A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN, GIẢI PHÁP:
“Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”, trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và
bảo vệ, được tồn tại, được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng. Vì thế giáo dục
con người ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi con người đối
với xã hội, đối với cộng đồng. Trẻ em là công dân của xã hội, là thế hệ tương lai của đất
nước nên ngay từ thưở lọt lòng mẹ chúng ta cần chăm sóc giáo dục trẻ thật chu đáo. Đối
với trẻ mầm non cuộc sống còn rất non nớt, rất cần sự chăm sóc của người lớn, đó là sự
chăm sóc không chỉ là vật chất mà còn cả về tinh thần vì đây là giai đoạn trẻ học, tiếp
thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển nhân cách, đồng thời trẻ rất dễ bộc lộ cảm
xúc, chưa có nhiều kỹ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc, vốn hiểu biết về thế
giới xung quanh còn nhiều hạn chế do đó nhiều trẻ còn thụ động, không biết ứng phó
với các tình huống nguy cấp, không biết tự bảo vệ mình trước nguy hiểm hoặc tìm kiếm
sự giúp đỡ từ người khác.
Hiện nay tình trạng trẻ em vô tư, thờ ơ, trầm cảm, tự kỷ chưa có cách xử lý phù
hợp với những tình huống diễn ra hằng ngày như: Thưa – gởi, cảm ơn – xin lỗi, thăm
hỏi, giúp đỡ,...hay những hành vi gây hại với môi trường: Hái hoa, bẻ cành, dẫm lên
thảm cỏ, không thích chăm sóc cây cối xung quanh,...hoặc việc làm gây hại đến chính
bản thân trẻ: xem ti vi khoảng cách gần, ngủ không đúng giờ,...là nỗi trăn trở của người
giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đối với những trẻ có một số vấn đề về
hành vi và khả năng tập trung trong những năm tháng trẻ đến trường. Đơn giản là vì
những trẻ này thường không có khả năng chờ đến lượt, không biết chú ý lắng nghe và
làm việc theo nhóm, điều này làm cho trẻ không thể tập trung lĩnh hội những điều cô
giáo dạy. Vì vậy, giáo viên phải tốn rất nhiều thời gian vào đầu năm học để giúp trẻ có
được những kỹ năng sống cơ bản ở trường mầm non giúp trẻ ổn định nề nếp nhóm lớp
và có các thói quen tốt trong sinh hoạt hàng ngày.
Để có một đất nước phồn vinh, văn minh, giàu mạnh, đầy ắp những con người
biết chia sẻ, cảm thông, yêu thương. Luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi gặp khó
khăn, luôn có thái độ, hành vi ứng xử đúng với tình huống đã, đang và có thể sẽ xảy ra
1
nghiệm trong cuộc sống, biết được điều nên làm và không nên làm để thích ứng với
cuộc sống hiện tại và trong tương lai. Ví dụ: trẻ nói lời “cảm ơn” khi được được lớn hay
2
bạn bè cho quà, hay thấy cộng rác là trẻ tự nhặt bỏ vào thùng rác, hành động “cảm ơn”;
“nhặt rác” đã trở thành “ý thức” của trẻ chứ không phải vì người khác sai bảo.
III. PHẠM VI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi”, tôi đã vận dụng những kiến thức, hiểu biết cơ bản của mình
chuyễn tải đến trẻ nhằm hình thành kỹ năng sống cho trẻ đạt được kết quả khá mỹ mãn.
Được hội đồng khoa học nhà trường đánh giá cao và khuyến khích cần nhân rộng đề tài
ở các trường MN trong toàn huyện, tỉnh và đăng trên Web, giáo án điện tử.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU:
Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả
năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Lứa tuổi
mầm non là giai đoạn học - tiếp thu - lĩnh hội giá trị sống để phát triển nhân cách. Kỹ
năng sống là những kỹ năng nền tảng để hình thành nhân cách trẻ. Phát triển về các mặt
thể chất, tình cảm - xã hội, về giao tiếp, về ngôn ngữ, nhận thức , giúp trẻ sẵn sàng đi
học lớp một ở trường phổ thông sau này. Cụ thể là:
Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ được an toàn , khỏe mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo
bền bỉ, tháo vát, có khả năng thích ứng được với những điều kiện sống thay đổi.
Giúp trẻ biết kiểm soát cảm xúc, thể hiện tình yêu thương và lòng biết ơn, đồng cảm
với mọi người xung quanh.
Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, tự trọng và tôn trọng người khác,
có khả năng giao tiếp tốt với mọi người.
