Dạy đọc hiểu văn bản chiếc thuyền ngoài xa (nguyễn minh châu) theo cấu trúc mở - Pdf 30

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường không phải là vấn đề
mới mẻ. Nhưng dạy như thế nào, làm sao để nâng cao hiệu quả và hứng thú cho
một giờ học thì lại luôn là câu chuyện mang tính thời sự. Trong những năm gần
đây chúng ta bàn rất nhiều về đổi mới phương pháp dạy học. Chúng ta đã có những
bước đổi mới. Nhưng xem ra đây vẫn là một bài toán không dễ giải đối với những
người trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông.
Từ trước đến nay chúng ta thường tổ chức giờ đọc hiểu văn bản văn học theo
cấu trúc khép kín. Với cấu trúc này chúng ta coi trọng tính chỉnh thể, trọn vẹn của
bài học, của các khâu lên lớp. Cho nên giáo viên luôn đóng vai trò chủ động, tích
cực dẫn dắt học sinh tham nhập văn bản bằng cách nêu những câu hỏi đã định sẵn,
hướng học sinh trả lời theo ý của thầy, bỏ qua những nhân tố phát sinh, tránh việc
để học sinh bày tỏ quan điểm riêng của mình. Vì vậy việc đổi mới phương pháp
dạy như chúng ta nói chỉ là kiểu “bình mới, rượu cũ” mà thôi. Điều này đã làm
mất đi sức hấp dẫn của một giờ đọc văn.
Trong bối cảnh giáo dục ngày nay chúng ta đang đứng trước những yêu cầu,
đòi hỏi mới và nhất là trước một đối tượng học sinh mới. Các em không chỉ nhạy
cảm, thông minh, mà còn táo bạo. Các em thích tự mình khám phá những vùng trời
tri thức mới bằng con đường riêng của mình, thích bày tỏ chủ kiến, thậm chí có thể
tranh luận tới cùng để bảo vệ ý kiến của mình. Vì vậy chúng ta cần biết cách nêu
vấn đề để các em tự tìm hiểu, khuyến khích các em bộc lộ quan điểm của mình.
Điều này không chỉ nâng cao tính sáng tạo mà còn giúp học sinh có năng lực tự
đọc những tác phẩm văn học khác ở ngoài nhà trường. Điều này trong những giờ
học trước đây chúng ta chưa làm được.
1.2. Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm được viết
sau 1975. Nó đề cập đến một vấn đề hết sức nhạy cảm mà một thời gian dài trước
đó văn học không dám nói đến: số phận con người cá nhân. Hơn thế con người cá
nhân ở đây lại được đặt trong muôn mặt phức tạp của cuộc sống đời thường. Con
người ở đây chỉ là những số phận bình thường, thậm chí tầm thường. Họ là những
ngư dân nghèo khổ trong gánh nặng mưu sinh của cuộc sống gia đình. Hơn nữa lối

Phương pháp dạy học hiện đại quan niệm: một giờ đọc hiểu văn bản là sự
tác động qua lại tích cực giữa ba nhân tố quan trọng giáo viên - học sinh - nhà văn
(thông qua tác phẩm). Thậm chí có thể coi đây như một cuộc trò chuyện thú vị về
một vấn đề mà họ cùng quan tâm. Giáo viên đóng vai trò tổ chức, tạo nhịp cầu nối
để học sinh đối thoại với nhà văn thông qua tác phẩm, đồng thời phải tổ chức cho
các chủ thể học sinh tương tác lẫn nhau, thậm chí tương tác với chính giáo viên
thông qua hoạt động tranh luận. Học sinh thể hiện vai trò tích cực chủ động kiến
tạo tri thức bằng cách tranh luận. Học sinh có thể tranh luận thoải mái với nhau,
thậm chí có khi còn tranh luận với giáo viên trước một vấn đề nào đó trong tác
phẩm.
