TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------------------
ĐÀM THỊ THU HÀ
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
“CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA”
(NGUYỄN MINH CHÂU) THEO ĐỊNH
HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN HẠNH PHƢƠNG
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai và thực hiện đề tài “Đọc – hiểu văn bản “Chiếc
thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) theo định hƣớng phát triển năng lực Ngữ
văn cho học sinh THPT”, tác giả đã thƣờng xuyên nhận đƣợc sự giúp đỡ, tạo điều
kiện thuận lợi của các thầy cô trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô giáo
trong tổ Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn và ThS. Trần Hạnh Phƣơng – ngƣời hƣớng
dẫn trực tiếp.
Tác giả khóa luận xin đƣợc bày tỏ sự biết ơn và lời cảm ơn chân thành đến
các thầy cô giáo.
Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi
đƣợc những thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô
: Học sinh
THPT
: Trung học phổ thông
CH
: Câu hỏi
NXB
: Nhà xuất bản
DCT
: Dẫn chƣơng trình
NMC
: Nguyễn Minh Châu
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ........................................ 5
1.1. Cơ sở lí luận ......................................................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm đọc hiểu............................................................................................ 5
1.1.2. Lí thuyết tiếp nhận ............................................................................................. 7
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy học Ngữ văn trong nhà trƣờng phổ
thông ở nƣớc ta ngày càng đƣợc quan tâm nhiều hơn. Đó là nƣớc ta đang thực hiện
bƣớc chuyển từ chƣơng trình giáo dục tiếp cận nội dung sang hƣớng tiếp cận năng
lực của ngƣời học. Để thực hiện đƣợc điều đó, nhất định phải thực hiện thành công
việc chuyển từ phƣơng pháp dạy học theo kiểu truyền thống: thầy đọc - trò chép,
thầy thuyết trình - trò nghe, thầy chỉ sử dụng một số phƣơng pháp chủ yếu là bình
giảng… sang cách học vận dụng kiến thức, kĩ năng để hình thành năng lực và phẩm
chất. Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục nặng về kiểm tra trí nhớ
sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống trong
thực tiễn, coi trọng việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoc tập với kiểm tra đánh giá trong
quá trình học tập để kịp thời nâng cao chất lƣợng của hoạt động dạy và học.
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, sự sáng tạo trong việc đổi mới các
phƣơng pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh… chƣa nhiều. Dạy học
vẫn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều, việc rèn luyện kĩ năng chƣa đƣợc quan
tâm, hoạt động kiểm tra, đánh giá chƣa thực sự khách quan, chủ yếu là tái hiện kiến
thức, chú trọng đánh giá cuối kì, chƣa chú trọng quá trình giảng dạy. Điều này làm cho
học sinh thụ động, ỉ lại, lúng túng khi giải quyết các vấn đề xảy ra trong thực tiễn.
Thêm vào đó, nƣớc ta đã thực hiện nhiều công cuộc trong đổi mới phƣơng
pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá và đã đạt đƣợc những thành công bƣớc đầu. Đó là
những tiền đề quan trọng để chúng ta tiến hành việc dạy học, kiểm tra, đánh giá
theo định hƣớng phát triển năng lực của ngƣời học.
Chƣơng trình SG
Ngữ văn THPT đã đƣa vào một số tác phẩm tự sự sau
năm 1975, trong đó có “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu. Đây là
giai đoạn văn học mới mở ra nhiều điều mới m về cách nhìn nhận, đánh giá, mô tả
hiện thực của cuộc sống và con ngƣời, nó mang đến cho ngƣời giáo viên và học
sinh một không khí dạy học văn chƣơng sôi nổi hơn. Tuy nhiên, vấn đề dạy học
Trong một số tài liệu gần đây: “Tài liệu tập huấn giáo viên thực hiện dạy học
và kiểm tra đánh giá theo định hƣớng phát triển năng lực” cũng đã nhấn mạnh đến
việc đổi mới giảng dạy, kiểm tra, đánh giá lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động
học và giáo viên chỉ là ngƣời hƣớng dẫn các em học sinh khám phá, tìm tòi phát
2
huy hết khả năng, năng lực của mình để giải quyết các vấn đề mà các em gặp phải
trong thực tiễn.
