1
Sáng kiến kinh nghiệm
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẦM NON
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Tầm quan trọng:
Ngày nay, xã hội phát triển, cũng đồng nghĩa với việc đòi hỏi bản thân mỗi
người cần trang bị cho mình một vốn kỹ năng sống cần thiết để đáp ứng với cuộc
sống xã hội hiện tại.
Như chúng ta đã biết, với đặc trưng của xã hội hiện nay, một xã hội của nền
công nghiệp, thời đại kinh tế thị trường, mọi người như cuốn theo nhịp sống bận
rộn không có nhiều thời gian cho việc chăm sóc, giáo dục con cái. Bên cạnh đó,
với đặc trưng hiện nay mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con nên trẻ em hiện nay
là những “Cô-Cậu Ấm”, được quan tâm, chăm sóc một cách đặc biệt đến mức thái
quá, mọi việc của trẻ đều được người lớn làm thay, trẻ ít có điều kiện giao tiếp với
môi trường bên ngoài nên hầu như kỹ năng thích ứng và ứng phó với những tình
huống xảy ra trong cuộc sống của trẻ rất hạn chế, đây cũng chính là vấn đề mà cả
xã hội quan tâm và Bộ Giáo dục& Đào tạo đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống
vào mục tiêu Chương trình giáo dục mầm non cũng đã phản ánh được tầm quan
trọng của vấn đề.
Quá trình giáo dục kỹ năng sống là nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng
cơ bản, cần thiết nhất để các cháu có thể thích ứng với cuộc sống của xã hội thời
hiện đại, luôn có những thay đổi trong điều kiện của một xã hội đang trên đà phát
triển và hội nhập. Đặc biệt rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh được xác định là
một trong những nội dung cơ bản của Phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường mầm non do Bộ GD và ĐT chỉ đạo.
2. Thực trạng:
Hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố
tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải
duy sáng tạo, biết phát huy thế mạnh của trẻ. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh sẽ hình thành cho trẻ những hành vi, thói quen, kỹ năng xử lý các tình huống
diễn ra trong cuộc sống hằng ngày. Cụ thể: giúp trẻ nhận thức về bản thân như sự
tự tin, tự lực, thực hiện những quy tắc an toàn thông thường, biết làm một số việc
đơn giản; hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết như thể hiện tình
cảm, sự chia sẻ, hợp tác, kiên trì, vượt khó; hình thành một số kỹ năng ứng xử phù
hợp với gia đình, cộng đồng, bạn bè và môi trường.
Để thực hiện được mục tiêu nêu trên chúng ta cần lựa chọn nội dung, phương
pháp giáo dục trẻ những kỹ năng phù hợp với khả năng nhận biết của trẻ lứa tuổi
mầm non và quan trọng là phải gắn liền với nội dung chương trình giáo dục mầm
non, cụ thể là tích hợp trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ được thực hiện
hằng ngày tại trường, lớp.
Với ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của vấn đề và làm thế nào để đưa giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non từ 3 đến 5 tuổi ở trường mầm non đạt hiệu quả,
bản thân tôi đã lựa chọn đề tài “Một vài biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
mầm non” để nghiên cứu.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ tại lớp Lớn 1, Trường Mầm non Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Căn cứ văn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28/01/2015 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về hướng dẫn việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống (KNS) tại các cơ sở
GDMN,GDPT và GDTX (sau đây gọi chung là các cơ sở giáo dục); Căn cứ Thông
tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/2/2014 của Bộ GDĐT về quy định quản lý hoạt
động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa;
Thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số
17/2009/TT-BGD-ĐT ngày 25 tháng 07 năm 2009) đã nêu mục tiêu của lĩnh vực
giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội là:
2
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm...
Kỹ năng sống còn là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năng phân
tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó. Ngoài ra, kỹ
năng sống còn có nghĩa là khả năng ứng phó với các tình huống của cuộc sống.
Từ những định nghĩa trên có thể kết luận rằng kỹ năng sống là khả năng làm
chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và xã
hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
Với đặc điểm của trẻ mẫu giáo là: “Dễ nhớ, mau quên” nên khi tổ chức hoạt
động giáo dục cho trẻ, bản thân cần linh hoạt, sáng tạo qua việc lồng ghép vào các
hoạt động, tạo tình huống xảy ra, trẻ phải đóng vai trò trung tâm trong tất cả các
hoạt động, trẻ phải được thực hành trải nghiệm mọi tình huống, có như vậy mới
giúp trẻ khắc sâu được những gì mà trẻ được lĩnh hội.