Tóm lại, giờ dạy văn không đơn thuần là giờ học kiếm tìm tri thức đơn
thuần, mà nó “phải tạo được không khí, cảm xúc, sự đồng cảm, giao cảm, sự cộng
hưởng xúc cảm giữa nhà văn – giáo viên – học sinh. Học sinh trò chuyện với nhà
văn thông qua tác phẩm trung gian. Giáo viên là người hướng dẫn tổ chức cuộc nói
chuyện ấy thật sự tự nhiên, bình đẳng, làm sao lôi cuốn và lay động được từng học
sinh trong lớp học. Đó chính là hạt nhân của quá trình dạy học tác phẩm văn
chương trên lớp. Mọi thiết kế giờ học văn phải đáp ứng được mục đích tối cao của
hoạt động học văn ở học sinh trong mỗi giờ học.”
II. Những hạn chế của mô hình giờ đọc hiểu văn bản hiện nay và các nỗ
lực khắc phục
Có thể nhận thấy rằng phần lớn giờ đọc hiểu văn bản văn học phổ biến hiện
nay thường theo công thức cố định. Nó là kiểu cấu trúc khép kín với các bước quen
thuộc lặp đi lặp lại cho tất cả các bài học, các đối tượng học sinh. Giờ dạy như thế
đã tồn tại khá lâu và tất nhiên nó có những cơ sở khoa học, những ưu điểm nhất
định như tiện cho việc kiểm tra, đánh giá, giáo viên chủ động trong quá trình dạy,
học sinh quen thuộc với giờ học Nhưng điều này lại trở thành vấn đề bất lợi trong
dạy học văn hiện nay. Chúng tôi đã tiến hành một cuộc điều tra nhỏ tại đơn vị cơ
sở về hứng thú học văn của học sinh. Khi được hỏi “Em có thích các giờ đọc hiểu
văn bản văn học hiện nay không? Vì sao?”. Hầu hết các em đều trả lời rằng: các
em rất thích đọc những tác phẩm được đưa vào trong nhà trường nhưng đều cảm

linh hoạt trong việc phát hiện ra các mối tương quan (bao hàm cả trật tự trình bày
về các mối tương quan) giữa các đơn vị cấu thành kiến thức, cấu thành bài học mà
ta phải dạy, học. Cấu trúc mở của giờ học sẽ không từ chối mà ngược lại, sẵn sàng
thâu nạp những tham số mới nảy sinh trong hoạt động của cả giáo viên lẫn học
sinh, vượt ngoài dự kiến ban đầu vốn được thể hiện trong giáo án. Cấu trúc mở đó
cũng cho phép ta nhận ra mối liên hệ hệ thống giữa giờ học này với giờ học khác,
giữa hoạt động trong giờ học với hoạt động ngoài giờ học.” (Phan Huy Dũng - Về
việc vận dụng lí thuyết liên văn bản vào dạy học văn ở trường phổ thông). Nghĩa là
theo quan điểm của chúng tôi, cấu trúc mở là một cấu trúc linh hoạt, luôn có sự vận
động, biến hóa để phù hợp với những vấn đề nảy sinh trong giờ học, phù hợp với
tâm lí tiếp nhận của học sinh và đặc trưng của từng đơn vị bài học cụ thể. Dạy học
theo cấu trúc mở chính là tạo điều kiện để phát huy tính chủ động, tích cực của học
sinh, cũng tạo cho học sinh có một không gian mở để phát huy năng lực cảm thụ
văn học của mình. “Học sinh được hướng dẫn tổ chức tìm tòi, phát hiện, lựa chọn
kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Nghĩa là, giờ dạy văn không đơn thuần là
giờ học kiếm tìm tri thức, mà nó “phải tạo được không khí, cảm xúc, sự đồng cảm,
giao cảm, sự cộng hưởng xúc cảm giữa nhà văn – giáo viên – học sinh. Học sinh
trò chuyện với nhà văn thông qua tác phẩm trung gian. Giáo viên là người hướng
dẫn tổ chức cuộc nói chuyện ấy thật sự tự nhiên, bình đẳng, làm sao lôi cuốn và lay
động được từng học sinh trong lớp học
Với quan niệm này giờ học theo cấu trúc mở có sự khác biệt khá lớn so với
