Trách nhiệm pháp lý của viên chức – qua thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG ĐỨC TRUNG

tr¸ch nhiÖm ph¸p lý cña viªn chøc qua thùc tiÔn thµnh phè hµ néi

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG ĐỨC TRUNG

tr¸ch nhiÖm ph¸p lý cña viªn chøc qua thùc tiÔn thµnh phè hµ néi
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số

: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN


1.1.

Khái niệm viên chức

14

1.2.

Phân biệt viên chức với cán bộ, công chức

18

1.3.

Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm pháp lý của viên chức

28

1.4.

Lịch sử hình thành, phát triển chế định trách nhiệm pháp lý

33

của viên chức
1.5.

Những nguyên tắc về trách nhiệm pháp lý của viên chức


Áp dụng trách nhiệm kỷ luật

51

2.1.2.

Áp dụng trách nhiệm vật chất

60

2.1.3.

Áp dụng trách nhiệm hành chính

66

2.1.4.

Áp dụng trách nhiệm hình sự

73

2.2.

Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý của viên chức ở

78

thành phố Hà Nội
2.3.


Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế định trách nhiệm

97

pháp lý của viên chức ở thành phố Hà Nội
3.2.

Các giải pháp góp phần hoàn thiện áp dụng pháp luật về trách

116

nhiệm pháp lý của viên chức
KẾT LUẬN

119

DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO

121

PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐVSNCL : Đơn vị sự nghiệp công lập
TNPL

: Trách nhiệm pháp lý

nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, trình độ nghiệp vụ cũng như năng lực
phục vụ nhân dân góp phần thực hiện cải cách hành chính nhà nước trong khu
vực dịch vụ công phù hợp, đồng bộ với xu hướng chuyển đổi từ nền hành

1


chính "cai trị - truyền thống" sang nền hành chính "phục vụ - hiện đại" và phù
hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Trách nhiệm pháp lý
của viên chức - qua thực tiễn thành phố Hà Nội" có ý nghĩa quan trọng về
lý luận và thực tiễn, góp phần làm sâu sắc thêm những nội dung cơ bản trong
các quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý (TNPL) của viên chức ở
nước ta hiện nay và trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trách nhiệm pháp lý của viên chức được pháp luật quy định từ rất
sớm. Song vấn đề này chưa được đề cập nhiều trong sách báo pháp lý, các
công trình nghiên cứu như hội thảo, bài báo khoa học, đề tài. Một số công
trình tiêu biểu như: Trách nhiệm vật chất đối với công chức theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, của tác giả Trần Thị
Hiền, năm 2006; sách chuyên khảo: Trách nhiệm pháp lý - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm
2008, do Tiến sĩ Lê Văn Long làm chủ biên; các bài viết có giá trị đăng trên
các báo, tạp chí chuyên ngành đề cập đến nội dung TNPL như: Hoàn thiện
pháp luật về công vụ, công chức và trách nhiệm pháp lý, của PGS.TS Thái
Vĩnh Thắng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, năm 2010; Bàn về trách nhiệm
pháp lý của viên chức ở nước ta hiện nay, của ThS. Tạ Quang Ngọc trong kỷ
yếu hội thảo khoa học về viên chức, Khoa Hành chính - Nhà nước, Trường
Đại học Luật Hà Nội, năm 2011… Nghiên cứu một số công trình khoa học

trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức của nhà nước. Song đến nay, giữa các quốc
gia chưa có sự đồng nhất trong việc phân biệt giữa công chức làm việc trong các
cơ quan nhà nước với viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp như trường
học, bệnh viện, viện nghiên cứu, cơ quan báo chí… Việc xử lý hành vi vi phạm,
truy cứu TNPL do hành vi trái pháp luật ở một số nước trên thế giới thường không
phân chia thành công chức hay viên chức, mà thường được phân thành công chức
làm việc trong cơ quan nhà nước (như công chức làm việc ở Văn phòng

3


Chính phủ, Bộ... hay công chức địa phương ở các bang, vùng, tỉnh, huyện...)
và công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công (như công chức làm
việc ở trường học học, bệnh viện, các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo chí...).
Tình hình nghiên cứu cụ thể
Bên cạnh những quan điểm chung nêu trên, mỗi tác giả, mỗi hệ thống
pháp luật của một quốc gia lại có những điểm đặc thù, riêng biệt khi đề cập
tới những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công (nhà nước lập ra)
và những hậu quả pháp lý bất lợi mà họ có khả năng gánh chịu khi có vi
phạm. Một số tác phẩm nghiên cứu cụ thể như:
Giáo sư luật công Gustave Peiser đã nghiên cứu về công chức, viên
chức và TNPL đối với nhóm đối tượng này trong tác phẩm Luật hành chính.
Đây là công trình nghiên cứu tổng thể các chế định pháp lý đối với các hình
thức, hoạt động (văn bản hành chính, tổ chức hành chính... và trách nhiệm tài
phán hành chính). Đặc biệt, tại phần II của công trình, tác giả tập trung nghiên
cứu về những hậu quả có thể gây tổn thất do hoạt động của chính quyền (trách
nhiệm). Ở đây, công trình không chỉ phân tích nội dung vấn đề TNPL của
công chức, viên chức đối với hoạt động của mình, mà tác giả còn đặt ra vấn
đề trách nhiệm của cơ quan công quyền với các hoạt động hành chính gây tổn
thất cho công chức, công chức có quyền yêu cầu đối với cơ quan khi gây tổn

