Nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên trong công tác giảng dạy ở trường THCS điện biên TP thanh hóa - Pdf 44

PHỤ LỤC
TT

PHẦN

1
2
3
4
5
5
6
7
8
9
10

I
1
2
3
4
II
1
2
3
4
III

NỘI DUNG



Trong những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Việt nam luôn là
vấn đề được xã hội rất quan tâm. Khi bàn đến vai trò của những người thầy
trong sự nghiệp giáo dục, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết “Thầy giáo là một
nhân vật trọng tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nên những
con người mới xã hội chủ nghĩa. Vậy thầy giáo phải không ngừng vươn lên, rèn
luyện tu dưỡng về mọi mặt để thực sự xứng đáng là người thầy giáo xã hội chủ
nghĩa”. Như vậy, người thầy thực hiện chức năng dạy học bằng cả trách nhiệm,
lương tâm, tấm lòng, tài năng sư phạm. Chính nhiệm vụ thiêng liêng đó đòi hỏi
đội ngũ giáo viên phải thực sự có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
vững vàng, đặc biệt có khả năng về phương pháp truyền đạt. Đó là những con
người chủ động, sáng tạo và tích cực trong công việc và cuộc sống.
Vì vậy, công tác bồi dưỡng chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học cho
đội ngũ giáo viên phải thường xuyên liên tục trong suốt cuộc đời dạy học của
mình và có tầm quan trọng chiến lược, có tính chất quyết định chất lượng giáo
dục và dạy học trong nhà trường, bởi lẽ lao động sư phạm là lao động sáng tạo,
đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu và toàn diện, luôn bổ sung cái mới
nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm. Tính đa dạng, phức tạp của hoạt động
giảng dạy - giáo dục đòi hỏi người lãnh đạo nhà trường phải thường xuyên chú ý
đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận và nghiệp vụ của giáo viên. Đại hội
Đảng lần thứ 8 cũng nêu rõ: “ Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu
tố cơ bản cho sự phát triển bền vững của đất nước” mà muốn có nguồn lực con
người thì con đường duy nhất là phải thông qua con đường giáo dục- đào tạo.
Giáo dục đào tạo, giữ vai trò trọng yếu cho sự phát triển quốc gia.
Song đổi mới như thế nào, kết quả ra sao ? Đó là cả một vấn đề lớn mà
nghành giáo dục hết sức quan tâm, hướng học sinh đạt những yêu cầu của giáo
dục trong thời đại mới. So với các môn học khác trong nhà trường, môn ngữ văn
là môn học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Văn chương vốn
có khả năng nhanh nhạy nhất để đi sâu vào tâm linh bạn đọc. Nó lắng đọng, kết
tinh trong tâm hồn họ, giúp họ hiểu con người , cuộc sống và khát vọng vươn tới

trường ngày càng có hệu quả hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Giáo viên và học sinh trường THCS Điện Biên năm học 2015-2016.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Trên cơ sở thực tại về chất lượng giáo dục của nhà trường về bộ môn
ngữ văn, do yêu cầu đáp ứng của xã hội hiện nay về chất lượng đào tạo.
Dựa vào các văn bản, phương pháp đổi mới của bộ môn.
4.2.Phương pháp quan sát.
Nhìn nhận thực trạng về công tác giảng dạy của giáo viên nhà trường THCS
Điện Biên. Đưa ra một số biện pháp về việc thực hiện công tác nâng cao chất
lượng giảng dạy của các bộ môn trong nhà trường. Nhất là bộ môn ngữ văn
trong giai đoạn hiện nay.
II. NỘI DUNG
3


