Thuyết quản lý của FAYOL
Trong khi thuyết quản lý theo khoa học của F.W.Taylor được truyền bá rộng rãi từ Mỹ sang châu
Âu với ảnh hưởng lớn suốt nửa đầu thế kỷ XX, thì ở Pháp xuất hiện một thuyết mới thu hút sự chú
ý. Qua tác phẩm chủ yếu “Quản lý công nghiệp và tổng quát” (Administration industrielle et
générale) xuất bản năm 1949, Henri Fayol (người Pháp, 1841 – 1925) đã tiếp cận vấn đề quản lý ở
tầm rộng hơn và xem xét dưới góc độ tổ chức – hành chính. Với thuyết này, ông đã được coi là
người đặt nền móng cho lý luận quản lý cổ điển, là “một Taylor của châu Âu” và là “người cha thực
sự của lý thuyết quản lý hiện đại” (trong xã hội công nghiệp).
Tư tưởng chủ yếu của thuyết Fayol là nhìn vấn đề quản lý ở cả tổng thể tổ chức quản lý xí nghiệp,
xem xét hoạt động quản lý từ trên xuống, tập trung vào bộ máy lãnh đạo cao với các chức năng cơ
bản của nhà quản lý. Ông cho rằng thành công của quản lý không chỉ nhờ những phẩm chất của
các nhà quản lý, mà chủ yếu nhờ các nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và những phương
pháp mà họ sử dụng.
Với các nhà quản lý cấp cao phải có khả năng bao quát, còn đối với cấp dưới thì khả năng chuyên
môn là quan trọng nhất. Tư tưởng quản lý đó phù hợp với hệ thống kinh doanh hiện đại, và từ
những nguyên lý đó (trong công nghiệp) có thể vận dụng cho việc quản lý các loại tổ chức thuộc
lĩnh vực khác.
Những vấn đề mà thuyết Fayol đã giải đáp khá rõ ràng là nội hàm của khái niệm quản lý, các chức
năng cơ bản của quản lý, cơ cấu tổ chức quản lý và nguyên tắc vận hành của guồng máy tổ chức.
Trước hết, ông phân chia toàn bộ các hoạt động của xí nghiệp thành 6 nhóm công việc chính gồm:
1. Kỹ thuật (khai thác, chế tạo, chế biến)
2. Thương mại (mua bán, trao đổi)
3. Tài chính (huy động vốn, sử dụng vốn)
4. An ninh (bảo vệ tài sản và nhân viên)
5. Kế toán (kiểm kê tài sản, theo dõi công nợ, hạch toán giá thành, thống kê)
6. Quản lý - điều hành (kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra).
Qua đó, ông xác định nội hàm quản lý gồm: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm
tra. Chính đó là sự khái quát các chức năng quản lý, bảo đảm cho hoạt động tiến hành thuận lợi và
có hiệu quả. Như vậy chức năng quản lý chỉ tác động đến con người, là sự quản lý của tổ chức xã
hội đối với con người (không phải là trực tiếp tác động đến nguyên liệu, thiết bị…).
9. Xác định rõ và ổn định hệ thống cấp bậc với chức trách rõ ràng.
10. Đảm bảo trật tự trong hệ thống với vị trí xác định.
11. Thực hiện công bằng trong quan hệ đối xử.
12. Ổn định đội ngũ nhân sự và được bổ sung kịp thời.
13. Khuyến khích tính sáng tạo, chủ động của mọi người.
14. Xây dựng bầu không khí tập thể đồng thuận, đoàn kết nội bộ.
Trong 14 nguyên tắc đó, nguyên tắc 4 (thống nhất chỉ huy) và nguyên tắc 9 (hệ thống cấp bậc)
được coi là hai nguyên tắc quyết định, phản ánh thực chất của thuyết quản lý Fayol. Với nội dung
nói trên, thuyết quản lý tổng hợp của Fayol có ưu điểm nổi bật là tạo được kỷ cương trong tổ chức.
Song nó chưa chú trọng đầy đủ các mặt tâm lý và môi trường lao động, đồng thời chưa đề cập đến
mối quan hệ với bên ngoài doanh nghiệp (với khách hàng, với thị trường, với đối thủ cạnh tranh và
với Nhà nước).
Cùng với thuyết Taylor, thuyết này đã đề ra được hàng loạt vấn đề quan trọng của quản lý (như
chức năng, nguyên tắc, phương pháp), vừa chú trọng việc hợp lý hóa lao động vừa quan tâm cao
đến hiệu lực quản lý, điều hành.