cả bác sĩ và giáo viên); loại thứ hai là công chức quân sự, người làm việc ở
Tòa án và Nghị viện [118, tr. 42].
Theo quy định của pháp luật về công vụ, công chức của Cộng hòa
Pháp, công chức nhà nước (bao gồm cả những công chức làm việc trong các
trường học, bệnh viện, doanh nghiệp công) phải chịu trách nhiệm về hành vi
trái pháp luật của mình. Thực tế, tùy theo lĩnh vực quản lý nhà nước, tính
chất, mức độ vi phạm của công chức mà công chức có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội hối lộ, lạm dụng chức vụ để trục lợi cá nhân, được quy
định chung thành hành vi "lạm dụng địa vị công vụ để mưu lợi" [118, tr. 53].
Bên cạnh trách nhiệm hình sự do hành vi trái pháp luật của mình gây
ra, công chức có thể bị truy cứu trách nhiệm vật chất nếu gây thiệt hại từ hành

5


vi phạm tội đó. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải mọi hành vi lạm dụng
địa vị công vụ để mưu lợi khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều phải chịu
trách nhiệm vật chất. Nên khi xem xét TNPL của viên chức, vấn đề có ý nghĩa
đặc biệt là trách nhiệm vật chất của họ đối với những tổn thất, thiệt hại vật
chất do mình gây ra. Thiệt hại này có thể được gây ra cho người thứ ba và do
cơ quan hành chính bồi thường. Nhưng cũng có những thiệt hại mà nguyên
nhân do cơ quan hành chính nhà nước thì đều làm phát sinh trách nhiệm bồi
hoàn của công chức, viên chức (hoặc nhân viên nhà nước). Chính vì vậy, vấn
đề trách nhiệm bồi hoàn trong trách nhiệm vật chất của công chức, viên chức
ở Pháp hiếm khi được áp dụng, trừ trường hợp công chức, viên chức, nhân
viên nhà nước phạm lỗi nghiêm trọng.
Trách nhiệm kỷ luật đối với công chức, viên chức, nhân viên nhà nước
được áp dụng phổ biến hơn; được quy định cụ thể để tránh sự tùy tiện của cơ
quan có thẩm quyền áp dụng. Đối tượng bị áp dụng kỷ luật được thông báo
trước về vụ việc, họ sẽ có thời gian để nghiên cứu vụ việc, chuẩn bị cho việc

chức công. Các tổ chức công được xếp theo lĩnh vực như y tế, giáo dục, dịch
vụ công... Các dịch vụ mang tính xã hội như dịch vụ giáo dục phổ thông, thư
viện, dịch vụ nghỉ ngơi, bảo trợ xã hội, cung cấp điện, nước, môi trường...
Nhìn chung, các công chức này được hình thành theo một quy trình,
thủ tục, điều kiện do pháp luật quy định. Do đó, bên cạnh việc quy định về
các quyền, nghĩa vụ của công chức, viên chức nhà nước; pháp luật của Mỹ
cũng quy định các TNPL do hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên nhà
nước trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ gây ra. Cụ thể là công chức,
nhân viên làm việc trong các tổ chức dịch vụ công sẽ phải chịu trách nhiệm
hình sự nếu thực hiện hành vi tội phạm và bị quyết định bởi tòa án. Đồng
thời, pháp luật cũng quy định về trách nhiệm hành chính đối với công chức
(bao gồm cả những nhân viên làm việc ở trường học, bệnh viện - gọi là nhân
viên trong lĩnh vực giáo dục và lĩnh vực y tế...) khi tiến hành hoạt động mà có
hành vi vi phạm pháp luật hành chính được thực hiện theo hai phương thức đó
là thông qua các mệnh lệnh có hiệu lực của tòa án và những quyết định phát
sinh hiệu lực trực tiếp mà không cần có sự phê chuẩn của tòa án [118, tr. 150].