2.1. Cơ sở lý luận.
Hiện nay Đảng ta đã và đang xây dựng chiến lược cán bộ, quy hoạch đào
tạo, bồi dưỡng phát huy hoàn thiện vai trò nhiệm vụ của người giáo viên cho
thập niên đầu của thế kỷ XXI. Trong xu thế mở cửa, trong tình hình khoa học và
công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão làm lượng chất xám trong sản
phẩm hàng hoá ngày càng cao. Làm thế nào để chúng ta có đủ khả năng cạnh
tranh và tham gia vào công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong
hoàn cảnh đất nước phát triển mạnh mẽ.
Vấn đề ai cũng thấy rõ là phải bắt đầu từ giáo dục đào tạo, đồng thời phải có
một bộ phận giáo dục đào tạo chất lượng, quy mô nhỏ ưu tiên về nguồn lực và
điều kiện chỉ đạo, quản lý nên hạt nhân về chất lượng của hệ thống và tiềm lực
khoa học công nghệ của đất nước trong cạnh tranh quốc tế. Từ việc nâng cao
dân trí bồi dưỡng nhân tài, trong đó bồi dưỡng nhân tài là yếu tố rất quan trọng.

2.3. Thực trạng về công tác nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo
viên dạy môn ngữ văn trong nhà trường THCS Điện Biên.
2.3.1. Thuận lợi.
- Về điều kiện xã hội:
Điện Biên là một phường trung tâm của Thành phố Thanh hóa. Trường
THCS Điện Biên là ngôi trường nằm trên địa bàn trung tâm của phường. Năm
2007 trường đã được đón bằng công nhận trường chuẩn quốc gia giai đoạn I.
Năm học 2015-2016 nhà trường có một số đặc điểm sau:
Tổng số cán bộ giáo viên: 43. Trong đó, cán bộ quản lý: 03, 02 nhân viên
hành chính và 36 giáo viên, cùng 710 học sinh trên 04 khối lớp. Trình độ chuyên
môn của giáo viên: 100% các đồng chí giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên
chuẩn. Trong đó Thạc sĩ: 03; Đại học: 34 ; Cao đẳng sư phạm: 06.
Là trung tâm văn hoá xã hội cho nên điều kiện tiếp thu với sách báo tham
khảo ngày càng phong phú cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công việc dạy và
học bộ môn ngữ văn. Nhà trường luôn nhận được sự chỉ đạo chuyên môn kịp
thời của Phòng Giáo dục - Đào tạo Thành phố Thanh Hóa. Bên cạnh đó, trường
còn nhận được sự động viên và hỗ trợ tích cực của Đảng uỷ và UBND Phường
Điện Biên và phụ huynh học sinh của trường.
- Về phía giáo viên: Nhìn chung đội ngũ giáo viên được chuẩn hoá về mặt đào
tạo đang được trẻ hoá dần. Đa số các giáo viên nhiệt tình trong công tác. Có đội
ngũ nòng cốt chuyên môn nhiệt tình. Đặc biệt là các đồng chí giáo viên trẻ nhiệt
tình, hăng say công tác và được trang bị nhiều kiến thức mới, luôn đổi mới trong
phương pháp giảng dạy, ứng dụng CNTT linh hoạt có hiệu quả, nhiệt tình và có
trách nhiệm cao để đạt hiệu quả tốt, phát huy được vai trò mũi nhọn trong công
tác giảng dạy.
2.3.2. Khó khăn.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh thì vẫn còn những hạn chế. Đó là mặc
dù giáo viên dạy giỏi đều các môn chiếm đa số song nhận thức về vị trí, vai trò
và nhiệm vụ của bản thân trong công tác bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên
cũng chưa thật sự đầy đủ, chưa mạnh, chưa nhận thức rõ vai trò của bồi dưỡng

Đa số học sinh chỉ dùng sách để đọc chép, không mang tính tham khảo,
học hỏi.
-Về đội ngũ giáo viên của nhà trường: Trình độ chuyên môn chuẩn, tuy
nhiên sự đầu tư cho nội dung dạy chưa cao. Một số giáo viên đôi khi còn rơi vào
giảng dạy kiểu cũ, giờ dạy văn còn mang tính diễn xuôi, chưa làm toát lên cái
hay, cái đẹp của văn chương. Cho nên giờ dạy văn còn đơn điệu, chưa phát huy
được khả năng tư duy của học sinh. Giáo viên chưa lôi cuốn được sự ham thích

