1. Phần mở đầu
1.1. Lý do chọn Sáng kiến
Từ khi tôi bước vào nghề dạy học thấm thoát đến nay tôi đã dạy học được hơn
20 năm. Mặc dù, được tổ chức phân công từ miềm núi đặc biệt khó khăn sau trở về
quê hương dạy học thuộc vùng chiêm trũng quanh năm đồng trắng, nước trong.
Và giờ đây tôi đang công tác tại trường tiểu học Lãng Sơn. Trong suốt thời gian đó
tôi được phân công giảng dạy ở tất cả các khối lớp 1,2,3,4,5. Cho dù dạy học khối
lớp nào hay ở đâu, vùng miền nào đi chăng nữa nhưng tôi vẫn đau đáu một điều
làm thế nào đó giúp các em học sinh học tốt phân môn Tiếng Việt.
Tôi nhận thấy rằng môn Tiếng Việt là một trong những môn trọng tâm của bậc
tiểu học, Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, do vậy ngay từ lớp học đầu cấp một học sinh đã
được học tất cả các chữ ghi âm, ghép vần, tiếng, từ, đoạn văn, thơ… Các đoạn văn thơ
lớp 4 có rất nhiều thể loại, việc dạy học tập sao cho đạt hiệu quả, góp phần để học sinh
học tốt môn Tiếng Việt thì nhiệm vụ đề ra phải có phương pháp giảng dạy phù hợp, có
sự định hướng của giáo viên để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập. Đó là
lòng yêu nghề của người giáo viên trong đó cũng là của bản thân tôi.
Đặc biệt là khi được điều động đến công tác tại trường tiều học Lãng Sơn. Tôi
được Ban giám hiệu nhà trường phân công tôi chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4 trong
nhiều năm liền. Và năm nào cũng vậy, ngay từ đầu năm học ngoài việc tổ chức cho
các em học sinh tham gia vệ sinh trường lớp theo khu vực đã được phân công, học
nội quy lớp học, giáo dục kĩ năng sống cùng với việc tổ chức cho học sinh tự bầu
bộ máy hội đồng tự quản của lớp mình phụ trách. Tôi còn tập trung kiểm tra việc
học của từng học sinh qua các môn học để phân loại học sinh ngay từ đầu năm học.
Từ đó có kế hoạch phối hợp cùng gia đình phụ huynh học sinh thông qua cuộc họp
phụ huynh đầu năm để cùng nhau trao đổi tìm ra phương pháp giảng dạy và giáo
dục học sinh đạt kết quả tốt nhất.
Từ việc giảng dạy và theo dõi học sinh qua những tuần học đầu tiên về việc
học tập các môn học của các em. Tôi thấy trong phân môn Tiếng Việt nhiều em sử
dụng câu từ để viết văn chưa diễn đạt được ý, một số câu văn còn lủng củng và
những em đó thường đọc bài chưa lưu loát, đọc còn nhỏ. Một số em đọc ngắt nghỉ
hơi chưa chính xác, trong khi đọc mồm đọc theo kiểu “nhát gừng”. dẫn đến câu
+ Học sinh ngoan ngoãn đã có sự chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên.
+ Học sinh có vốn từ ngữ về Tiếng Việt nhất định.
- Khó khăn:
+ Học sinh ngắt nghỉ lung tung khi đọc bài.
+ Học sinh mắc lỗi đọc sai theo vùng miền, địa phương.
+ Học sinh chưa biết thể hiện diễn cảm văn bản khi chưa có sự hướng dẫn của
giáo viên.
2
+ Có những bài tập đọc đòi hỏi học sinh phải có óc tưởng tưởng, phải đọc
nhiều lần mới hiểu.
+ Giáo viên chưa quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng đọc văn cho học sinh,
chưa chú trọng phát huy đọc diễn cảm và sáng tạo.
+ Việc giúp học sinh cảm thụ, đọc có suy ngẫm, tưởng tượng, liên hệ với cuộc
sống chưa sâu.
+ Kết hợp củng cố, bổ sung kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp, giá trị nghệ thuận,
giúp tích lũy vốn hiểu biết về thực tế vận dụng viết văn chưa đồng bộ.
Vì vậy, để có phương pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
phân môn tập đọc là cần thiết.
2.2. Các giải pháp
1. Chuẩn bị của giáo viên.
Tiến hành soạn bài đầy đủ, xác định rõ mục đích, yêu cầu, trọng tâm bài.
Xây dựng hệ thống câu hỏi có sự liên kết, hướng mở rộng nhằm nâng cao
kiến thức cho học sinh.