2. Công trình nghiên cứu về “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh
Châu
Nguyễn Minh Châu là tác giả quen thuộc trong nền văn học Việt Nam hiện
đại.
ng là cây bút tiêu biểu trong thời kì đổi mới văn học. Qua tác phẩm của ông
chúng ta có thể hiểu thêm về cuộc sống con ngƣời và xã hội trong thời đại mới. Những
công trình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu và tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” rất
phong phú có thể kể đến một số công trình nhƣ:
Nguyễn Minh Châu – con ngƣời và tác phẩm, Nhiều tác giả, NXB Hội nhà
văn, Hà Nội, 1991.
Nguyễn Minh Châu – tác gia và tác phẩm, Nhiều tác giả, NXB Giáo dục, Hà
Nội, 2
6.
Lê Thị Hƣờng (2
9), Chuyên đề dạy – học Ngữ văn 12: Chiếc thuyền ngoài
7. Đóng góp của khóa luận
Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên qua việc thiết kế bài học đọc – hiểu
Ngữ văn theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh trong nhà trƣờng phổ thông.
Ngoài ra, khóa luận cũng góp phần củng cố năng lực đọc – hiểu các văn bản văn
học ở trƣờng THPT và đặc biệt là văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa”.
8. Bố cục khóa luận
Bố cục của khóa luận bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần
kết luận. Trong đó, phần nội dung gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chƣơng 2: Vận dụng dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa” của
Nguyễn Minh Châu theo định hƣớng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh
THPT
Chƣơng 3: Giáo án thực nghiệm
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm đọc hiểu
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Đọc là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí
hiệu”. [9,431]
Đọc là khâu đầu tiên, là tiền đề trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học. Đọc
không chỉ là để tiếp nhận thông tin, làm giàu hiểu biết, làm phong phú tâm hồn mà
còn góp phần hoàn thiện nhân cách con ngƣời. Đọc là một hoạt động đặc trƣng của
con ngƣời, một hoạt động mang tính văn hóa nhằm thỏa mãn một nhu câu của đời
sống. Đồng thời nó cũng phản ánh những năng lực, tầm văn hóa của ngƣời tiếp
nhận. Đọc gắn liền với hiểu là vì mục đích cuối c ng là để hiểu.
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Hiểu là nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái gì
1.1.1.2. Chức năng của đọc – hiểu
Trong thời đại b ng nổ công nghệ thông tin nhƣ hiện nay, con ngƣời có rất
nhiều cách để tiếp cận tác phẩm văn học. Con đƣờng hữu hiệu giúp bạn đọc chiếm
lĩnh tác phẩm văn chƣơng là đọc – hiểu. Bởi các tác phẩm văn chƣơng là loại hình
nghệ thuật ngôn từ, chỉ có đọc mới có thể giúp bạn đọc chiếm lĩnh những giá trị và
ý nghĩa của tác phẩm.
Ngƣời đọc bằng những hiểu biết của cá nhân sẽ chuyển hóa các kí hiệu ngôn
ngữ trong văn bản thành những thông tin thẩm mĩ. T y theo các cấp độ đọc khác
nhau mà m i ngƣời thu về cho mình những lƣợng thông tin không giống nhau.
Thông qua việc đọc – hiểu tác phẩm văn chƣơng, ngƣời đọc sẽ tự rút ra cho bản
thân mình những bài học quý báu về cuộc đời về con ngƣời.
Đọc – hiểu giúp cho quá trình khám phá nội dung tƣ tƣởng nghệ thuật của
tác phẩm trở nên dễ dàng hơn. Từ đó có thể áp dụng phƣơng pháp dạy đọc – hiểu
vào việc đọc và tạo lập văn bản tƣơng đƣơng.
Đọc – hiểu không chỉ là hoạt động thông thƣờng mà đã trở thành hoạt động
văn hóa thể hiện tầm đón nhận của m i bạn đọc. Đọc – hiểu trở thành một con
đƣờng để tiếp nhận tác phẩm văn học.