6


say mê của học sinh đối với bộ môn học này. giáo viên phải dạy nhiều lớp, kiêm
nhiệm nhiều môn...
Ngoài ra , trong thực tế vẫn còn có giáo viên chưa tự ý thức tự nâng cao trình
độ nghiệp vụ chuyên môn: Ngại đọc, ngại cải tiến tìm tòi đổi mới, học sinh tiếp
thu kiến thức từ phía giáo viên một cách thụ động, không hướng dẫn phương
pháp học tập cho các em. Dạy học đôi khi còn tràn lan, chưa trọng tâm. Năng
lực thẩm bình văn chương của giáo viên còn hạn chế. Chính điều đó làm giảm
sự lôi cuốn của giờ học văn.
1. Hệ đào tạo:
Tổng số
CBGV

Nữ

43

40

Cao đẳng

0

2014-2015
30
04
0

2015-2016
35
05
01

NĂM HỌC
XẾP LOẠI GIÁO VIÊN
Xuất sắc
Khá

Trung bình

2012- 2013
25/30
5/30
0

2013-2014
26/30
6/30
0

2014-2015

hoạch. Trong thực tế chỉ có tự học mới có điều kiện hoàn thiện bản thân, học tập
là vấn đề thường xuyên và suốt đời. Trước hết trách nhiệm của người quản lý là
phải suy nghĩ, tìm biện pháp để thổi bùng lên ngọn lửa của phong trào tự học, tự
bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn giáo
viên giỏi phải là một phần trọng tâm trong kế hoạch chung, để thể hiện rõ trong
các hoạt động giáo dục của nhà trường, của các tổ, khối chuyên môn. Mỗi hoạt
động bồi dưỡng từng bộ môn đều có mục đích riêng, nội dung và phương pháp,
phương tiện thực hiện riêng và cuối cùng phải được Hiệu trưởng đánh giá.
Trong thời gian ngắn cần có kế hoạch tìm hiểu tình hình chất lượng bồi
dưỡng học sinh giỏi, dạy học sinh đại trà, phụ đạo học sinh yếu kém của nhà
trường. Tổ chức hình thành các nhóm chuyên môn ở các tổ chuyên môn khoa
học xã hội và tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ dạy ngữ văn. Lãnh
đạo nhà trường cần triển khai nội dung kế hoạch tới từng giáo viên, lập kế hoạch
bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Cụ thể như sau:
2.4.2. Kế hoạch công tác trong học kỳ I năm học 2015-2016
Các hoạt động và các
công việc cụ thể

Thời
gian bắt
đầu

1. Hoạt động 1:
Họp BGH mở rộng
CV1: Hiệu trưởng xây
dựng triển khai kế
Tuần 1
hoạch thao giảng.
CV2: Họp BGH mở
rộng


Phó hiệu
Giáo viên thấy được
trưởng, tổ
những vấn đề cần bổ
chuyên môn
sung trong phương
pháp dạy.

1 tuần

Phó

hiệu Chia 3 nhóm chuyên
8


Chia nhóm chuyên
môn
2. Hoạt động 2:
Tuần 4
Giáo viên nghiên cứu
lại kỹ thuật bồi dưỡng
theo chuyên đề
3. Hoạt động 3:
Tuần 4
Triển khai nội dung kế
hoạch tới từng giáo
viên


giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém của nhà trường, qua đó có kế hoạch điều chỉnh
bổ sung kịp thời.
b. Chỉ tiêu (Số lượng và chất lượng):
- Đồi với giáo viên dạy các khối 6,7 chủ yếu nâng cao chất lượng đại trà và phụ
đạo học sinh yếu kém.
- Đồi với học sinh khối 8, 9 tiến hành bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Phân công các đồng chí lãnh đạo trong Ban giám hiệu phụ trách các tổ chuyên
môn, theo dõi công tác bồi dưỡng giáo viên, kiểm tra thường xuyên giáo án dạy
chính và dạy thêm. Thảo luận, góp ý về nội dung rút kinh nghiệm kịp thời. Phân
công giáo viên làm nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi ở các khối lớp theo môn
học. Cần có sự kiểm tra đánh giá thường xuyên.
c. Biện pháp thực hiện:
Để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên đạt kết quả tốt thì:
9