Giúp trẻ ham hiểu biết, linh hoạt sáng tạo, có những kỹ năng thích ứng với hoạt
động học tập ở lớp một như : sẵn sàng hòa nhập, vượt qua khó khăn để hoàn thành
Bn thõn tụi luụn cú tinh thn trỏch nhim cao, yờu ngh mn tr, luụn quan sỏt,
nm bt c c im tõm sinh lý, hỡnh thnh n np thúi quen ca tng tr trong lp.
Bn thõn trỡnh chuyờn mụn i hc, c tp hun v ni dung dy k nng
sng cho tr mm non do Phũng giỏo dc t chc v qua cỏc bui bi dng chuyờn
mụn ti trng, tớch cc nghiờn cu ti liu v giỏo dc k nng sng cho tr mm non.
Trng, lp cú khụng gian hot ng an ton cho tr, cú dựng chi cn
thit trong cỏc hot ng giỏo dc.
4
Tr kho mnh v rt ho hng , sụi ni vi cỏc hot ng do cụ t chc, lnh hi
nhanh cỏc kin thc cụ giỏo truyn t.
Ph huynh quan tõm n tr, tớch cc tham gia vo cỏc hot ng ca nh trng,
ca nhúm lp.
Ti liu hng dn s dng b chun phỏt trin tr 5 tui cú cỏc ch s, hng dn
cỏch ỏnh giỏ tr rừ rng v c th nờn vic dy tr cỏc k nng v ỏnh giỏ kt qu trờn
tr rt thun li, chớnh xỏc, t ú bit tr no t c v cha t c tip tc rốn
tr vo cỏc ch tip theo.
Mặc dù có những thuận lợi nh vậy song trong quỏ trỡnh thc hin vn
gp phi nhng khăn sau:
2. Khú khn
Trỡnh nhn thc ca tr khụng ng u, do ú cựng mt thi gian v bin
phỏp dy tr cỏc ni dung k nng sng nhng kt qu trờn tr t cha tng ng vi
nhau.
Mt s tr nhỳt nhỏt nờn khụng t tin khi tham gia vo cỏc hot ng ,mt s tr
li quỏ hiu ng nờn khi hot ng cha chỳ ý vo s hng dn ca cụ, k nng sng
ca tr cũn nhiu hn ch.
S quan tõm ca gia ỡnh dnh cho cỏc chỏu l khụng ng u, 100% ph huynh
l nụng thụn . Mt s ph huynh i lm n xa cỏc chỏu nh vi cỏc anh ch hoc
K nng hp tỏc hot ng cựng nhúm
Tr mnh dn, t tin
K nng nhn thc
K nng vn ng
K nng thớch nghi
K nng v sinh
SL
%
20
19
13
10
10
15
13
14
51%
49%
33%
26%
26%
38%
33%
36%
Khụng t
Chưa mạnh dạn, tự tin, chưa chú trọng sâu vào việc giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ.
* Về phía phụ huynh.
Một số phụ huynh chưa có nhận thức đúng đắn trong việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ.
Qua khảo sát từ phụ huynh cho thấy, có một số ít trẻ khi ở lớp thì thực hiện các
kỹ năng sống tốt do trẻ rất nghe lời cô giáo nhưng khi về nhà được bố mẹ và người thân
chiều chuộng thì trẻ lại không thực hiện một số kỹ năng sống trẻ có mà luôn phụ thuộc
vào người khác( vd: trẻ không kiềm chế cảm xúc mà có thể lăn ra và khóc bất cứ lúc nào
nếu người thân không đáp ứng nhu cầu của trẻ…). Phụ huynh còn nuông chiều và làm
thay trẻ
4. Nguyên nhân của thực trạng
Qua khảo sát, đánh giá kết quả tôi tìm ra một số nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ đạt được
của trẻ còn thấp đó là:
Do trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều.
Do trẻ còn nhút nhát không giám thực hiện theo yêu cầu của cô.
Hình thức tổ chức các hoạt động chưa linh hoạt, chưa kích thích hứng thú cho trẻ
hoạt động.
Đồ dùng trực quan còn ít, chưa đẹp, chưa hấp dẫn.
Công tác phối kết hợp với phụ huynh của giáo viên còn hạn chế.
Qua kết quả khảo sát thực trạng trên, bản thân tôi rất băn khoăn, lo lắng để tìm ra
các biện pháp nhằm đưa chất lượng của giáo dục kỹ năng sống đạt kết quả cao hơn. Vì
vậy tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ” ở lớp mình phụ trách.
II. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
*Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức tìm tòi để tự bồi dưỡng cho bản thân.
Để thực hiện tốt “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi”
trước hết giáo viên không chỉ nghiên cứu nắm vững, mục đích, yêu cầu của hoạt động,
dung giá trị và kỹ năng sống càng cần là tấm gương mẫu mực về hành vi, lời ăn, tiếng
nói, cách ứng sử, cách giải quyết vấn đề. Đây là những yêu cầu rất cao và đòi hỏi các cô
giáo cũng luôn phải tự rèn luyện mình để công tác giáo dục trẻ hiệu quả hơn. Và tôi đưa
8
ra những điều mà giáo viên nên và không nên trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
đó là: Không nói dài và nói nhiều; Không đưa ra lời đáp có sẵn mà để trẻ tự tìm tòi;
Không vội vàng phê phán đúng, sai như một quan tòa nhưng kiên trì giúp trẻ tranh luận
và kết luận; Không làm thay, làm hộ trẻ; Không bắt trẻ phục tùng theo ý người lớn ngay
lập tức, vì sự phục tùng một cách thái quá không có sự thỏa thuận giữa các bên, không
tạo điều kiện phát triển tính tự lập ở trẻ.
* Giải pháp 2: Hình thành kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động trong
ngày.
. Hình thành thói quen tốt trong giờ đón, trả trẻ:
Trong xã hội hiện nay với công nghệ tiên tiến phát triển không ngừng về mọi mặt,
thì những kỹ năng giao tiếp chào hỏi tối thiểu lại mất dần đi. Và tôi quyết định đưa kỹ
năng chào hỏi và kỹ năng giao tiếp vào những giờ đón trả trẻ.
Thời gian đầu nhiều trẻ chưa có kỹ năng chào hỏi và giao tiếp vơi cô cùng bạn bè,
tôi chủ động chào trẻ trước “ Cô chào bạn Lan” thì lúc đó trẻ sẽ biết đáp lại câu “ Con
chào cô ạ” và tôi nhắc trẻ con chào bố, mẹ để đi vào lớp nào. Hoặc khi trẻ đang chơi nếu
có khách đến thì tôi nhắc trẻ “ Các con chào bác, cô, dì.... đi nào” cứ như vậy dần dần trẻ
sẽ có thó quen chào cô, chào bố mẹ và chào khách. Còn với trẻ chưa có kỹ năng giao
tiếp với cô, với bạn tôi thường xuyên gần gũi với trẻ hơn, trò chuyện với trẻ nhiều hơn,
về những người thân của trẻ, thế giới xung quanh từ đó trẻ mạnh dạn hơn, khi tiếp xúc
và giao tiếp với cô, với bạn bè và người khác.
Tôi sử dụng phương pháp thực hành, trải nghiệm, hình thức nêu gương, đánh giá
để trẻ thấy và thực hiện tốt hơn. Cụ thể ngay từ đầu năm tôi đã tập cho trẻ ý thức tự cất
đồ dùng gọn gàng, ngăn nắp lúc vào lớp cũng như lúc ra về. Và tôi phân công nhóm
trưởng sẽ kiểm tra xem bạn nào thực hiện chưa đạt, cuối ngày tôi sẽ đánh giá và nêu
Đối với các hoạt động khác diễn ra trong hoạt động học cũng vậy, giáo viên lựa
chọn nội dung phù hợp, kết hợp với phương pháp dùng lời, trẻ được nghe, được đọc
cùng với sự giảng giải của cô, trẻ sẽ thấm nhuần ý nghĩa của cuộc sống xung quanh, từ
đó tích lũy cho mình những bài học kinh nghiệm.
. Hình thành kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi.
Như chúng ta đã biết trẻ mẫu giáo “Học bằng chơi chơi mà học” , thông qua hoạt
động vui chơi trẻ sẽ bộc lộ rõ nét những hành vi tốt và không tốt, vì vậy tôi luôn lồng
10
ghép tích hợp nhiều kỹ năng sống cần thiết. Ví dụ “nhìn ngắm hoa đẹp” trẻ thể hiện cảm
xúc vui vẻ, thoải mái, từ đó trẻ yêu thích cái đẹp, không được hái hoa vì hoa làm đẹp
cho thiên nhiên. Hoặc tôi sử dụng tình huống để trẻ giải quyết “đang đi dạo chơi cùng
trẻ thì trẻ bị ngã”, lúc này trẻ sẽ dựa vào cách giải quyết của trẻ mà rèn cho trẻ “kỹ năng
giúp đỡ chia sẻ”, phải biết đỡ bạn bị ngã, không những vậy mà khi đi bất cứ đâu nếu có
gặp người lớn tuổi, em nhỏ, người tàn tật thì giúp đỡ, cảm thông với hoàn cảnh của họ.