7


Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi công vụ gây ra được
quy định trong trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với thiệt hại. Tuy nhiên,
theo nguyên tắc của hệ thống luật chung, công chức phải chịu trách nhiệm vật
chất về những hành động trái pháp luật của mình dựa trên căn cứ tương tự
như đối với cá nhân khác. Từ năm 1946, vấn đề trách nhiệm tài sản của ngân
sách nhà nước Liên bang về thiệt hại do công chức gây ra đã được điều chỉnh
trong Luật Liên bang về các yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại. Tuy
nhiên, đến những năm 60 của thế kỷ XX các quy định này đã bị thay đổi bởi
sự phản đối quyết liệt của các bang, nên trách nhiệm vật chất đối với công
chức nhà nước đã có thay đổi nhất định đối với việc buộc cơ quan và cá nhân

viên chức nhà nước sẽ bị kỷ luật khi có các hành vi như: phát ngôn làm tổn
hại đến danh dự của Chính phủ, biểu tình, thị uy, bãi công, lạm dụng chức
quyền, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội, thực hiện các hành vi vi
phạm kỷ luật khác... Đồng thời, pháp luật cũng quy định tùy theo tính chất,
mức độ, nội dung vi phạm thì có thể bị xử lý về hình sự hoặc xử lý hành chính.
Trách nhiệm hành chính khi bị áp dụng với một trong các hình thức như:
Cảnh cáo, hạ cấp, cách chức, đuổi khỏi cơ quan. Nếu bị cách chức thì đồng thời
bị hạ cấp bậc và tiền lương chức vụ. Thời gian bị xử lý hành chính công chức,
viên chức không được đề bạt chức vụ và nâng cấp bậc, những trường hợp bị xử lý
hành chính (trừ hình thức cảnh cáo) đều không được nâng lương theo thang bậc.
Năm 1997, Trung Quốc ban hành Luật Giám sát hành chính, Luật này
quy định và bảo đảm việc giám sát hành chính được nghiêm minh, kịp thời
trong khu vực hành chính, nhất là trong điều tra, xử lý các hành vi vi phạm kỷ
luật hành chính của công chức, viên chức mà cơ quan nhà nước bổ nhiệm,
nhận giải quyết các khiếu nại về quyết định xử lý kỷ luật hành chính của các
cơ quan hành chính chủ quản mà công chức, viên chức nhà nước bị xử lý kỷ
luật thấy chưa thỏa đáng [60, tr. 121].
Về trách nhiệm vật chất, công chức, viên chức nhà nước phải bồi thường
mọi phí tổn về tài sản do hành vi của mình gây ra. Đặc biệt, trong những năm
gần đây Trung Quốc đẩy mạnh đấu tranh, chống tham nhũng, nhiều vụ án lớn về
tham nhũng bị xử lý, công chức, viên chức trong các vụ án này không chỉ bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, bị kỷ luật mà còn có trách nhiệm phải bồi thường, trả

9


lại những tài sản do tham nhũng hoặc hành vi lạm dụng chức quyền trong thực
thi công vụ, gây mất mát, suy giảm về tài sản của nhà nước, của tổ chức, cá nhân.
Ở Nhật Bản, công chức được phân làm hai loại là công chức đặc biệt
(Special Civil Servant) và công chức bình thường (Regular Civil Servant).

(reduction in pay). Những hành vi vi phạm có thể là vi phạm các điều luật quy
định trong Luật công chức quốc gia và địa phương, Luật đạo đức công vụ, vi
phạm nghĩa vụ được quy định đối với công chức, các hành vi khiến họ mất danh
dự không thể tiếp tục phục vụ nhân dân (the servant of people), thực hiện
hành vi tội phạm bị tuyên án. Thời gian bị đình chỉ công việc không được quá
một năm. Khi bị áp dụng các loại TNPL, công chức có thể khiếu nại lên cấp
trên của cơ quan đã thực hiện hành vi hay ban hành quyết định đối với công
chức (theo quy định của Luật khiếu nại hành chính năm 1962). Pháp luật cũng
quy định công chức có thể thực hiện quyền khiếu nại đối với các quyết định
hoặc hành vi xử lý áp dụng với mình bằng cách có thể khiếu nại bằng hình
thức gửi đơn tới cơ quan nhân sự quốc gia để trình bày hoặc có quyền khởi
kiện đến tòa hành chính để giải quyết vụ việc xử lý đối với mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về TNPL đối với viên chức, nhằm
hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực trạng về TNPL của viên chức qua
thực tiễn ở địa bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp góp
phần hoàn thiện TNPL của viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai
đoạn mới ở thành phố Hà Nội nói riêng và ở nước ta nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài "Trách nhiệm pháp lý của viên chức - qua
thực tiễn thành phố Hà Nội" cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề cơ sở lý luận về TNPL của viên chức.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng TNPL của viên chức ở thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện TNPL của viên chức
phù hợp với thực tiễn ở nước ta trong thời gian tới.

