXQ sẽ thúc đẩy sự phát triển của trẻ.
Qua một năm nghiên cứu áp dụng và thực hiện tôi thấy đề tài khám phá
môi trường xung quanh cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Hưng

- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp điều tra.

2


II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
* Hoạt động làm quen với MTXQ là một bộ phận quan trọng của việc
giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non, có tác dụng góp phần tích cực vào việc giáo
dục toàn diện, đặc biệt là giáo duc tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ, đạo
đức:
- Cho trẻ làm quen với MTXQ góp phần hình thành những biểu tượng
đúng đắn về các sự vật và các hiện tượng xung quanh, cung cấp cho trẻ những
trí thức đơn giải có hệ thống về thế giới xung quanh, giúp trẻ hiểu biết sơ
đẳng về đặc điểm, tính chất, mối liên hệ và sự phát triển của các đồ vật, của
động thức về, của con người…
Thực tế cho thấy rằng, nhờ việc cho trẻ làm quen với MTXQ, mà những
biểu tượng còn mơ hồ, thiếu chính xác, mà trẻ đã thu nhận được trong cuộc
sống hàng ngày trở nên đầy đủ và sâu sắc hơn. Trên cơ sở đó trẻ có điều kiện
thể hiện các tri thức của cuộc sống và các hoạt động vui chơi, lao động, các
môn học khác. Kết quả của việc hướng dẫn trẻ làm quen với MTXQ đã ảnh
hưởng lớn đến nội dung các trò chơi, các tiết học khác và quan hệ ứng xử của
trẻ với xung quanh.
- Cho trẻ làm quen với MTXQ góp phần giúp trẻ phát triển và hoàn
thiện các quá trình tâm lý, nhận thức đặc biệt là cảm giác, tri giác, tư duy,
ngôn ngữ và chú ý.
Trong quá trình làm quen với MTXQ trẻ phải sử dụng tích cực các giác

những kinh nghiệm để bồi dưỡng giáo viên cùng tham khảo, áp dụng vào thực
tiễn, chỉ đạo chuyên môn, giảng dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục trẻ ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng với công cuộc phát triển
không ngừng của đất nước và hoàn thành nhiệm vụ giáo dục của mình.
2. Thực trạng
2.1. Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động khám phá MTXQ cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi trường mầm non Hưng Đạo.
2.1.1. Về giáo viên.
* Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của vấn đề khám phá
MTXQ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Tổ mẫu giáo 5- 6 tuổi trường mầm non Hưng Đạo gồm 06 đồng chí giáo
viên được phỏng vấn.

4


Mức độ nhận thức của giáo viên
- Vai trò của hoạt động khám phá
MTXQ đối với sự hình thành
phát triển nhân cách trẻ.
- Khám phá MTXQ cho trẻ mầm
non
- Chọn nội dung khám phá
MTXQ kết hợp với các chủ đề và
phù hợp với nhận thức của trẻ.
- Việc tổ chức thực hiện chủ đề
khám phá MTXQ đã lựa chọn

Rất quan trọng
Quan trọng

%

* Mức độ tham gia hoạt động cho trẻ khám phá MTXQ
Mức độ tham gia Thường xuyên
Thỉnh thoảng
S. lượng
%
S. lượng
%
Nội dung
1. Hoạt động chung
6
100
- Khám phá MTXQ
5
83,3
- Văn học
4
66,6
- LQVCC
3
50
- LQVT
6
100
- Thể dục
3
50
3
50

4
66,7
3. Phối kết hợp với phụ huynh
6
100

Chưa bao giờ
S. lượng
%
1
2
3

16,7
33,4
50

1

16,7

* Đánh giá thực hiện của giáo viên trong tổ chức hoạt động cho trẻ khám
phá MTXQ.
- Giáo viên có thực hiện tổ chức hoạt động khám phá MTXQ( KPKH)
cho trẻ, song mới dừng lại ở hoạt động có chủ đích, còn các hoạt động khác
chưa thường xuyên, tích cực.
- Tổ chức các hoạt động khám phá MTXQ cho trẻ con chưa phát huy
được tính tích cực của trẻ, vì thế chưa khơi gợi ở trẻ tính tò mò, thích khám phá
tìm hiểu về MTXQ.