Nghiên cứu gần đây về sự phát triển của não trẻ cho thấy rằng khả năng giao
tiếp với mọi người, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình,
3
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
4
Sáng kiến kinh nghiệm
biết các ứng xử phù hợp với các yêu cầu, biết giải quyết các vấn đề cơ bản một
cách tự lập có những ảnh hưởng rất quan trọng đối với kết quả học tập của trẻ tại
trường. Vì thế, ngày nay rất nhiều trường mầm non áp dụng phương pháp học
trung tính là phương pháp học tập thông qua các giao tiếp tích cực với những
người khác. Học để cùng chung sống là một trong những vấn đề then chốt hiện nay
của giáo dục, xu hướng giáo dục hiện nay đang được quan tâm là trang bị cho trẻ
các kỹ năng: giao tiếp, ứng xử, giải quyết vấn đề, tự bảo vệ mình, hợp tác thân
thiện. Trong quá trình phát triển nhân cách, nếu trẻ được sớm hình thành và tôn
vinh các giá trị đích thực của mình thì chắc chắn sau này trẻ sẽ có một nhân cách
có khả năng thích ứng được với những thay đổi của điều kiện sống.
4
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
5
Sáng kiến kinh nghiệm
- Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ mạnh dạn, tự tin, tự trọng và tôn trọng
người khác, có khả năng giao tiếp tốt, trẻ biết lắng nghe, nói năng lịch sự, sự hòa
nhã và cởi mở.
- Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ ham hiểu biết, sáng tạo, có những kỹ năng
thích ứng với hoạt động học tập ở lớp Một như: sẵn sàng hòa nhập, nỗ lực vượt
qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, có trách nhiệm với bản thân, với công việc,
với các mối quan hệ xã hội...
Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là nhằm giúp trẻ có kinh
nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ
tự tin, chủ động và biết cách xử lý tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng
tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm và có
cuộc sống hài hòa trong tương lai.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Thực tiễn trong những năm qua, các trường Mầm non trên địa bàn huyện Đại
Lộc nói chung và trường Mầm non Ái Nghĩa nói riêng đã luôn chú trọng đến vấn
đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và làm thế nào để đạt được hiệu quả đòi hỏi nhà
trường phải có biện pháp chỉ đạo thực hiện phù hợp. Bên cạnh đó mỗi giáo viên
luôn suy nghĩ, nghiên cứu để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm thực hiện tốt
nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, trong thời gian tôi đã tổ chức thực hiện
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tại lớp tôi phụ trách, đã có những thuận lợi và khó
khăn nhất định như sau:
* Thuận lợi:
sống cho trẻ ngay độ tuổi mầm non là một nhu cầu cấp bách và cần thiết.
IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Từ những tác động ngoài xã hội, từ thực tế giảng dạy ở lớp, bản thân đã
nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp vận dụng trong năm học qua, được đúc kết
thành kinh nghiệm trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non cụ thể như
sau:
1. Cô giáo cần nhận thức và xác định dược những kỹ năng sống cần thiết
để giáo dục cho trẻ mầm non.
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ đã và đang được
Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Đại Lộc triển khai, thực hiện tại các trường mầm
non. Trẻ được giáo dục kỹ năng sống sẽ mang lại cho các cháu rất nhiều lợi ích về
mặt sức khỏe, giáo dục và cả văn hóa xã hội, giúp các cháu có một cơ thể cường
tráng, lành mạnh về trí tuệ cũng như thể lực, sớm có ý thức và khả năng thích nghi
với cuộc sống, làm chủ bản thân, mạnh dạn giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm,…
sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho
xã hội. Tôi đã xác định những kỹ năng cần thiết để giáo dục cho trẻ:
- Có rất nhiều kỹ năng cần dạy trẻ nhưng đây là những kỹ năng cần thiết
nhất:
+ Kỹ năng tự nhận thức: Trẻ ý thức được về bản thân mình, có khả năng
hiểu biết đánh giá được bản thân mình về tính cách, sở thích, thói quen, nhận thức
được về mặt mạnh, mặt yếu của mình trong và ngoài nhà trường. Nhận thức được
tình cảm, ý tưởng và giá trị của mình, tự chấp nhận bản thân, cảm nhận sự chấp
nhận của người khác về mình và sự chấp nhận của mình đối với mọi người.