11


người đọc nhận thức về vấn đề này dễ dàng hơn, bao quát và toàn diện hơn.

12


- Phát hiện những điểm bất hợp lý về TNPL của viên chức hiện nay
thông qua những phân tích, đánh giá thực tiễn, những hạn chế trong quy định
của pháp luật về TNPL của viên chức trong các ĐVSNCL của nhà nước hiện nay.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng TNPL của viên chức, luận văn đề
xuất một số giải pháp cơ bản góp phần khắc phục, hoàn thiện TNPL của viên
chức ở nước ta trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ các quan điểm, chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về TNPL của viên chức theo
hệ thống và mang tính khoa học cao, nêu bật sự cần thiết và đề xuất một số
giải pháp góp phần hoàn thiện TNPL của đội ngũ viên chức trong ĐVSNCL
hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo trung cấp luật, cử nhân luật, cử
nhân hành chính; đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức nhà nước...
- Những kết luận và giải pháp rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận
văn có thể làm tài liệu tham khảo trong hoạt động thực tiễn quản lý nhà nước
bằng pháp luật khi áp dụng TNPL đối với viên chức hiện nay.
- Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các
công trình nghiên cứu có liên quan đến TNPL và nhất là TNPL đối với viên
chức nhà nước.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm pháp lý của viên chức.

Viên chức là người làm việc trong cơ quan nhà nước hoặc tổ
chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
một ngạch hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong
đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nguồn thu từ
đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật [119, tr. 854].

14


Khái niệm này khá đồng nhất với khái niệm trong giáo trình Luật hành
chính Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội:
Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ
thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công
chức ngày 29/4/2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các
nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật [121, tr. 295-296].
Với cách hiểu như vậy, hai khái niệm này chưa thực sự hoàn chỉnh,
chưa thể hiện đầy đủ các đặc trưng của viên chức và chưa phân biệt rõ viên
chức với công chức nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm này bước đầu đã chỉ ra
một số đặc điểm của viên chức như: viên chức phải là công dân Việt Nam,
nằm trong biên chế của nhà nước; viên chức được hình thành từ việc tuyển
dụng và bổ nhiệm; viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; viên chức được hưởng lương từ
ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp. Đây là bước tiến lớn về nhận
thức của nhà nước ta. Khái niệm này đã giúp phân định viên chức với những
người làm việc trong các cơ quan nhà nước khác.
Luật Viên chức 2010, quy định viên chức: "Là công dân Việt Nam được
tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh

các đơn vị này là một bước tiếp nối trong việc trao quyền tự chủ đối với
ĐVSNCL. Theo đó, các đơn vị được giao quyền tự chủ đồng bộ cả về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính; đơn vị tự chủ cao về tài
chính thì được tự chủ cao trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ
máy, nhân sự và tài chính. Kết quả đổi mới cơ chế hoạt động của ĐVSNCL
phải hướng tới việc cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho nhân dân, đảm bảo cho
các đối tượng chính sách và người nghèo được tiếp cận và hưởng thụ các dịch
vụ công cơ bản, thiết yếu với chất lượng cao hơn, công bằng hơn; buộc các
đơn vị này phải năng động hơn, có cơ chế chi trả lương thỏa đáng để thu hút
người tài làm việc, đồng nghĩa với việc tăng tính cạnh tranh giữa các đơn vị.
Từ những quan niệm, khái niệm về viên chức đã phân tích ở trên, có
thể hiểu: Viên chức là cá nhân có quốc tịch Việt Nam (hoặc công dân Việt

17


Nam), có đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia tuyển dụng và được cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị sự
nghiệp công lập của nhà nước theo chế độ hợp đồng làm việc nhằm cung cấp
dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà
nước hoặc từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của luật
viên chức và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
1.2. Phân biệt viên chức với cán bộ, công chức
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ,
công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 được ban hành, chúng ta
chưa có văn bản luật nào giải thích cụ thể, rõ ràng các thuật ngữ cán bộ, công
chức, viên chức. Trong khi đó, các thuật ngữ này lại được sử dụng rộng rãi
trong quan hệ pháp lý cũng như đời sống xã hội và thường xuyên xuất hiện
trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Luật Bình đẳng giới; Luật Luật

quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với
công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật [77, khoản 2 Điều 4].
Khái niệm viên chức được quy định tại Điều 2 Luật Viên chức 2010.
Cụ thể: "Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc
làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc,
hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật" [78].
Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu
về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các ĐVSNCL thuộc các
lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status