Đạo
* Khả năng nhận thức của trẻ:
Tổng số trẻ điều tra là 117 trẻ của 3 lớp mẫu giáo lớn.
Tiêu chí

Đạt

Tỷ lệ
%

Chưa
đạt

Tỷ lệ
%

1. Khả năng hình thành, củng cố, tri giác
biểu tượng về các sự vật hiện tượng chính
55
47
62
53
xác, nhanh nhạy.
2. Khả năng phát triển các kỹ năng nhận
60
51
57
49
thức (tình tìm tòi và các thao tác trí tuệ).
3. Khả năng phát triển ngôn ngữ mạch lạc.



* Ảnh hưởng, nguyên nhân dẫn đến mức độ nhận thức của trẻ với khám
phá MTXQ.
- Một số phương pháp, biện pháp, hoạt động tổ chức của giáo viên chưa
kích thích, hấp dẫn, lôi cuốn được tính tích cực tham gia tìm tòi khám phá
MTXQ cho trẻ.
- Số ít trẻ môi trường tiếp xúc còn hạn chế, bó hẹp.
- Còn một số trẻ chưa đi học qua lớp mẫu giáo bé và nhỡ nên còn nhút
nhát, vốn hiểu biết của trẻ con hạn chế, khả năng tiếp thu còn chậm.
2.1.3. Về cơ sở vật chất.
- Môi trường tự nhiên ngoài lớp học bố trí chưa khoa học, cón có khu
chưa phù hợp với một số hoạt động, góc thiên nhiên chưa phong phú, …
- Phòng học chật hẹp nên việc sắp xếp bố trí góc khoa học trong lớp
không thuận tiện.
- Đồ dùng, dụng cụ thử nghiệm còn hạn chế chưa phong phú.
- Phương tiện hỗ trợ dạy học còn thiếu như: máy chiếu, các phần mềm
dạy học.
- Đồ dùng dạy học còn thiếu như: Tranh ảnh về MTXQ, tranh lô tô…
2.2. Thuận lợi, khó khăn:
* Thuận lợi:
Trường Mầm non Hưng Đạo được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia
mức độ I từ năm 2012, đó là điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện nhiệm
vụ chính trị của mình, trường có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho
công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường. Đội ngũ giáo viên có trình độ
đạt chuẩn là 100%, trên chuẩn đạt 83%, giáo viên yêu nghề, nhiệt tình trong
công việc, luôn tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.
Trường nhiều năm đạt danh hiệu thi đua tập thể lao động tiên tiến được UBND
huyện tặng giấy khen.
* Khó khăn:

a. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức :
- Tổ chức cho giáo viên học tập các nhiệm vụ trọng tâm của năm học.
- Tập huấn chương trình giáo dục mầm non mới, tổ chức giáo dục tích
hợp chủ đề.
- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn ngay từ đầu năm học với nội dung vai
trò của các hoạt động trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ để giáo viên trao đổi
đi đến thống nhất.
- Tập huấn cho giáo viên xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục phù hợp
với điều kiện của lớp, trường, nhận thức của trẻ, cách tổ chức thực hiện.
- Trao đổi kế hoạch một cách nghiên túc, có hiệu quả giáo dục cao.
- Cùng các đồng chí tổ trưởng chuyên môn nghiên cứu các mục tiêu,
nhiệm vụ các nguyên tắc, nội dung giáo dục MTXQ và các phương pháp, biện
8