6
1.1.2. Lí thuyết tiếp nhận
1.1.2.1. Khái niệm tiếp nhận văn học
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về tiếp nhận văn học:
Theo “Từ điển thuật ngữ Văn học”: tiếp nhận văn học là “hoạt động chiếm
lĩnh giá trị tƣ tƣởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản
ngôn từ, hình tƣợng nghệ thuật, tƣ tƣởng cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài năng
của tác giả cho đến tác phẩm sau khi đọc . [1,325]
Nguyễn Thanh H ng trong cuốn “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chƣơng” lại
quan niệm “Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem đến cho ngƣời đọc sự
nghiệm sống, vốn văn hóa và những rung cảm sâu sắc trong tâm hồn sẽ c ng tái
hiện bồi đắp những rung cảm tinh tế, sâu sắc của nhà văn thành những bức tranh đời
sống chân thực, sống động, những hình tƣợng hoàn chỉnh để rồi tự rút ra cho mình
những bài học kinh nghiệm, bài học nhân sinh quý báu, qua quá trình tiếp nhận tích
cực ấy sẽ có thêm những hiểu biết, trải nghiệm về cuộc đời.
Hoạt động đọc có vai trò quan trọng trong đời sống văn học. Tác phẩm của
ngƣời nghệ sĩ chỉ thực hiện đƣợc chức năng của nó khi đƣợc bạn đọc tiếp nhận. Quá
trình sáng tạo của tác giả sẽ chỉ là những trang giấy bất động và hoàn toàn không có
giá trị nếu không có công chúng. Ngƣời nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm nhƣng ngƣời
đọc mới chính là những ngƣời thẩm định và quyết định sự tồn tại của chúng. Có bạn
đọc thì quá trình sáng tạo kia mới hoàn tất.
Nhƣ vậy, hoàn toàn có thể coi ngƣời đọc là yếu tố nội tại của quá trình sáng
tác văn học. Ngƣời đọc có vai trò to lớn trong việc quyết định sinh mệnh, sự sống
còn của tác phẩm văn học.
hi sáng tác tác giả luôn quan tâm đến tình cảm, tâm lí
và thị hiếu bạn đọc. C ng một tác phẩm, ở m i thời kì, m i thời điểm khác nhau,
thậm chí ngay ở c ng một bạn đọc sự lĩnh hội cũng khác nhau. T y thuộc vào tƣ
chất cá nhân, trình độ nhận thức, năng lực tiếp nhận, vốn sống, sự hiểu biết văn học
nghệ thuật, nghề nghiệp, thời đại, môi trƣờng xã hội đều dẫn đến những cách nhìn,
cách hiểu khác nhau về tác phẩm văn học. Chính vì điều này tạo nên tính đa nghĩa,
đa chiều, đa cách hiểu về hình tƣợng nghệ thuật. Đối với nhà văn, ngƣời đọc luôn là
hiện thân của nhu cầu xã hội để tác phẩm hƣớng tới đáp ứng, lí giải, tuyên truyền
hay thuyết phục. Sự phong phú trong nội dung tác phẩm và tính đa nghĩa của hình
tƣợng nghệ thuật cũng tạo nên những cách hiểu không giống nhau ở bạn đọc.
8
9
ĩ năng: ở một mức độ nhất định của khả khả năng con ngƣời, biểu thị
khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận đƣợc trong một lĩnh vực nào đó áp
dụng vào thực tế và hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó.
hình thành là do quá trình lặp đi, lặp lại một hoạt động nào đó.
ĩ năng đƣợc
ĩ năng của ngƣời
học có đƣợc thông qua biệc học và thực hành trong thực tiễn đời sống.
Thái độ: là những giá trị nhận thức, phẩm chất của ngƣời học đối với cuộc
sống, định hƣớng hành vi của học sinh thông qua việc học một nội dung nào đó.