giờ dạy học truyền thống. Nếu trong lối dạy cũ chúng ta chú trọng đến các khâu,
các bước lên lớp, coi trọng tính hoàn chỉnh của đơn vị bài học thì với giờ học theo
cấu trúc mở, chúng ta coi trọng mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố. Giờ dạy
học cũ mang tính chất tĩnh, không có nhiều sự biến đổi, trình tự các bước mang
tính ổn định. Giờ học theo cấu trúc mở mang tính chất động, nghĩa là có thể thay
đổi các khâu, các bước một cách linh hoạt nếu có “sự cố” xảy ra. Nếu trong giờ dạy
cũ chúng ta rất muốn cung cấp cho học sinh đầy đủ lượng kiến thức cần đạt bao
gồm cả yếu tố chính và phụ. Giờ học theo cấu trúc mở chỉ hướng học sinh vào
những kiến thức trọng tâm, xử lí linh hoạt các yếu tố phụ. Điểm mấu chốt của giờ

không giải đáp. Với giờ học theo cấu trúc mở, giáo viên sẽ xử lí các tham số ấy và
chuyển hướng khai thác văn bản một cách hợp lí nhất.
III.2.3. Tạo được sự nối kết với các giờ học khác và với những hoạt động
ngoài giờ học
Một giờ học thành công không phải là một giờ học chuyển tải được hết tinh
thần giáo án của giáo viên đến với học sinh, quan trọng hơn là phải tạo nên một
động lực, một ham muốn tìm tòi ở học sinh, tạo được tiền đề cho sự nối kết với
những giờ học khác và những hoạt động khác. Tri thức thu nhận từ giờ học không
đóng khung, cố định chắc chắn và cũng không tồn tại bất biến mà nó sẽ dần nảy
sinh thêm. Học sinh biết cách vận dụng tri thức cũ để giải quyết vấn đề mới, dùng
kĩ năng thực hành để thể nghiệm tri thức và nâng cao năng lực học tập. Chẳng hạn
như khi dạy Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu có thể yêu cầu học sinh
so sánh với những tác phẩm viết về nhân vật bị tha hóa trong sáng tác của Nam
Cao, hay “tuyên ngôn” về cách nhìn đời, nhìn người của ông qua Đôi mắt. Hay khi
dạy bài Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo có thể gợi ý học sinh nhớ lại lối
tưởng tượng “nhảy cóc” trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Cho nên một
giờ dạy thành công phải biết gợi mở những vấn đề còn bỏ ngỏ, đánh thức những
mối liên hệ tiềm ẩn giữa văn bản với cuộc sống bao quanh nó. Đây cũng chính là
nguyên tắc tích hợp mà chúng ta bàn nhiều trong mấy thập kỉ nay.
III. Giáo án thực nghiệm
Đọc văn: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
I. ĐỊNH HƯỚNG VỀ KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ:
Giúp học sinh:
- Cảm nhận được những chiêm nghiện sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và
nghệ thuật : Mỗi người trên cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không nên nhìn đời và
nhìn người một cách đơn giản, trái lại, cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người
một cách sâu sắc, nhiều chiều. Nghệ thuật chân chính luôn gán với cuộc đời và vì
cuộc đời.
- Phân tích được những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm: tình huống
truyện độc đáo mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống; chọn được điển

Trò chơi: Phỏng vấn nhà văn.
Hình thức chơi: Gọi học sinh, một em đóng vai phóng viên, một em đóng vai
nhà văn, thực hiện cuộc giao lưu.
Phóng viên: Xin chào nhà văn. Cảm ơn ông đã nhận lời tham gia cuộc trò
chuyện của chúng tôi.