pháp, hình thức tổ chức hệ thống lại để trao đổi với giáo viên nghiên cứu xây
dựng, tổ chức thực hiện đảm bảo và có hiệu quả.
- Tăng cường nhận thức, công tác giáo dục tư tưởng chính trị , đạo đức,
tác phong lành mạnh cho giáo viên.
b. Kỹ năng thực hành.
* Bồi dưỡng giáo viên tạo môi trường cho trẻ hoạt động.
Với trẻ mầm non để tổ chức bất cứ một hoạt động nào cũng cần phải có
môi trường để hoạt động. Đặc biệt với hoạt động khám phá MTXQ thì không
thiếu được, môi trường để hoạt động, môi trường đó bao gồm môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội bao quanh trẻ và yếu tố giáo dục. Chính vì vậy mà
giáo viên phải bố trí tạo dựng một khung cảnh tự nhiên cho tiếp xúc với MTXQ
đầy đủ hơn. Đó là:
- Môi trường trong lớp học: Bao gồm các đồ dùng, đồ chơi học tập, vật
thật và các phương tiện khác nhu:
- Đồ chơi và tranh các loại (các con vật nuôi quen thuộc, động vật sống

Góc thiên nhiên:
Góc thiên nhiên là góc dành cho những hoạt động chung “Cho trẻ khám
phá môi trường xung quanh” với mục đích thường xuyên cho trẻ được mở rộng
tầm hiểu biết thiên nhiên. Khi tiếp xúc với các đối tượng sinh động của thiên
nhiên, trẻ em được mở rộng óc quan sát và hứng thú với thiên nhiên. Trong khi
chăm sóc các giống loài nuôi trồng ở góc thiên nhiên thì trẻ được hình thành
cái kỹ xảo lao động, được bồi dưỡng những phẩm chất như lòng yêu lao động,
thái độ giữ gìn góc thiên nhiên, ý thức trách nhiệm với công việc được giao.
Với ý nghĩa như vậy nên hướng cho giáo viên xây dựng góc thiên nhiên với
điều kiện của lớp học như: góc thiên nhiên được sắp xếp tại một góc rộng
ngoài hành lang gần cửa phụ của lớp với các loại cây cảnh như: thuyết mộc
lan, cây xanh, hoa lan ý, hoa bạch ngọc, hoa mười giờ, hoa sam Nhật, cây vạn
liên thanh. Ngoài ra còn có bể cá cảnh nhỏ vừa phải, đồ chơi cát, nươc, bình
tưới, khăn lau.. và bộ sưu tập tranh ảnh của từng đề tài cho trẻ làm quen với
môi trường tự nhiên và xã hội, giá sách bày của những tác phẩm văn học, về
thiên nhiên và xã hội khác nhau.
Vườn trường:
Trong khu thiên nhiên vườn trường, trẻ được trực tiếp tiếp súc với cát,
sỏi, đá, nước… trẻ có thể mang ra sân bộ đồ chơi xúc cát, chơi xây nhà… Trẻ
được hoạt động trong không gian thoáng mát, hít thở không khí trong lành có
tác dụng tăng cường sức khoẻ cho trẻ. Trước mắt trẻ môi trường thiên nhiên
được mở rộng, tầm nhìn của trẻ cũng rộng hơn, xa hơn, sự tò mò ham thích thế
giới xung quanh càng tăng. Cái đẹp của thiên nhiên được trẻ hấp thụ một cách
trực diện. Khi đã biết cảm xúc sâu sắc trước cái đẹp của thiên nhiên, trẻ càng
thêm yêu quý và trân trọng nó hơn.
10


Trong vườn trường có thể cho trẻ tham gia lao động hình thành một số kĩ
năng lao động đơn giản: Xới đất trồng, gieo hạt, tưới cây, làm cỏ. Thông qua

liên tục và chính xác; đồng thời trong “Giờ học” các thao tác trí tuệ được tiến
hành một các tích cực và việc phát triển năng lực trí tuệ của trẻ được thúc đẩy
11