Giáo viên cho trẻ dạo chơi sân trường, tận dụng nhiều tình huống ví dụ “cơn gió
làm lá cây rơi xuống sân”, sân trường không còn sạch đẹp, vậy làm thế nào để sân
trường sạch đẹp ? (nhặt lá cây rơi, nhặt rác bỏ vào thùng rác)...Hình thành được kỹ năng
ứng xử văn minh cho trẻ, không những ở trường mà trẻ sẽ thực hiện việc giữ vệ sinh ở
nhà, ở lớp, ở nơi công cộng...
Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, trẻ 5 tuổi càng hứng thú
và tích cực hơn bởi đáp ứng được nhu cầu. Trẻ được chơi với đồ vật, được trải nghiệm
thực tế, là cơ sở vững chắc để hình thành và phát triển, rèn luyện và giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ.
Trong chủ đề “nghề nghiệp” ở góc phân vai có trò chơi “bác sĩ”, bác sĩ khám bệnh
cho bệnh nhân với thái độ vui vẻ, niềm nở, y tá cấp phát thuốc và dặn bệnh nhân uống
thuốc đúng giờ, bệnh nhân bốc số thứ tự và ngồi chờ khám theo lượt, lúc này tôi giả bộ
đóng vai bà lão đi khám bệnh, bà lão đi sau cùng nhưng được cô y tá dẫn đi khám trước,
tình huống xảy ra là các bệnh nhân kia không đồng ý, bác sĩ mới ra giải thích: bệnh nhân
không cần giáo viên phải nhắc nhở. Dạy trẻ trước khi ăn phải biết mời cô, mời bạn, lịch
sự trong ăn uống từ tốn, không khua thìa bát, ăn sạch sẽ , nói năng lễ phép… Kỹ năng
sống ấy không những được trẻ thực hiện ở trường mà còn thực hiện ở nhà, hay ở bất cứ
đâu khi trẻ đi đến.
*Giải pháp 3: Sử dụng các tình huống có vấn đề để hình thành một số kỹ năng
sống cần thiết.
Một trong những kỹ năng cần hình thành, thì kỹ năng an toàn, tự bảo vệ là một trong
những số đó, giúp trẻ có khả năng biết từ chối, xử lý những tình huống khi thấy không
an toàn. Tôi tự đặt ra một số tình huống để trẻ tự giải quyết vấn đề, và những tình huống
khác, có liên quan cũng được áp dụng trong suốt quá trình chăm sóc trẻ. Ví dụ: Tôi kể
cho trẻ nghe câu chuyện: Bạn An được mẹ hứa rướt về sớm, nhưng mẹ bận họp đột xuất,
12
chờ mãi mà không thấy mẹ. An đi ra cổng để đón mẹ, bỗng có một người phụ nữ cho
bạn An kẹo và nói “Hôm nay mẹ bận không đón con được, mẹ nhờ cô chở con về, con
ngoan ăn kẹo đi rồi lên xe cô chở con về”. Tôi dừng lại và hỏi trẻ : bạn An có về với
người phụ nữ đó không ? Nếu con là bạn An con sẽ xử trí như thế nào ? Cho trẻ thảo
luận và đưa ra câu trả lời. Sau đó cô kể tiếp: Bạn An không chịu lên xe, nói là đợi mẹ
đón về, bạn An đi trở vào lớp, người phụ nữ nắm lấy áo bạn An, bạn An đã kêu lên thật
to “cứu con với, có người định bắt con”, chú bảo vệ chạy tới...Qua câu chuyện tôi rèn
cho trẻ biết “không đi theo người lạ dù người lạ có cho bất cứ gì”. tôi có thể cho trẻ
đóng vai các nhân vật trong câu chuyện cô vừa kể để khắc sâu hơn kỹ năng.
Ngoài ra tôi có thể đặt ra nhiều tình huống khác và tổ chức lồng ghép mọi lúc mọi nơi
để trẻ có cơ hội giải quyết và xử lý tình huống như: khi ở nhà một mình (không được mở
cửa cho người lạ vào), đi lạc đường (đứng ở nơi trống và kêu thật to), khi bị côn trùng
cắn (nói liền với người lớn),...