Chuẩn bị đồ dùng trực quan: Rõ ràng, đẹp, màu sắc sinh động, tạo hứng thú
học tập cho học sinh.
Thầy không phải là người chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà là người
tổ chức định hướng, giúp cho học sinh chủ động, tự lực, tự chiếm lĩnh tri thức mới,
Ví dụ: Để phát âm L thì khi phát âm đầu lưỡi nhọn và cong lên, với N thì đầu
lưỡi rộng, thẳng đẩy ra ngoài.
Để phát âm: Quả bưởi (thành nói quạ bượi) thì luồng hơi để tạo đúng tiếng thì
luồng hơi đi thẳng từ cuối lưỡi và hơi dài hơn khi phát âm.
b. Dạy đọc trôi chảy.
Đối tượng học sinh lớp 4 không đọc ê, a ngắc ngứ nữa nên yêu cầu đọc lưu
loát, trôi chảy phải được cao lên mức đọc thành cụm từ, thành ý, biết ngắt nghỉ
theo hơi ý, các dấu câu được đọc thơ các em phải có ý thức về cấu trúc câu.
Ví dụ: Ngắt hơi sau những dòng thơ ngắn 2 –> 3 tiếng xen kẽ với những dòng
thơ dài:
“Tre xanh /,
Xanh tự bao giờ? //
Chuyện ngày xưa … / đã có bờ tre xanh … //
Đọc ngắt hơi sau dòng thơ ngắn biết kết hợp nhấn giọng các điệp ngữ như sau:
“… Mai sau, /
Mai sau, /
Mai sau, /
4
Đất xanh/ tre mãi xanh màu / tre xanh //”
(Tre Việt Nam – Tiếng Việt lớp 4 tập 1)
Hoặc:
“ Phượng không phải là một đóa, không phải vài cành, phượng đây là cả một
loạt, cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là một phần tử của xã hội
tươi thắm, người ta quên đóa hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán hoa
lớn xòe ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau”.
(Tiếng Việt lớp 4 tập 2 bài “Hoa học trò”
c. Giáo viên cho học sinh chia đoạn và gọi học sinh đọc nối tiếp mỗi em một
đoạn, yêu cầu đọc trôi chảy, phát âm đúng. Giáo viên có thể cho học sinh 3 lượt,
Tổ chức cho học sinh đọc thuộc lòng.
Tổ chức cho học sinh thi đọc thuộc lòng từng khổ thơ và cả bài thơ.
5. Kết hợp củng cố, bổ sung kiến thức về viết văn cho học sinh.
Chương trình Tiếng Việt ở cấp tiểu học lấy các đoạn văn, đoạn thơ trong môn
tập đọc làm điểm tựa để dạy luyện từ và câu và tập làm văn.
Hướng dẫn học sinh tham khảo các bài tập.
Các bài tập đọc về mẫu văn miêu tả các bộ phận của con vật ở lớp 4 nhằm cho
học sinh quan sát các bộ phận của con vật, quan sát bằng nhiều giác quan, mắt
nhìn, tai nghe…
Sắp xếp các mẫu câu văn thành đoạn văn miêu tả con vật. Biết dùng từ đặt
câu, cách dùng hình ảnh, chi tiết, cách sử dụng biện pháp nghệ thuật quen thuộc so
sánh, nhân hóa. Biết xác định trọng tâm của bài tập làm văn.
Ví dụ: Hình ảnh so sánh, bốn cái cánh mỏng như giấy bóng, hai con mắt long
lanh như thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu.
Hình ảnh so sánh cho ta hình dung ra đôi cánh và cặp mắt của chú chuồn
chuồn. Hình ảnh so sánh giúp ta hình dung được chú chuồn chuồn này màu vàng
nhạt, chú nhỏ xíu rất đáng yêu.
Hình ảnh nhân hóa: Bốn cánh khẽ rung rung như còn đang phân vân, hình ảnh này
thể hiện chú chuồn chuồn đang rung nhẹ đôi cánh và tâm trạng phân vân, tác giả tả chú
chuồn chuồn có tâm trạng phân vân như con người qua đôi cánh mỏng, khẽ rung rung
khiến tác giả có cảm giác chú đang hồi hợp chưa quyết định đậu hay bay.
6
3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa phạm vi áp dụng của Sáng kiến
Nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn tập đọc lớp 4 giúp học sinh phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, việc học tập đạt kết quả khi tự học
sinh khám phá ra nội dung mới của bài học. Giáo viên chủ yếu xây dựng cho học sinh