nhanh chóng, mạnh mẽ… Chính vì vậy mà tôi hướng cho giáo viên thiết kế bài
dạy. Khi thiết kế bài dạy giáo viên có thể thiết kế theo các nội dung sau:
- Xác định mục tiêu của bài:
Tuỳ vào từng nội dung cung cấp cho trẻ về thiên nhiên hay xã hội, trẻ
hiểu biết và đặc điểm nhận thức của trẻ về đối tượng đó mà giáo viên xác định
mục đích yêu cầu cụ thể, với nội dung mới mà nhiều trẻ chưa biết thì giáo viên
yêu cầu về phần kiến thức là cung cấp dạy trẻ nhận biết, gọi tên, đặc điểm, tính
chất, đối tượng…
Với những nội dung trẻ đã biết thì yêu cầu ở phần kỹ năng cao hơn như:
biết so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát, mở rộng sự hiểu biết của trẻ về sự
vật hiện tượng xung quanh làm giàu vốn từ, phát triển ngôn ngữ và rèn luyện
các thao tác trí tuệ. Cùng với nó là đề ra mục đích giáo dục tuỳ thuộc vào từng
nội dung và nhiệm vụ giáo dục khác nhau.
Ví dụ: Với đề tài: “Nước biển có mặn không?”.
Chủ đề: Quê hương - đất nước và Bác Hồ.
- Về kiến thức:
+ Trẻ kể được tên quê của mình.
+ Biết thành phần của nước biển: có muối, nước…
+ Biết cách pha chế nước biển: từ muối, nước và màu xanh dương…
- Về kỹ năng:
+ Trả lời các câu hỏi mạch lạc, làm theo yêu cầu của cô.
+ Các thao tác pha chế.
- Thái độ: Khi ra biển chơi phải cẩn thận, đi với người lớn.
- Chuẩn bị:
- Đồ dùng dụng cụ trực quan: Trong quá trình dạy học, các phương pháp

nội dung tích hợp âm nhạc “Giọt mưa và em bé”, Toán “So sánh nhiều hơn, ít
hơn của các chai nước”.
- Cách thức tổ chức hoạt động:
Để trẻ khám phá MTXQ một cách tích cực cũng như khơi gợi trong trẻ
niềm đam mê, sự hiểu biết qua hoạt động này thì yêu cầu giáo viên phải sử
dụng kết hợp các phương pháp, biện pháp và thủ thuật khác nhau như: hát, chơi
trò chơi, kể chuyện…
Ví dụ: Khi làm thí nghiệm giải thích hiện tượng mưa bằng cách cho trẻ
hát bài “Cho tôi đi làm mưa”. Hỏi trẻ: “Mưa ở đâu? Mưa có tác dụng gì với
thiên nhiên, con người…?”
Khi đã hướng trẻ vào đối tượng nhận thức, cho trẻ tiến hành thí nghiệm
để giải thích hiện tượng, sự vật, nào đó. Tiếp theo để trẻ tự bộc lộ những hiểu
biết của mình vừa khám phá, giáo viên sử dụng phương pháp đàm thoại, câu
hỏi buộc trẻ phải tích cực tìm kiếm, phát hiện mối quan hệ giữa các đối tượng
với nhau.

13


Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát làm thí nghiệm, giải thích hiện tượng gió. Hỏi
trẻ:
? Khi cô thổi vào 3 vật thì các con thấy có chuyện gì xảy ra?
? Tại sao tờ giấy và lông chim có thể bay lên được? Còn san hô vì sao lại
không bay?
Sau mỗi câu trả lời của trẻ, giáo viên cho trẻ nhận xét hoặc bổ sung thêm
câu trả lời của bạn. Trong quá trình đó giáo viên luôn lưu ý giúp trẻ diễn đạt ý
của mình rõ ràng, mạch lạc và phát âm đúng những từ khó.
Ví dụ: Con thấy bạn trả lời như thế nào? Theo con thì như thế nào mới
đúng?
Khi trẻ nhận xét xong giáo viên khẳng định câu trả lời đúng, uốn nắn câu