VD: Cháu nhận biết được tên gọi, đặc điểm của bản thân mình, biết sở thích
và những đồ dùng đồ chơi mà mình yêu thích.
Qua giáo dục kỹ năng tự nhận thức, trẻ có thể tự nhận thức được về năng
khiếu và khả năng đặc biệt của mình.
VD: Trẻ có năng khiếu vẽ và thích được vẽ. Ngoài việc cho trẻ thể hiện năng
khiếu vẽ thì cô giáo, cha mẹ có thể cho trẻ thêm bút màu, giấy vẽ và hãy chỉ cho
trẻ cách lưu giữ các bức tranh để tạo thành một bộ sưu tập tranh vẽ của chính trẻ
riêng của mình, có thể lựa chọn cân nhắc và tự mình quyết định công việc cần phải
làm và làm như thế nào.
VD: Trẻ biết tự xúc cơm ăn, biết tự chải răng, tự mặc áo quần …
+ Tính trách nhiệm: Giáo dục cho cháu biết tính trách nhiệm là chịu trách
nhiệm về những hành động của mình, người có tinh thần trách nhiệm là người
được người khác có thể tin cậy, trông chờ và hy vọng. Trẻ biết làm xong công việc
của mình, cố gắng làm hết khả năng của mình, quan tâm, chăm sóc và biết giúp đỡ
người khác.
VD: Trẻ biết giúp cô sắp xếp đồ chơi gọn gàng hay thể hiện tốt vai chơi của
mình.
+ Kỹ năng hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ
học cách cùng làm việc với bạn. Tạo những sự cảm nhận, giúp trẻ tôn trọng những
quyền lợi của trẻ khác qua việc chia sẻ. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm
thông và cùng làm việc với các bạn.
VD: Trẻ cùng nhau vẽ một bức tranh hoặc trẻ cùng tham gia chơi ở góc xây
dựng.(Hình 2: Bé chơi ở góc xây dựng – Phần phụ lục)
+ Kỹ năng quan hệ xã hội: Quan hệ xã hội là kỹ năng mà trẻ phải học rất
nhiều trong những năm đầu đời: Trẻ học cách chon từ ngữ để diễn đạt ý mình cần
7
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
8
Sáng kiến kinh nghiệm
nói, nhận biết và đối phó với cảm xúc của mình cũng như của người khác. Trẻ cần
được học cách ứng xử mà xã hội và cộng đồng chấp nhận. Trẻ biết hợp tác với
người khác khi làm việc nhóm, biết chia sẻ, tôn trọng và ứng xử lịch thiệp với
người khác bằng cách lắng nge quan điểm của người khác, chấp nhận sự khác biệt
của mình và tập giải quyết tình huống một cách thông minh, công bằng, thân thiện.
chuyện, hay đi lại lung tung...(Hình 5: Giờ ăn của bé - Phần phụ lục).
Việc giáo dục kỹ năng sống còn được lồng ghép vào các hoạt động hằng
ngày ở lớp. VD: Cô dạy các cháu bỏ rác vào sọt (thùng rác), không vứt rác bừa bãi,
8
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
9
Sáng kiến kinh nghiệm
không vứt rác ra ao, hồ, sông, suối, ra ngoài đường đi... Thất rác là tự giác nhặt,...
(Hình 6: Biết bỏ rác đúng nơi quy định - Phần phụ lục).
Qua giờ ngủ, cháu biết nằm ngủ ngay ngắn, không nói chuyện, không làm
ồn ào hoặc chọc phá bạn.
* Qua hoạt động đọc sách, trò chuyện, kể chuyện cho trẻ nghe
- Giáo viên cần tranh thủ đọc sách cho trẻ nghe trong mọi tình huống như
những giờ hoạt động góc ở một nhóm nhỏ, hoặc đọc sách trẻ nghe trong giờ trưa
đối với những trẻ khó ngủ. Qua các câu chuyện trẻ có thể đặc mình vào vai nhân
vật để học cách xử lý tình huống.
Ví dụ: Kể cho trẻ nghe các câu chuyện cổ tích qua đó rèn luyện đạo đức cho
trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người.
Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua các truyện bằng tranh tùy theo lứa tuổi, gợi mở tính
tò mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu ở trẻ.