Nhiều luận điểm cơ bản của các thuyết thuộc trường phái cổ điển vẫn mang giá trị lâu dài, được
các thuyết tiếp sau bổ sung và nâng cao về tính xã hội và yếu tố con người cũng như về các mối
quan hệ với bên ngoài tổ chức.
Theo Nhà Quản
Tổng quan vềlý thuyết quản lý và thuyết quản lý theo khoa học
của TAYLOR
Các tư tưởng và trường phái quản lý
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi
hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động. Vai trò của nó đã được thể hiện
một cách giản dị qua câu nói dân gian “Một người biết lo bằng cả kho người hay
làm”. Về sau, Các Mác đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động
chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần
đến quản lý”; và ông hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng
trong một dàn hợp xướng.
Bắt đầu từ quản lý theo kinh nghiệm, đến thế kỷ XX (đặc biệt vào những năm 40) ở
- Trường phái phương pháp hệ thống (quan hệ hữu cơ trong tổng thể)
- Trường phái lý luận về quyết sách (chọn phương án khả thi)
- Trường phái toán học (dùng quan hệ toán học để thể hiện quyết sách)
- Trường phái lý luận quyền biến (quản lý theo hoàn cảnh quan hệ với đối sách quản
lý)
- Trường phái vai trò giám đốc (qua hoạt động thực tiễn của người điều hành các
cấp).
(“Rừng lý luận quản lý” – Harold Koong – 1961)
Mỗi trường phái về lý luận quản lý đều có cống hiến nhất định, cung cấp cho các nhà
quản lý những kiến giải và phương pháp hữu hiệu (với tư cách là công cụ, phương
tiện thay vì là nội dung quản lý).
Với cuộc cách mạng thông tin phôi thai từ đầu thế kỷ XX, thế giới bắt đầu bước vào
một xã hội “hậu công nghiệp” với các cách định danh chưa thống nhất. Từ đó, bắt
đầu xuất hiện một số thuyết quản lý mới, đầu tiên là thuyết “tổng hợp và thích nghi”
do Peter Drucker (1909, người Anh) đề xướng qua tác phẩm nổi tiếng “Quản lý trong
thời đại bão táp”. Tuy nhiên hãy còn quá sớm để định hình một trường phái quản lý
“hậu hiện đại”.
Việc phân loại các trường phái chủ yếu có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu về lý
luận quản lý. Điều đáng quan tâm hơn đối với các người làm quản lý thực tiễn là nội
dung cụ thể của từng thuyết quản lý, bất kể thuộc trường phái nào miễn là có thể
vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của môi trường quản lý hiện hữu.
Trường phái cổ điển - Thuyết Taylor
Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, trường phái quản lý cổ điển - còn gọi là trường phái
phổ biến - gồm hai thuyết quản lý chính: thuyết quản lý theo khoa học (do
F.W.Taylor là đại diện chủ yếu) và tiếp đó là thuyết quản lý tổng quát (do H.Fayol đề
xướng). Trường phái cổ điển đã đặt nền móng đầu tiên cho khoa học quản lý với
những đóng góp có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ hoạt động quản lý trong xã hội
công nghiệp, mà những nội dung cơ bản của nó vẫn có giá trị cao cho đến bây giờ.
Frederick Winslow Taylor (1856 - 1916) xuất thân là một công nhân cơ khí ở Mỹ,
kinh qua các chức vụ đốc công, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư. Với kinh nghiệm
sản xuất (qua hợp lý hóa lao động, xây dựng định mức lao động); tiêu chuẩn hóa
phương pháp thao tác và điều kiện tác nghiệp; phân công chuyên môn hóa (đối với
lao động của công nhân và đối với các chức năng quản lý); và cuối cùng là tư tưởng
“con người kinh tế” (qua trả lương theo số lượng sản phẩm để kích thích tăng năng
suất và hiệu quả sản xuất). Từ những tư tưởng đó, đã mở ra cuộc cải cách về quản lý
doanh nghiệp, tạo được bước tiến dài theo hướng quản lý một cách khoa học trong
thế kỷ XX cùng với những thành tựu lớn trong ngành chế tạo máy.
Người ta cũng nêu lên mặt trái của thuyết này. Trước hết, với định mức lao động
thường rất cao đòi hỏi công nhân phải làm việc cật lực. Hơn nữa, người thợ bị gắn
chặt với dây chuyền sản xuất tới mức biến thành những “công cụ biết nói”, bị méo
mó về tâm - sinh lý, và như vậy là thiếu tính nhân bản. Từ đó, đã từng có ý kiến cho
rằng thuyết này đã né tránh, dung hòa đấu tranh giai cấp mang tính cách mạng. Tuy
nhiên, tương tự nhiều thành tựu khác của khoa học - kỹ thuật, vấn đề là ở người sử
dụng với mục đích nào. Chính vì thế, trong khi Lênin phê phán đó là “khoa học vắt
mồ hôi công nhân”, ông vẫn đánh giá rất cao như một phương pháp tổ chức lao động
tạo được năng suất cao, cần được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội, trong đó điều kiện lao động được cải thiện và lợi nhuận từ lao động thặng dư
được sử dụng để nâng cao mức sống vật chất, tinh thần toàn xã hội.