luyện trẻ biết cách sử dụng, đồ dùng đồ chơi, giáo dục trẻ cách ứng xử trong
quan hệ với xã hội, với thiên nhiên.
Từ đó ở góc khoa học tôi hướng dẫn cho giáo viên chuẩn bị những đồ
dùng, dụng cụ để trẻ tiến hành thí nghiệm phù hợp với chủ đề
Ví dụ: Chủ đề “Thế giới thực vật” với đề tài “Cây cần gì để lớn lên?” Cho
trẻ làm thí nghiệm: pha phẩm màu đỏ, cho nước, cho một thân cây non sống
cắm vào?” Trẻ quan sát cây non trước và sau khi cắm vào cốc nước, điều gì đã
xảy ra? …
Tuỳ vào từng nội dung, chủ đề và những kiến thức cần củng cố hay mở
rộng cho trẻ mà giáo viên lựa chọn thí nghiệm thử nghiệm cho phù hợp với
khoảng thời gian, hoạt động ở góc và khả năng nhận thức và kỹ năng làm thì
nghiệm của trẻ.
- Tổ chức cho trẻ khám phá Môi trường xung quanh thông qua hoạt động
ngoài trời.
Cho trẻ khám phá môi trường xung quanh là môn học về môi trường thiên
nhiên và xã hội, do đó, dạo chơi và lao động ngoài trời là hình thức phổ biến, có
vai trò đặc biệt quan trọng ở trường mầm non và gia đình. Với mục đích: tạo
điều kiện cho trẻ tiếp xúc với thiên nhiên, quan sát các sự việc và hiện tượng
thiên nhiên sống động, khơi gợi và làm giàu thêm cho trẻ những cảm xúc thẩm
mỹ trước vẻ đẹp của thiên nhiên và xã hội. Tạo điều kiện để trẻ vận dụng những
hiểu biết của mình vào hoàn cảnh thiên nhiên sẵn có. Thoả mãn yêu cầu vận
động và rèn luyện sức khoẻ cho trẻ. Giáo dục tình cảm gần gũi gắn bó, có thiện
cảm và ý thức bảo vệ giữ gìn, quỹ trọng cái đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống.
Để thực hiện được mục đích của hoạt động đi dạo, trước tiên yêu cầu giáo
viên chuẩn bị nội dung cụ thể cho từng buổi có mục đích nhằm củng cố hoặc
làm quen với thiên nhiên và xã hội.
Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề “Thế giới thực vật” cho trẻ làm quen với sự
phát triển của cây trong thiên nhiên, cho trẻ quan sát và trẻ phát hiện sự thay đổi
của cây cũng như các điều kiện sống của cây bằng các thí nghiệm gieo hạt…


- Đưa nội dung tổ chức hoạt động khám phá MTXQ cho trẻ mẫu giáo lớn
vào các buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng để giáo viên trao đổi đi đến
thống nhất chung.
* Bồi dưỡng cho giáo viên biết sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào
tổ chức hoạt động khám phá MTQ:
- Lựa chọn nội dung ứng dụng CNTT phù hợp:

16


Mỗi một phương tiện đồ dùng trực quan đều có cái được và chưa được, chính
vì vậy tôi hướng giáo viên biết lựa chọn nội dung phù hợp, khai thác thế mạnh
của CNTT. Cụ thể : Với những đề tài khó chọn đồ dùng, tài liệu thì ta dùng
phương tiện CNTT .
Ví dụ: Chủ đề thế giới động vật, bài khám phá khoa học: “Động vật sống
trong rừng” giáo viên vào mạng chọn những hình ảnh các con vật sống trong
rừng, đoạn video clip về nơi sống, vận động, sinh sản, thức ăn…, các bài hát về
các con vật sống trong rừng. Với các nội dung như vậy không những gây hứng
thú, phát huy tính tích cực cho trẻ vào hoạt động mà còn giúp trẻ hiểu được các
đặc điểm, cấu tạo…, sự giống và khác nhau giữa các con vật một cách sâu sắc.
- Với những đề tài chỉ dùng tranh ảnh, thì giáo viên có thể sử dụng CNTT
như chọn các tranh có sẵn, phù hợp hoặc chụp ảnh để thiết kế bài giảng.
- Thiết kế các trò chơi củng cố bài dạy như: ô cửa bí mật, chọn phương án
đúng- sai…bằng các hiệu ứng thích hợp gây được sự hứng thú tích cực tham gia
của trẻ
- Lựa chọn nội dung ứng dụng đòi hỏi giáo viên phải biết sử dụng linh hoạt,
sáng tạo các phương tiện dạy học kết hợp như: sử dụng mô hình, tranh ảnh,
CNTT, biết sắp xếp các phần cần sử dụng phương tiện gì là phù hợp nhất.
Ví dụ: Khi cho trẻ tìm hiểu khám phá về “Nước và sự cần thiết với con
người”