Nhƣ vậy, có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực
để ngƣời học phải năng động, tích cực, tìm đƣợc các giải pháp tối ƣu để thực hiện
nhiệm vụ hoặc có cách ứng xử ph hợp trong bối cảnh phức tạp. Việc hình thành và
rèn luyện năng lực đƣợc diễn ra theo một hình xoáy ốc, trong đó các năng lực có
trƣớc đƣợc sử dụng để kiến tạo kiến thức mới; và đến lƣợt mình, kiến mới lại đặt cơ
sở để hình thành những năng lực mới.
Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh
vực hoạt động. Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó
thôi thì chƣa đủ mà còn cần đến việc sử dụng một cách có hiệu quả thái độ, giá trị,
trách nhiệm bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề
phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi.
1.1.3.3. Những năng lực Ngữ văn cần phát triển cho học sinh THPT
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của m i cá nhân trong việc
nhận ra đƣợc các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời và cuộc sống,
thông qua những cảm nhận, rung động trƣớc cái đẹp, cái thiện. Nhƣ vậy, năng lực
cảm thụ thẩm mĩ thƣờng d ng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của m i cá
nhân. Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm
xúc của m i ngƣời, của ngƣời khác, của các nhóm cảm xúc.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc th của môn học Ngữ văn, gắn
với tƣ duy hình tƣợng trong việc tiếp nhận văn bản văn học. Quá trình tiếp xúc với
tác phẩm văn chƣơng là quá trình ngƣời đọc bƣớc vào thế giới hình tƣợng của tác
phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ đƣợc thể hiện ở những phƣơng diện sau:
Cảm nhận v đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trƣớc những hình
ảnh, hình tƣợng đƣợc khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con ngƣời, cuộc sống
qua ngôn ngữ nghệ thuật.
11
Nhận ra đƣợc những giá trị thẩm mĩ đƣợc thể hiện trong tác phẩm văn học:
cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn… từ đó cảm nhận đƣợc những giá trị
tƣ tƣởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn.
Cảm hiểu đƣợc những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn
học; hình thành và nâng cao cảm xúc, cảm xúc thẩm mĩ của cá nhân; biết rung động và
cảm nhận trƣớc v đẹp của thiên nhiên, con ngƣời, cuộc sống; có hành vi đẹp đối với
bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân.
Từ việc tiếp xúc các văn bản văn học, học sinh sẽ biết rung động trƣớc cái
đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình tƣợng, biểu hiện không đẹp trong cuộc
sống, biết đam mê và mơ ƣớc cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
lại trong giờ học văn. Điều này dẫn đến tình trạng chất lƣợng môn văn ngày càng
giảm sút, các tác phẩm văn học chƣa có vị trí trong lòng những ngƣời học, ngƣời
yêu văn chƣơng. Việc học sinh về nhà không đọc trƣớc tác phẩm, không soạn bài
trƣớc khi lên lớp đã ảnh hƣởng tới chất lƣợng bài học. Dung lƣợng tác phẩm lớn mà
thời gian có hạn, học sinh không thể tiếp thu hết kiến thức mà giáo viên truyền đạt,
nếu nhƣ học sinh không chịu hợp tác.
Chính vì vậy, yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học là điều cần thiết. Để
phát huy hết khả năng tích cực, tự giác, tự lập, sáng tạo của học sinh giúp các em có thể
tự tin, rèn luyện khả năng tự học và ý chí vƣơn lên trong học tập.
1.2.2. Dạy học Ngữ văn phát triển năng lực cho học sinh THPT
Dạy học Ngữ văn đã có nhiều thay đổi để ph hợp với sự thay đổi và phát
triển của đất nƣớc trong thời kì hội nhập. Trƣớc hết là việc đổi mới áp dụng các
phƣơng pháp dạy học tích cực đã đƣợc thực hiện. Tuy nhiên cách thực hiện, hiệu
quả giảng dạy để đạt đƣợc mục tiêu chƣa đƣợc nâng cao. Đặc biệt là áp dụng các
phƣơng pháp nhƣ: dạy học đọc – hiểu, dạy học tích hợp... mang tính khiên cƣỡng,
bó buộc chƣa huy động hết đƣợc kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau để giải quyết nhiệm vụ học tập. Việc dạy học Ngữ văn theo định
hƣớng phát triển năng lực cho học sinh THPT đã khơi dậy và phát huy tối đa các
năng lực của học sinh. Trƣớc hết, học sinh đƣợc trang bị năng lực chung và đặc biệt
là năng lực Ngữ văn chuyên biệt nhƣ; năng lực tiếp nhận (đọc – hiểu), năng lực cảm
thụ thẩm mĩ, năng lực đánh giá các tác phẩm văn học...