Từ tinh thần cốt lõi ban đầu, đã thu hút nhiều nhà quản lý có tài năng tham gia “Hiệp
hội Taylor” để hoàn thiện, phát triển thuyết quản lý theo khoa học. Qua đó, đã hạn
chế tính cơ giới của tư tưởng “con người kinh tế”, đặt nhân tố con người lên trên
nhân tố trang bị kỹ thuật, nhân bản hóa quan hệ quản lý, dân chủ hóa sản xuất,
phát huy động lực vật chất và tinh thần với tính công bằng cao hơn và đề cao quan
hệ hợp tác hòa hợp giữa người quản lý với công nhân. Đóng góp đáng kể vào quá
trình đó có công lao của Henry L. Gantt (1861 - 1919) về hệ thống tiền thưởng; của
Ông bà Gilbreth về việc loại bỏ các động tác thừa và về cơ hội thăng tiến của người
công nhân, v.v…
Thuyết quản lý theo khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp cơ sở
(doanh nghiệp) với tầm vi mô. Tuy nhiên, nó đã đặt nền móng rất cơ bản cho lý
thuyết quản lý nói chung, đặc biệt về phương pháp làm việc tối ưu (có hiệu quả cao),
5. Kế toán (kiểm kê tài sản, theo dõi công nợ, hạch toán giá thành, thống kê)
6. Quản lý - điều hành (kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra).
Qua đó, ông xác định nội hàm quản lý gồm: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối
hợp và kiểm tra. Chính đó là sự khái quát các chức năng quản lý, bảo đảm cho hoạt
động tiến hành thuận lợi và có hiệu quả. Như vậy chức năng quản lý chỉ tác động
đến con người, là sự quản lý của tổ chức xã hội đối với con người (không phải là trực
tiếp tác động đến nguyên liệu, thiết bị…). Với quan niệm đó, thực chất thuyết Fayol
là lý thuyết về tổ chức xã hội. Cũng qua đó, Fayol phân biệt rõ lãnh đạo với quản lý,
trong đó quản lý chỉ là một công cụ bảo đảm sự lãnh đạo nhằm đạt được mục đích
của cả tổ chức; và do đó hoạt động chủ yếu của người lãnh đạo là phát huy cao tác
dụng của quản lý, thông qua hoạt động quản lý để thúc đẩy các hoạt động của tổ
chức.
Mặt khác, Fayol cũng cho rằng quản lý không phải là đặc quyền và trách nhiệm riêng
của cá nhân người đứng đầu, mà được phân chia cho các thành viên khác trong hệ
thống tổ chức quản lý. Từ đó, ông đưa ra trật tự thứ bậc trong hệ thống đó gồm 3
cấp cơ bản: cấp cao là Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành; cấp giữa là các
người tham mưu và chỉ huy thực hiện từng phần việc, từng công đoạn; cấp thấp là
các người chỉ huy tác nghiệp ở từng khâu. Trật tự đó thể hiện sự phân phối quyền lực
và trách nhiệm với ranh giới rõ ràng.
Về các chức năng quản lý, chức năng hoạch định (dự đoán, lập kế hoạch) được coi là
nội dung hàng đầu, cơ bản nhất. Tuy vậy, ông cũng chỉ ra tính tương đối của công cụ
kế hoạch, không thể dự đoán đầy đủ và chính xác mọi biến động, cần phải xử lý linh
hoạt sáng tạo. Chức năng tổ chức bao gồm tổ chức sản xuất (các công đoạn, các
khâu trong hoạt động) và tổ chức bộ máy quản lý (cơ cấu, cơ chế, các quan hệ chức
năng, nhân sự). Chức năng điều khiển là tác động lên động cơ và hành vi của cấp
dưới để họ phục tùng và thực hiện các quyết định quản lý; vừa có tính kỷ luật cao
vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo. Chức năng phối hợp là kết nối, liên hợp,
điều hòa tất cả các hoạt động và các lực lượng, đảm bảo cho các hoạt động diễn ra
hài hòa, gắn bó trong một thể thống nhất, tạo ra tổng hợp lực và sự cân đối. Chức
năng kiểm tra là nắm chắc diễn biến tình hình hoạt động để kịp thời phát hiện vấn đề