hoạt động. Mỗi hoạt động có thể giúp trể một lĩnh vực nào đó. Để tổ chức các
hoạt động, ngoài việc soạn kế hoạch tổ chức, giáo viên còn phải làm giáo cụ dạy
học cho cả cô và trẻ.Việc sử dụng trực tiếp kidsmart sẽ không chỉ giúp cho giờ
học sinh động, thu hút, hấp dẫn trẻ và kích thích trẻ hào hứng, chủ động tham
gia hoạt động mà còn giúp giảm bớt giáo cụ cho giáo viên.
Ví dụ: khi cho trẻ tìm hiểu về sự phát triển của cây. Giáo viên có thể mở
sẵn ngôi nhà khoa học của Samy, xưởng làm phim,chọn quá trìh phát triển của
cây. Sau khi cho trẻ tham gia các hoạt động bên ngoài, giáo viên có thể cho trẻ
tập trung trước màn hình máy tính (đi xem phim )và mở căn phòng lên cho trẻ
sắp xếp làm đoạn phim các quá trình phát triển của cây.
Với âm thanh sôi động, cùng với các lời chỉ dẫn, giáo viên có thể cho bé
thực hiện trực tiếp trên máy tính, các bé ở dưới quan sát và nhận xét xem điều gì
xảy ra khi bạn thực hiện.
Sau khi một số trẻ đã thực hiện xong, các bé sẽ rút ra kết luận về quá
trình sinh trưởng và phát triển của cây, cũng như điều kiện sống của cây. Một
phương pháp vừa học, vừa thực hành và tự rút ra kết luận dưới sự hướng dẫn
của giáo viên sẽ giúp trẻ tiếp thu bài học một cách nhanh chóng và lâu hơn.
Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể làm những đồ dùng giống như trong
chương trình và chuyển qua chế độ yêu cầu, trẻ lắng nghe yêu cầu trên máy tính
và thực hiện.

18


Với phương pháp học vừa trực quan sinh động, vừa giúp trẻ làm quen với
máy tính thông qua việc thao tác trực tiếp trên máy tính sẽ giúp trẻvừa tiếp cận
với các phương tiện công nghệ thông tin, vừa giúp cho giờ học sôi nổi và mang
lại hiệu quả cao hơn với các phương pháp trực quan bằng hình ảnh bình thường.
- Khi sử dụng phần mềm power point trong tổ chức cho trẻ khám phá môi
trường xung quanh.