- Hiệu trưởng phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng
chuyên môn cho đội ngũ giáo viên.
- Ban giám hiệu nhà trường cần xác định đúng nhu cầu, mục tiêu, nội dung cần
bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên.
- Tổ chức và chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên đạt hiệu quả.
Kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn phải là một phần trong kế hoạch chung, để
thể hiện rõ trong các hoạt động giáo dục của nhà trường, của các tổ, khối chuyên
môn. Mỗi hoạt động bồi dưỡng đều có mục đích riêng, nội dung và phương
pháp, phương tiện thực hiện riêng và cuối cùng phải được Hiệu trưởng đánh giá.
2.4.4. Kế hoạch công tác trong học kỳ II năm học 2015-2016:
Các hoạt động và các
công việc cụ thể
3. Hoạt động 3:

trách
nhiệm
chính

Kết quả cần đạt
được

Hiệu
trưởng

Định ra cho
từng tổ chuyên
môn, từng giáo
viên mức danh
hiệu cần đạt được.

Hiệu
trưởng
2 tuần
Mỗi giáo viên,
nhóm, tổ chuyên
môn nắm được kế
hoạch chung và
công việc của mình

Phó hiệu
trưởng, tổ
chuyên
10



Chia 2 tổ CM
Bàn bạc việc
thực hiện chương
trình, việc giảng
dạy những bài
khó, cách sử dụng
đồ dùng, phương
tiện CNTT dạy
học sao cho hiệu
quả

Phó hiệu
trưởng, tổ
chuyên
môn

Đủ sách giáo
khoa, tài liệu
tham khảo nâng
cao cho các nhóm
bộ môn
Hiệu
Toàn thể cán bộ
Theo học trưởng và giáo viên nhà
kỳ
toàn thể trường tham gia
cán
bộ
giáo viên

sáng tạo đổi mới nội dung phương pháp dạy học, sử dụng đồ dùng dạy học sao
cho có hiệu quả. Phân công trong ban giám hiệu, tổ trưởng phụ trách và theo
dõi công tác bồi dưỡng giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi.
Thời gian thực hiện từ: Từ năm 2015- 2016 đến năm 2016-2017
c. Nội dung đã thực hiện:
- Tất cả các giáo viên được dự giờ và được tham gia dạy để CBQL và GV trong
trường dự giờ. Tổng số tiết dự 40.
- 100% GV xác định đúng nội dung kiến thức, phương pháp dạy học cho bài dạy
của mình, chú trọng việc nâng cao trong các tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi
được phân công.
- Các nhóm chuyên môn nắm bắt được thực trạng thực tế tình hình giáo viên
của tổ, đội ngũ giáo viên trong công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ.
- Ban giám hiệu phân công trách nhiệm cho chuyên môn tổ chức trong từng
công việc cụ thể để thực hiện nhiệm vụ. Theo dõi kiểm tra đánh giá tiến trình
thực hiện công tác này. GV mượn tài liệu thư viện về nhà tự nghiên cứu, báo
cáo kết quả việc nghiên cứu bằng văn bản.
- Chỉ đạo chung : Ban giám hiệu.
2.4.6. Kế hoạch công tác trong năm học ( 2016-2017):
Các hoạt động và các