3. Kết hợp phương pháp dùng trò chơi và tạo tình huống.
Trẻ học được các kỹ năng bằng cách tham gia vào các trò chơi. Thông qua
trò chơi, giúp cháu có sự tự tin, biết phối hợp chơi cùng bạn và có trách nhiệm với
nhóm chơi của mình. Nên tôi đã tìm và cho trẻ chơi nhiều trò chơi như:
Cho trẻ chơi trò chơi phân vai: Trẻ đóng vai các thành viên trong gia đình,
biết tự phân vai chơi cho nhau: Ba mẹ chăm sóc con cái, mẹ nấu ăn. Hay: Chơi
đóng vai cô giáo: Cô dạy các cháu học, cho các cháu ăn...
chơi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, giải quyết các vấn đề, thực hành các ý tưởng.
Ví dụ: Giáo viên thường xuyên tổ chức các hoạt động trong ngày và lựa
chọn hình thức tổ chức thật đa dạng, phong phú và có nhiều tình huống thông qua
các trò chơi đóng vai, các trò chơi xây dựng, dạo chơi ngoài trời, các trải nghiệm
văn học âm nhạc, Làm quen với toán, khám phá khoa học...
Đây là phương pháp có hiệu quả và dễ “ngấm” nhất. Bởi qua trò chơi trẻ sẽ
có được những thái độ, hành vi tích cực, những kỹ năng ứng xử đúng đắn, phù
hợp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình đối với tập thể. Và đặc biệt trò chơi
còn giúp cho trẻ tăng cường khả năng giao tiếp với bạn, với cô, với người lớn dần
mang đến sự tự tin, mạnh dạn cho trẻ.
4. Động viên, khuyến khích, nêu gương, khen thưởng kịp thời.
Vì đặc điểm của trẻ mầm non là luôn có tính bắt chước nên người lớn đặc
biệt cô giáo phải là tấm gương sáng, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với
trẻ và đặc biệt không nên hứa suông với. Người lớn cần sử dụng lời nói rõ ràng,
câu hỏi gợi mở phối hợp cùng các cử chỉ, điệu bộ phù hợp nhằm khuyến khích trẻ
tiếp xúc với môi trường xung quanh, bộc lộ, chia sẻ những cảm xúc với người khác
bằng lời nói và hành động cụ thể.
Bên cạnh những lời nói khích lệ, nêu gương, khuyến khích những hành vi,
lời nói tốt của trẻ, cô giáo cần tuyên dương và khen thưởng trẻ kịp thời.
Nếu cô giáo biết đặt mình vào vị trí của trẻ, nhận thấy được sự vui mừng,
hạnh phúc của trẻ khi được người lớn khen ngợi, thì cô giáo sẽ biết đưa ra lời khen
vừa đủ, để trẻ tự hào, vững tin vào bản thân, từng bước tiếp tục khẳng định mình
và trở nên mạnh mẽ, sẵn sàng chủ động hoà nhập vào cuộc sống. Nhưng khen sao
cho phải, cho chừng mực và kích thích được tính tích cực của trẻ thì không phải cô
giáo nào cũng có thể thực hiện hiệu quả.
Trẻ hoàn toàn có thể nhận biết được thế nào là một lời khen chân thành hay
qua quýt. Vì thế, khi khen ngợi, khuyến khích trẻ, cần phải xuất phát từ tấm lòng
bao dung, độ lượng và cách bộc lộ khéo léo. Ngoài ra, cô giáo nên khen trẻ một
cách nghiêm túc và có cơ sở, khen đúng ưu điểm và sự vượt trội của trẻ. Hãy bắt
đầu bằng việc đánh giá đúng thực lực của trẻ, nhìn thấy triển vọng của trẻ để có sự
làm, hành vi, cử chỉ của trẻ, từ đó đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình
huống hay hoàn cảnh cụ thể. Người lớn không sử dụng các hình phạt làm ảnh
hưởng đến sự phát triển tâm-sinh lý của trẻ.
VD: Khi trẻ đánh bạn, cô tỏ thái độ không đồng tình và giải thích cho trẻ
biết là không được đánh bạn, đó là hành vi sai. Dạy trẻ biết xin lỗi bạn, biết yêu
thương và chia sẻ cùng bạn.
Cô giáo luôn khuyến khích trẻ nói lên quan điểm của trẻ, nói chuyện với các
thành viên trong lớp, về những lựa chọn của mình, cố gắng không chỉ trích các
quyết định của trẻ việc này sẽ hình thành kỹ năng tự kiểm soát bản thân, rèn luyện
tính tự tin cho trẻ khi tham gia các hoạt động và các buổi thảo luận, đàm thoại, hội
lễ tại trường sau này.
5. Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ.