Vào phần power point chọn slide show tạo trang trình diễn cho từng con
vật xuất hiện có gắn tên tương ứng, lồng nhạc bài “Đố bạn biết” tải về máy và
thiết kế bài giảng trình chiếu.
Tiến hành :Cô mở nhạc hát bài “Đố bạn biết”.Trẻ hát theo.
Cho trẻ kể những con vật có trong bài hát.
Chiếu cho trẻ xem các hình ảnh trong bài giảng , hỏi tên con vật, đặc điểm
của các con vật .
Con voi đang ăn như thế nào ? Nó dùng gì để lấy thức ăn?
Con khỉ đang làm gì ? Vì sao khỉ có thể leo cây giỏi như vậy? .....
Giáo dục trẻ.
* Bồi dưỡng cho giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền và phối kết hợp
Tuyên truyền là một biện pháp không thể thiếu được để góp phần mang đến
thành công cho một công việc gì đấy. Vì vậy tôi hướngn cho giáo viên đẩy mạnh
công tác tuyên truyền về kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và kiến thức
khám phá MTXQ nói riêng đến các bậc phụ huynh, tới toàn thể xã hội bằng cách.
Thông qua các buổi họp của lớp giáo viên thông báo hết chủ đề cũ, đến chủ đề
mới để trẻ tìm hiểu khám phá, yêu cầu phối hợp sưu tầm hỗ trợ nguyên vật liệu
gì? Hoặc trong chủ đề này yêu cầu phụ huynh giúp trẻ làm một số thử nghiệm
đơn giản và trao đổi ghi lại kết quả nhận xét của trẻ. Trưng bày các sản phẩm thí
nghiệm, thử nghiệm của trẻ đề phụ huynh quan sát. Viết bài đưa tin phát thanh
trên đài truyền thanh của trường, địa phương, trang web của trường. Tổ chức hội
thi “Bé với môi trường xanh” của lớp.
3.2.2. Giải pháp 2: Kiểm tra đánh giá
- Thông qua việc theo dõi thực hiện kế hoạch giáo dục hàng ngày để kiểm
tra việc thực hiện có nghiêm túc và thường xuyên không?.
- Kiểm tra đột xuất không báo trước các hoạt động cho trẻ khám phá
MTXQ.
- Kiểm tra dự giờ khám phá MTXQ theo kế hoạch dự giờ hàng tháng.
- Dự giờ các hoạt động khác để đánh giá mức độ nợp nội dung khám phá

nhiều lần: nhìn, sờ, ngửi, cầm nắm…
- Cho trẻ thể hiện những gì đã khám phá được: Yêu cầu giáo viên cần
chuẩn bị các câu hỏi nhằm tích cực hoá đứa trẻ. Các câu hỏi đưa ra phải phù
hợp với từng thời điểm trong quá trình khám phá nhằm cung cấp kiến thức hiểu
biết của trẻ.
Ví dụ: Câu hỏi gợi ý: Đây là cái gì? cái móc này để làm gì?
Và phát triển các kỹ năng nhận thức: quan sát, so sánh phân loại, tính
toán, đo lường và sử dụng số, xếp thứ tự, phân hạng, giao tiếp, suy luận, dự
đoán, thử nghiệm. Cụ thể:
+ Các câu hỏi giúp trẻ quan sát tốt hơn, kích thích trẻ tìm hiểu chi tiết,
khám phá những điều về một sự vật, hiện tượng. Các câu hỏi thường dùng:

21


Nhìn thấy gì? Nói về điều gì? Có nhận xét gì? Nó như thế nào? Có mùi gì?
Đang làm gì?....
Ví dụ: Con có nhận xét gì về lông của con gà trống? Câu hỏi này hướng
trẻ tập trung quan sát mầu sắc, tính chất của con gà.
+ Các câu hỏi giúp trẻ so sánh: Tìm vật nhỏ nhất? Lớn nhất? Rộng nhất,
hẹp nhất?... so sánh hình dạng, màu sắc, kích thước (phía ngoài, bên trong) để
tìm điểm giống và khác nhau.
Ví dụ: So sánh hình dạng quả chuối và quả cam có gì khác nhau và giống
nhau?
+ Các câu hỏi khuyến khích trẻ phân loại các vật nặng có điểm gì giống
nhau và khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm nào mà xếp nhóm như vậy? Chúng có
gì giống và khác nhau.
Ví dụ: Phân loại một số đồ dùng trong gia đình: những đồ dùng có chất
liệu bằng nhựa, những đồ dùng có chất liệu bằng sứ.
+ Các câu hỏi khuyến kích trẻ đo lường và sử dụng. Đoán xem có bao