Thời

Thời gian

Người

Kết quả cần đạt
12



trong tổ nhóm chuyên
8/2017
môn
học cần thiết
môn
10. Triển khai bồi Tháng Hết tháng BGH,
Học sinh được
dưỡng học sinh theo kế 7/2013 8/2017
giáo viên nâng cao kiến thức.
hoạch
BD
2.4.2. Các biện pháp cụ thể.
Thứ nhất: Yêu cầu phải có giáo án và giáo viên phải đổi mới cách soạn
bài
-Dạy văn lấy học sinh làm trung tâm thì bài soạn của giáo viên cũng luôn
hướng về mục đích ấy. Kiến thức cơ bản, khoa học, phù hợp với trình độ đối
tượng học sinh. Giáo án phải thể hiện được hệ thống kiến thức chắc chắn, thể
hiện được trọng tâm.
- Bài soạn sáng tạo, hệ thống câu hỏi ngắn gọn, phù hợp với đối tượng
học sinh( có nhiều loại câu hỏi, đa dạng, sáng tạo, gợi mở, suy luận, tổng hợp).
Ví dụ: Khi kiểm tra giáo án của giáo viên nên tìm hiểu hệ thống câu hỏi
trong bài soạn. Bởi một số giáo viên thường chỉ đưa ra hiện tượng ngôn ngữ câu
hỏi phát vấn chỉ qua loa chiếu lệ nặng về phát hiện, hoặc câu hỏi vụn vặt đơn
điệu, không sinh động, không theo một hệ thốngdẫn dắt học sinh tìm hiểu ,
khám phá và kết luận. Người Thầy tự rút ra bài học về lý thuyết. Cách dạy này
khiến cho học sinh thường cảm nhận và tiếp thu kiến thức một cách máy móc, ít
phát huy tính độc lập, chủ động sáng tạo của học sinh. Giờ học trở nên thụ động
nhàm chán.
Hoặc một số giáo viên cũng thực hiện đổi mới phương pháp theo cách nêu
câu hỏi, đặt vấn đề cho học sinh suy nghĩ tìm tòi nhưng lại nghiêng về tính chất

Qua việc sinh hoạt hàng tuần, tháng với nội dung bàn thảo luận chỉ tiêu và đề ra
kế hoạch. Xây dựng và triển khai kế hoạch đến các tổ. Phân công các đồng chí
trong ban giám hiệu phụ trách các tổ chuyên môn. Thảo luận, lập kế hoạch bồi
dưỡng giáo viên, nâng cao về chuyên môn trong từng năm học. bàn bạc về việc
thực hiện chương trình, giảng dạy những bài khó, cách sử dụng đồ dùng dạy học
và Cntt sao cho có hiệu quả.
- Ngay đầu năm học, các tổ nhóm chuyên môn cần có kế hoạch về việc tự học
và nâng cao chất lượng giờ dạy của các bộ môn. Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt
cán ở các khối, lên kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém,
nâng chất lượng đại trà.

14


- Tổ nhóm chuyên môn bắt được thực trạng thực tế giáo viên của tổ để có kế
hoạch nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ.
Thứ ba: Phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo của học sinh:
- Muốn phát huy tính chủ động , sáng tạo của học sinhthì trước hết người
giáo viên phải tìm hiểu tác phẩm một cách chính xác , sâu sắc đến tận cùng.
Trên cơ sở đó gợi cho học sinh khám phá tác phẩm một cách đúng hướngvà
đúng cách. Sức hấp dẫn nằm trong tác phẩm. Người giảng phải hiểu sâu tác
phẩm, phải sống cùng các nhân vật trong tác phẩm. Sống thực sự với bài văn ,
rung động thực sự với hình tượng của nhân vật . Đó là cách tốt nhất để kích
thích sự học tập của học sinh, để học sinh thấy được mình cũng là người sáng
tạo chứ không phải là người thụ động.
- Trong giờ học giáo viên phải tổ chức lớp để tạo tính tích cực, chủ động
của học sinh, để các em tự tìm hiểu, phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sở tự
giác và tự do. Trường chúng tôi dạy, tinh thần chỉ đạo của chuyên môn vừa phát
huy tính chủ động sáng tạo của học trò, vừa thưc hiện đúng đặc trưng của bộ
môn, khiến giờ văn nhẹ nhàng, thoải mái, làm lay động tâm hồn học trò. Những