Rèn luyện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi: Kỹ năng sống của trẻ được
tiếp nhận và rèn luyện mọi lúc mọi nơi trong môi trường gia đình và nhà trường. Ở
trường tôi tận dụng bất cứ khi nào có thể để hình thành, rèn luyện kỹ năng cho trẻ.
năng sống cho trẻ.
Hiểu rỏ được vai trò của các bậc phụ huynh cũng góp phần không nhỏ vào việc
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy ngay từ đầu năm, khi tổ chức họp phụ huynh tôi
đã đưa ra sáng kiến và ý tưởng giáo dục kỹ năng sống của mình áp dụng vào trẻ. Và
thống nhất với các phụ huynh biện pháp giáo dục ở nhà. Đặc biệt đối với phụ huynh ít
quan tâm đến con, tôi tìm gặp và trao đổi về tình hình học tập của cháu ở lớp và hỏi nề
nếp, sinh hoạt sở thích của cháu khi ở nhà. Chính vì vậy cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển
kỹ năng cảm xúc bằng cách tạo mối lên kết giữ cô và gia đình và bạn bè.
Vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống đạt kết quả tốt thì mỗi một giáo viên phải biết
kết hợp hài hòa các biện pháp trên. Và không thể thiếu một trong những biện pháp đó.
bên cạnh đó không thể thiếu là tình yêu thương, ý thức, trách nhiệm và tình yêu thương
của cô giáo đối với trẻ.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN:
Sau một thời gian thực hiện các giải pháp nêu trên, lớp tôi đã đạt được những
kết quả như sau:
14
* Về phía học sinh
100% trẻ đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích khơi dậy tình
tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin, 100% trẻ 5 tuổi được rèn
luyện khả năng sẵn sàng học tập ở trường tiểu học sau này.
100% trẻ có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập; kỹ năng
nhận thức.
Trẻ đi học đều đạt tỷ lệ 98% trở lên, trẻ chăm ngoan đạt từ 99% trở lên và ít gặp khó
khăn khi ở lớp, trẻ có kỹ năng lao động tự phục vụ, trực nhật, sắp xếp bàn ăn, tự xếp
khay để khăn ăn, tự chuẩn bị khăn ăn, bát, thìa ….trong các giờ ăn, tự xếp chăn và gối
trước và sau khi ngủ ...
Trẻ được rèn luyện kỹ năng xã hội, kỹ năng gia tiếp chung
10
26%
15
38%
13
33%
14
36%
* Về phía giáo viên
15
Cuối năm
Đạt
SL
%
39
100%
39
100%
39
100%
39
100%
39
100%
39
100%
39
100%
Để làm tốt nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, giáo viên phải có lòng yêu
nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Đặc biệt giáo viên phải biết
tự bồi dưỡng để có vốn kiến thức chuyên môn, có kinh nghiệm, biết xây dựng và sử
dụng linh hoạt những phương pháp, biện pháp, thủ thuật đề ra trong tiết học.
Giáo viên dạy kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động trong ngày. Chú
trọng dạy trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, luôn hướng trẻ vào hoạt động một cách
tích cực nhất. Cô chỉ là người gợi mở, và hướng dẫn thêm cho trẻ khi cần thiết.
16
Thông qua ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng đoạn vi deo, Clip… trình
chiếu trẻ xem để trẻ học tập những hành động tốt bắt chước.
Phối kết hợp với phụ huynh để hình thành kỹ năng sống cho trẻ ở nhà.
Người lớn phải tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với thế giới xung quanh, tắm mình
trong thế giới đó để rồi từ đó trẻ có những hiểu biết nhất định về thế giới bên ngoài từ
đó hình thành ở trẻ tính tự lâp, kiên trì từ đó phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ.
II. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
Để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non trong giai đoạn hiện nay thông qua
việc thực hiện các biện pháp trên đã phần nào đạt được một số kết quả như đã nêu. Bản
thân xin có một số đề xuất sau :
1. Đối với phòng giáo dục và đào tạo:
Tạo điều kiện bổ sung những tài liệu tham khảo, trang thiết bị và đồ dùng phục vụ
trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Cần tăng cường hơn nữa các lớp tập huấn, bồi dưỡng để giáo viên có nhiều cơ hội
học tập và rút kinh nghiệm cho bản thân.
Cung cấp các tiến bộ khoa học kỹ thuật như: Học tập qua băng hình, đĩa ghi hình...
để cung cấp thêm tư liệu cho giáo viên.
2. Đối với nhà trường:
Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên dự giờ, tổ chức thao giảng, hội thảo... về
19
20