13
Trong thực tế giảng dạy thì việc áp dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực
chƣa phát huy đƣợc hết tác dụng của nó, việc dạy học theo định hƣớng phát triển
năng lực cho học sinh vẫn còn dựa trên lí thuyết, hiện tƣợng học sinh không biết
làm một đề đọc – hiểu. Các em chƣa biết cách vận dụng những kiến thức đọc hiểu
vào những văn bản mới tƣơng tự văn bản mà các em đã đƣợc học. Quá trình dự giờ
2.2. Nguyên tắc dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực Ngữ văn cho học
sinh THPT
2.2.1. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn gắn với đời sống
Bài học đƣợc mở đầu bằng thực tiễn và kết thúc bằng thực tiễn, nhƣ thế mới
đảm bảo việc học đi đôi với hành.
Trong dạy học Ngữ văn, những gì đƣợc dạy trên lớp phải gắn với cuộc sống
bên ngoài, ở quá khứ, hiện tại và tƣơng lai của ngƣời học thì bài học mới thực sự có
hiệu quả. Đối với những ngƣời lớn tuổi, nếu nội dung học không liên quan đến công
15
việc họ đang làm, họ sẽ không muốn học, không có hứng thú để học. Họ chỉ có thể
hiểu đƣợc lí thuyết qua các ví dụ thực tế. Trong dạy học, ngƣời giáo viên đƣa ra các
ví dụ liên quan đến các công việc hàng ngày của ngƣời học là cách vào bài tốt.
những ví dụ này khiến ngƣời học tò mò và nhận thức đƣợc rằng giờ học sẽ gần gũi
và hữu ích đối với họ.
hi đó, họ sẽ tập trung và tiếp thu bài tốt hơn. Sau khởi đầu
thuận lợi, ngƣời dạy có thể đƣa ra kiến thức mới về lí thuyết. Đến cuối bài, ngƣời
dạy cần phải móc nối kiến thức, lập lại mối liên hệ giữa bài học với thực tế của
ngƣời học.
2.2.2. Nguyên tắc tạo không khí tích cực trong giờ giảng
Việc học sẽ đơn giản hơn khi giữa học và chơi không đối nghịch nhau, mà
ngƣợc lại.
hi ngƣời học tìm thấy niềm vui trong học tập thì việc học sẽ trở nên dễ
dàng hơn.
tác phẩm văn học cần phải huy động nhiều kiến thức và kĩ năng văn học khác nhau
chứ không riêng gì các yếu tố ngôn ngữ. Đồng thời trong giờ văn, ngoài việc chỉ ra
các v đẹp của tác phẩm đƣợc học, giáo viên cần chú ý giúp các em cách thức phân
tích, bình giá một tác phẩm văn học theo một thể loại nhất định. Làm nhƣ vậy là đã tích
hợp nội dung và phƣơng pháp dạy tập làm văn và phân tích, bình giảng trong văn học
vào giờ Văn.
2.3. Tổ chức dạy học đọc – hiểu văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn
Minh Châu theo định hƣớng phát triển năng lực cho học sinh THPT
Để tổ chức các hoạt động học, nhằm phát triển năng lực của học sinh một
cách có hiệu quả, ngƣời dạy phải khéo léo vận dụng linh hoạt các phƣơng pháp ph
hợp với văn bản. Nội dung của việc tiếp nhận văn học là các hoạt động chiếm lĩnh
các giá trị tƣ tƣởng, thẩm mĩ của tác phẩm. Tiếp nhận tác phẩm văn học đòi hỏi có
sự giao tiếp, tranh luận, thảo luận giữa giáo viên và học sinh, giữa các học sinh với
nhau về tác phẩm. Điều này cũng ph hợp với một trong những nguyên tắc dạy học
của lí luận dạy học hiện đại. Nó trái ngƣợc hoàn toàn với việc giáo viên áp đặt kiến
thức một chiều từ phía giáo viên cho ngƣời học. Giáo viên phải là ngƣời tổ chức và
khuyến khích việc thảo luận, trao đổi ý kiến trong lớp học của học sinh.