học tác phẩm này. Tuy nhiên , để đạt được điều này trước hết người dạy phải đầu
tư trong bài soạn của mình. Hiện nay đa số học sinh chưa ham thích học văn,
còn thụ động, phụ thuộc tài liệu, chưa chủ động khám phá bài học nếu không
được giao nhiệm vụ. Việc chuẩn bị bài của các em sơ sài, không đọc tác phẩm
mà chủ yếu là dựa sách tham khảo, ngôn ngữ nói , viết còn hạn chế. Chính vì thế
cho nên trong các buổi họp tổ, nhóm thảo luận , giáo viên luôn rút kinh nghiệm
bài dạy và trao đổi về việc hướng dẫn cho học sinh suy nghĩ và làm việc nhiều
hơn, thảo luận nhiều hơn. Nghĩa là học sinh phải luôn chủ động, tích cực, sáng
tạo trong hoạt động nhận thức, cảm thụ và ứng dụng các kiến thức, kỹ năng văn
học. Giáo viên phải giúp học sinh tự khám phá và tìm tòi kiến thức, tranh luận,
đề xuất vấn đề đang giải quyết.
Ngoài việc gợi mở kiến thức cho học sinh thì điều quan trọng đối với mỗi
giáo viên trong giờ học văn là nhất thiết phải có những đoạn bình giảng sắc sảo,
ấn tượng. Chính lời giàu hình ảnh và cảm xúc , tinh tếvà phù hợp với sự tiếp
nhận của học sinh sẽ tạo dư âm, kích thích hứng thú tiềm ẩn tự bên trong khiến
người học nhớ sâu, nhớ lâu và gợi mở những liên tưởng lan toả dây chuyền.
Thứ tư: Thường xuyên dự giờ thăm lớp của giáo viên
Tổ chức dự giờ, trao đổi thảo luận các giờ dạy qua các buổi sinh hoạt tổ,
nhóm chuyên môn hàng tuần, tháng.
- Dự giờ và đánh giá cụ thể chi tiết, rút kinh nghiệm qua các bài dạy trong
tổ, nhóm.
- Xem xét việc thực hiện kế hoạch và bài chấm của giáo viên. Thường
xuyên kiểm tra việc thực hiện chuyên môn và dự sinh hoạt chuyên môn ( kiểm
tra giáo án, hồ sơ giảng dạy và bài chấm).
- Xem tập ghi bài và soạn bài của học sinh, lắng nghe ý kiến của học sinh,
học sinh học và hiểu bài như thế nào?

16



Sinh hoạt tổ trao đổi về tài liệu dạy học, trao đổi cách dạy bài khó, kỹ
thuật dạy bài văn nghị luận xã hội, văn học, bồi dưỡng kỹ năng làm bài văn cho
học sinh. Năng lực chuyên môn về bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên dạy
đội tuyển được nâng lên rõ rệt. Qua các hình thức nội dung bồi dưỡng lực lượng
giáo viên trẻ được lực lượng giáo viên thâm niên hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm,
ngược lại lực lượng giáo viên trẻ nhạy bén thuận lợi tiếp cận và ứng dụng công
nghệ thông tin, thể hiện nhiều phương pháp mới kích thích sự học tập, sáng tạo
17


của học sinh. Việc thao giảng, dự giờ đi vào nề nếp, có chất lương và hiệu quả
cao. Sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn đi sâu vào chất lượng giờ dạy. Ý thức trách
nhiệm của các Thầy Cô giáo cao và luôn chăm lo cho học sinh đạt kết quả học
tập tốt.
Chính vì thế chất lượng đội ngũ giáo viên dạy giỏi, chất lượng mũi nhọn của
nhà trường ngày càng tăng lên rõ rệt. Đưa công tác bồi dưỡng giáo viên vào
phong trào thi đua: Có kế hoạch khen thưởng, động viên khích lệ giúp giáo viên
luôn tự tin, tự giác rèn luyện, phấn đấu nâng cao năng lực chuyên môn, thường
xuyên bồi dưỡng bổ sung. Đúng như lời của bà Irina Bokova, tổng Giám đốc
UNESCO đã nói: “ Đối với tất cả mọi quốc gia, để có một nền giáo dục tích cực
và chất lượng, trước hết cần phải có những nhà giáo giỏi. Muốn thế, các nước
phải có những biện pháp động viên, khuyến khích tốt nhất, hiệu quả nhất đối với
những người đứng trên bục giảng ở mọi cấp học trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống.”
III. Kết luận.
Qua quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong thực tế
của nhà trường tôi đã rút ra được những kinh nghiệm và kết quả như sau:
Công tác chỉ đạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là công việc đòi hỏi cần có
sự thường xuyên liên tục,có tính chuyên sâu trong từng bộ môn, vì vậy yêu cầu
người cán bộ quản lý phải có biện pháp quản lý và kế hoạch phù hợp. Cán bộ

Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác
Người viết

Đỗ Thị Minh Phương

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status