Qua các lần họp phụ huynh, bảng tuyên truyền ở lớp, giờ đón trẻ, trả trẻ và
qua sổ liên lạc, giáo viên tuyên truyền đến cha mẹ của trẻ những kết quả giáo dục ở
con mình, trao đổi thông tin hai chiều với các bậc cha mẹ những vấn đề có liên
quan đến trẻ, đến lớp, thông tin sức khỏe, học tập, lĩnh hội kỹ năng sống... Ngược
lại các bậc cha mẹ có thể ghi chép những yêu cầu, đề nghị thông tin cần trao đổi
với giáo viên.
Thống nhất một số quy ước giữa giáo viên và phụ huynh về việc chăm sóc
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ:
11
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
12
Sáng kiến kinh nghiệm
Một số yêu cầu cần thực hiện khi dạy trẻ kỹ năng sống
Điều cần làm trước hết là người lớn phải là tấm gương sáng, yêu thương, tôn
và cũng không cần tốn sức tập luyện, cha mẹ chỉ tốn ít thời gian khi cho trẻ thấy
cha mẹ rất coi trọng giá trị của việc giáo dục. Việc tham gia ở mức độ nào không
quan trọng nhưng thời gian đó thật đáng giá và đó là sự đầu tư cần thiết cho tương
lai của trẻ.
Kể chuyện cho trẻ hàng ngày bằng phương pháp “Mưa dầm thấm lâu”: Cô
giáo, cha mẹ hãy dành thời gian mỗi ngày để kể cho trẻ nghe những câu chuyện,
12
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
13
Sáng kiến kinh nghiệm
dành thời gian trò chuyện với con trẻ vì chuyện là kho báu của dân tộc, kể chuyện
cổ tích là con đường ngắn nhất, đơn giản hiệu quả nhất giáo dục nhân cách cho trẻ.
Để hình thành và phát triển ở trẻ những thói quen, nghi thức văn hóa trong
ăn uống cần thiết không chỉ có sự tập luyện mà còn cần sự thống nhất những cách
thức và phương thức giữa gia đình và trýờng, lớp mầm non. Chỉ có sự kiên trì,
nhẫn nại, sự đồng cảm, sự quan tâm, chú ý và sự giúp đỡ quý báu của người lớn
mới giúp trẻ vượt qua những khó khăn, trở ngại, tạo được một bầu không khí thân
ái, đầm ấm cần thiết trong bữa ăn.
Một số yêu cầu cần tránh khi dạy trẻ kỹ năng sống:
Không hạ thấp trẻ: Cứ mỗi lần chúng ta nói những lời hạ thấp khả năng trẻ
là chúng ta đã phá vỡ những suy nghĩ tích cực về chính bản thân trẻ. Không nên
tạo cho trẻ thói quen kiêu ngạo những cũng không nên lăng nhục trẻ.
Không dọa nạt trẻ: Người lớn cần nhớ rằng mỗi lần chúng ta dọa nạt trẻ là
chúng ta đã làm cho trẻ sợ hãi và căm giận người lớn. Sự đe dọa hoàn toàn có hại
cho đứa trẻ và sẽ không giúp cho hành vi của trẻ tiến triển tốt hơn.
Không bắt trẻ hứa hẹn: Vì sự hứa hẹn hoặc dọa nạt không có ý nghĩa đối với
Thường xuyên kết hợp với phụ huynh trong việc chăm sóc, giáo dục trao đổi
và tìm hiểu tâm sinh lý của từng trẻ để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tốt hơn.
Hướng dẫn và rèn kỹ năng cho trẻ mọi lúc , mọi nơi qua các hoạt động trong ngày.
VD: Qua giờ đón trẻ, cô nhắc cháu biết chào ba mẹ khi đi học, cất đồ dùng
đúng nơi quy định (Hình 8: Giờ đón trẻ - Phần phụ lục).
V. KẾT QUẢ:
Từ những cố gắng nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự đồng
thuận hợp tác của tập thể sư phạm, sự ủng hộ đồng tình của các bậc cha mẹ qua
một thời gian thực hiện và theo dõi, bản thân nhận thấy những biện pháp trên đây
rất có hiệu quả, cụ thể là học sinh lớp tôi đã năng động, mạnh dạn, tự tin hơn trong
giao tiếp trước tập thể. Phần lớn trẻ có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn
luyện kỹ năng tự lập; kỹ năng nhận thức; kỹ năng vận động thô, vận động tinh, kỹ
năng tự kiểm soát bản thân, phát triển óc sáng tạo, thông qua các hoạt động hàng
ngày trong cuộc sống của trẻ.