- Tạo mọi điều kiện cho trẻ được trải nghiệm. Trẻ thử nghiệm, quan sát
phát hiện đưa ra kết luận, yêu cầu giáo viên lựa chọn các hoạt động có cơ hội để
trẻ được trải nghiệm…
Ví dụ: Với hoạt động khám phá sự bay hơi của nước: Cho trẻ nhúng tay
vào nước rồi in lên bảng sau một thời gian nhất định yêu cầu trẻ quan sát xem
còn dấu tay trên bảng không?
Hãy làm thử nghiệm điều kiện sống của cây giáo viên có thể cho trẻ pha
phẩm màu vào nước và lấy một thân cây non cắm vào lọ nước màu - trẻ quan
sát thấy được sự hút nước của cây. Sau đó yêu cầu trẻ đưa ra kết luận và cô là
người chính xác lại.
- Tổng hợp đánh giá: Yêu cầu giáo viên hỏi trẻ hôm nay trẻ đã làm gì?
Phát hiện ra điều gì? Sau đó giáo viên ghi lại những hiểu biết của trẻ và tổng kết
lại.
Ví dụ: Sau khi khám phá vòng đời phát triển của bướm.
Giáo viên hỏi trẻ em đã làm gì? Còn đã phát hiện ra điều gì về vòng đời
phát triển của bướm (bướm mẹ đẻ trứng trên lá cây, trứng nlớn lên và nở thành
con sâu, khi sâu già nằm trong tổ kén nhộng, khi tổ khén khô và nứt vỏ thì một
con nước chui ra hoá thành con bướm với đầy đủ chận và cánh.
Tại sao vậy? Vậy để thành con bướm xinh đẹp, thì bướm phải trải qua
mấy giai đoạn?
- Xác định cho trẻ việc làm tiếp: Giáo viên có thể cho trẻ vẽ, làm mô hình
hoặc nói về những điều trẻ đã khám phá được.
Ví dụ: Sau khi quan sát về vòng đời phát triển của bướm trẻ có thể vẽ về
các quá trình phát triển của bướm theo những hình ảnh đã được quan sát.
Trong quá trình giáo viên tổ chức hoạt động cho trẻ khám phá MTXQ tôi
thường xuyên dự giờ, quan sát hoạt động của cô và trẻ để rút kinh nghiệm cho
23


giáo viên những gì trẻ đã đạt được, chưua đạt được từ đó tìm ra các biện pháp

- Kinh phí mua sắm bổ sung cải tạo cảnh quan môi trường trong và ngoài lớp
học.
- Giáo viên, học sinh 3 lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi trường mầm non Hưng Đạo.
24


3.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giái trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu:
3.4.1. Kết quả:
Có thể nói qua một năm thực hiện nghiên cứu áp dụng những biện pháp
chỉ đạo và hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi khám phá MTXQ(KPKH)
đã đạt được hiệu quả cao của hoạt động khám phá MTXQ(KPKH) với trẻ.
- Tìm ra được một số
* Kết quả giáo viên.
- Số giáo viên có nhận thức được vai trò của hoạt động khám phá môI
trường xung quanh và tổ chức thường xuyên là 6/6 đạt 100%.
- Số giáo viên thực hiện tốt có hiệu quả khám phá MTXQ cho trẻ mẫu
giáo lớn là 6/6 đạt 100%, tăng so với năm trước là: 16,3%.
- Tạo được môi trường hoạt động môi trường xung quanh đa dạng, phong
phú phù hợp với nội dung của từng chủ đề, nội dung hoạt động gần gũi với trẻ
03/03 lớp đạt 100%.
- Lựa chọn thiết kế được15 bài tập thí nghiệm, thử nghiệm.
- Đã sáng tác được 20 trò chơi.
- Thiết kế được nhiều tiết dạy theo hướng đổi mới có ứng dụng công
nghệ thông tin.
- Đã vận dụng linh hoạt có sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp,
biện pháp thủ thuật… vào việc tổ chức hoạt động môi trường xung quanh cho
trẻ, phát huy được tính tích cực của trẻ vào hoạt động là 6/6 đạt 100%.
Giờ dạy “cho trẻ khám phá môi trường xung quanh” được nhà trường
công nhận đạt giờ dạy giỏi là 25/30 tiết dự đạt 83,3%; giờ khá là 5/30 tiết dự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status