2.3.1. Phương pháp phát triển năng lực đọc – hiểu cho học sinh
2.3.1.1. Phương pháp đọc văn
Đọc là phƣơng pháp đặc th của giờ giảng văn. Việc tiếp nhận tác phẩm văn
học phải bắt đầu từ việc đọc: đọc thành tiếng và đọc không thành tiếng. Ngôn ngữ
văn học là loại ngôn ngữ đặc biệt, có các đặc tính nhƣ chính xác, hàm xúc, đa nghĩa,
17
biểu cảm và tạo hình. Nhà văn có ý thức d ng vỏ âm thanh của từ, nhịp điệu của
câu để diễn tả bức tranh đời sống và thái độ, tình cảm của mình trƣớc bức tranh đời
sống đó. Bằng ngôn ngữ tiểu thuyết, nhà văn có thể trực tiếp tác động đến tri giác,
thính giác, xúc giác của ngƣời đọc, làm cho họ cảm giác đƣợc nhân vật một cách
của việc dạy văn không chỉ giúp cho học sinh hiểu và có kiến thức về các tác phẩm
nằm trong chƣơng trình, rèn luyện năng lực thẩm mĩ, giáo dục tƣ tƣởng mà còn rèn
luyện cho học sinh cách đọc, cách tiếp nhận tác phẩm tích cực.
Có hai hình thức đọc tác phẩm: t y theo mức độ của bài học, và dung lƣợng
của tác phẩm mà giáo viên có thể đƣa ra các hình thức đọc khác nhau có thể là đọc
thầm, đọc lƣớt, đọc thành tiếng...
Đọc diễn cảm tác phẩm (đọc thành tiếng): là cách sử dụng các sắc thái tình
cảm của giọng đọc; vui, buồn, mỉa mai, phê phán... nhấn mạnh trọng âm, ngắt giọng
để miêu tả lại các nội dung của tác phẩm cũng nhƣ thái độ của nhà văn với nhân vật.
Ngữ điệu của ngƣời đọc không chỉ giúp cho ngƣời nghe hiểu nhân vật nói gì mà còn
hình dung rõ nhân vật nói nhƣ thế nào.
Nếu có điều kiện cho phép giáo viên có thể cho học sinh nghe các giọng
ngâm của các nghệ sĩ. Đối với các đoạn hội thoại trong truyện ngắn, tiểu thuyết
ngƣời đọc phải lột tả hết tính cách của từng nhân vật. Với các đoạn trích về kịch,
giáo viên nên cho học sinh đọc phân vai. Để hƣớng dẫn cách đọc cho học sinh, giáo
viên có thể nêu vài nhận xét vắn tắt về tính cách của từng nhân vật.
Việc đọc tác phẩm có thể tiến hành dƣới nhiều hình thức, kết hợp việc đọc
của giáo viên và học sinh; đọc đầu giờ, đọc trong quá trình phân tích, đọc khi kết
thúc bài giảng. Với những tác phẩm dài, nếu thời gian không cho phép, nên đọc
phần quan trọng, phần còn lại giáo viên tóm tắt, gạch chân ý chính hoặc dặn học
sinh đọc trƣớc và hƣớng dẫn soạn bài ở nhà để thuận lợi cho việc nghiên cứu tác
phẩm.
* Hoạt động cụ thể:
GV phân công công việc cho HS bằng cách yêu cầu về nhà đọc phần tiểu dẫn
tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tác giả, tác phẩm và ghi ra giấy. Sau đó, GV
yêu cầu HS trình bày sản phẩm của mình trƣớc lớp.
GV cho HS sắp xếp các ô chữ để tóm tắt lại diễn biến của câu chuyện:
19