Ngoài ra trẻ đi học đều hơn, ít gặp khó khăn khi đến lớp, có kỹ năng lao
động tự phục vụ, sắp xếp bàn ăn, tự chuẩn bị khăn ăn, xếp gối trải chiếu... biết
cùng cô cất đồ chơi gọn gàng sau khi chơi và lau chùi kệ góc sạch sẽ.
Cha mẹ cũng có ý thức phân việc cho trẻ, thay đổi cách rèn kỹ năng cho trẻ,
không cung phụng trẻ thái quá, biết coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt
động giáo dục trẻ ở nhà trường. Là tấm gương để con cái noi theo. Các bậc phụ
huynh đã có thói quen phối kết hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc dạy trẻ các kỹ
năng sống, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức và đặc biệt quan tâm đến
việc thường xuyên giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Cha mẹ tin tưởng vào kết quả giáo dục của cô giáo, của nhà trường, thông
cảm, chia sẻ, những khó khăn của cô giáo, cung cấp vật liệu, phụ giúp giáo viên
trang trí lớp, làm đồ chơi.
1. Đối với trẻ:
- Trẻ được khơi dậy tính tích cực, tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng
động, mạnh dạn, tự tin.
- 100% trẻ có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập,
cách hợp lý và đạt hiệu quả cao. Bản thân được trau dồi kiến thức và có thêm nhiều
kinh nghiệm bổ ích trong việc giáo dục trẻ, được phụ huynh và các bạn đồng
nghiệp tín nhiệm.
VI. KẾT LUẬN:
Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là vô cùng quan trọng. Vì trình
độ nhận thức và tiếp thu của mỗi cháu khác nhau, hoàn cảnh sống từng gia đình
mỗi cháu không đồng đều vì vậy qua quá trình thực hiện bản thân nhận thấy muốn
thực hiện tốt việc này thì cha mẹ trẻ và giáo viên cần có lòng quyết tâm, sự bền bỉ,
thường xuyên nỗ lực cố gắng, phải tận tâm, tận lực và phải luôn cố gắng là tấm
gương để trẻ học theo.
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một trong những nội dung hết sức quan
trọng trong chương trình giáo dục mầm non, việc trang bị cho trẻ những kỹ năng
sống cơ bản, đơn giản nhất giúp trẻ thích ứng với nhu cầu xã hội và cuộc sống hiện
tại là một yêu cầu cấp bách và thiết thực cần được xã hội quan tâm và nhận thức
một cách đúng đắn. Đặc biệt ở trường mầm non, việc chú trọng và đầu tư đúng
mức về vấn đề này sẽ là tiền đề cho chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở nhà trường.
Vì thế vấn đề tôi nghiên cứu và những biện pháp mà tôi đã áp dụng ở đơn vị là rất
thiết thực và là yêu cầu không thể thiếu và thực tế qua thời gian áp dụng ở lớp đã
có nhiều kết quả đáng kể. Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi một số hạn chế rất mong
được sự hỗ trợ của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp.
15
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
16
Sáng kiến kinh nghiệm
Từ những biện pháp nêu trên tôi đã thực hiện với trẻ lớp tôi trong năm học
này, đến nay tôi nhận thấy kết quả rất khả quan điều đó chứng tỏ việc áp dụng các
17
Sáng kiến kinh nghiệm
VIII. PHỤ LỤC:
Hình 1: Bé múa hát cùng cô
17
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
18
Sáng kiến kinh nghiệm
Hình 2: Bé chơi ở góc xây dựng
Hình 3: Giờ bé nghe kể chuyện
18
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
19
Sáng kiến kinh nghiệm
Hình 4: Bé chăm sóc góc thiên nhiên
19
Đào tạo về hướng dẫn việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống (KNS) tại các cơ sở
GDMN,GDPT và GDTX (sau đây gọi chung là các cơ sở giáo dục);
21
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử
22
Sáng kiến kinh nghiệm
7. Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/2/2014 của Bộ GDĐT về quy
định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ
chính khóa;
MỤC LỤC
STT
TIÊU ĐỀ
TRANG
I
Đề tài
II
Đặt vấn đề
1-2
4.
10-11
5.
11-13
VI
Kết quả nghiên cứu
13-15
VII
Kết luận
15
VIII
Kiến nghị
16
22
Người viết: Nguyễn Thị Mỹ Nử