Nhà văn: Tất nhiên tôi rất sẵn lòng trò chuyện với các bạn. Các bạn là những
bạn đọc rất thú vị mà. Thế bạn đã đọc tác phẩm nào của tôi rồi?
- Phóng viên: Rất nhiều rồi ạ. Tôi đã đọc Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê,
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Phiên chợ Giát, Chiếc thuyền ngoài xa
Nhà văn: Thế bạn cảm thấy như thế nào về các tác phẩm đó?
Phóng viên: Tôi rất thích. Nhưng vẫn băn khoăn mãi một điều là: Tại sao
các tác phẩm ông viết trước và sau 1975 có sự khác biệt lớn như vậy. Trước 1975
tác phẩm của ông mang màu sắc lãng mạn, nhân vật được lí tưởng hóa thật đẹp đẽ,
thiên nhiên cảnh vật, cuộc sống cũng rất thi vị dù là trong mưa bom bão đạn. Còn
sau 1975 văn ông có vẻ gai góc quá, cuộc sống, con người được khắc họa dữ dội
quá.
Nhà văn: Dữ dội thế mới chính thực là cuộc sống. Trước đây tôi quá say sưa
trong lí tưởng chung của dân tộc nên không thấy, đúng hơn là không dám nói đên
những khía cạnh gai góc của cuộc sống. Còn sau này tôi nhận ra rằng văn chương
không phải chỉ cần đến cái Đẹp mà quan trọng hơn nó phải vì con người, vì cuộc
đời. Nhà văn phải dám nói lên tất cả mọi khía cạnh dù nó tàn nhẫn, cay đắng. Văn
chương không xuất phát từ cuộc đời thì cũng vô nghĩa
Phóng viên: Vì vậy nên ông mới viết câu chuyện Chiếc thuyền ngoài xa
bằng cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, và khắc họa một hiện thực trần trụi như vậy.
Nhà văn: Không có hiện thực nào trần trụi khi nó đã đi vào tác phẩm văn
chương đâu. Tôi viết tác phẩm này trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội khá phức
tạp. Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã kết thúc. Cuộc sống với muôn mặt
đời thường đã trở lại sau chiến tranh. Con người phải đối mặt với cuộc vật lộn mưu
sinh đầy nghiệt ngã. Nhiều vấn đề nhân sinh trước đây chưa được chú ý, bây giờ
được đặt ra. Nhiều quan niệm đạo đức phải nhìn nhận lại. Tôi cho rằng trong hoàn

sỹ như được thăng hoa, thế giới xung quanh anh chỉ còn sự hiện hữu của cái Đẹp,
của sự thánh thiện Cho nên anh không chỉ cảm thấy dó là “cảnh đăt trời cho”
trong cuộc đời cầm máy của mình mà còn như “ngộ” ra chân lí “cái đẹp chính là
đạo đức”.
Học sinh: Nhưng trong khi đang chìm đắm trong thế giới nghệ thuật thì âm
thanh và hình ảnh cuộc sống đời thường đập ngay vào mắt anh. Tiếng quát thô lỗ
của người đàn ông xé tan không gian yên bình trên bãi biển, hình dáng mệt mỏi của
người đàn bà như một dấu ấn day dứt giữa cuộc đời sóng gió, hình ảnh người đàn
ông hùng hổ lao vào đánh tới tấp người đàn bà như một nhát dao vô hình cắt đứt
giây phút lãng mạn của người nghệ sỹ và kéo anh về với một hiện thực khổ đau.
Phùng không chỉ ngạc nhiên sự độc dữ của người đàn ông mà càng kinh ngạc hơn
vì sự chấp nhận của người đàn bà: “không hề kêu, không hề chống trả, không hề
chạy trốn ”. Cứ như thể bà ta biết trước điều gì sẽ xảy ra và bình thản đón nhận
nó.
Trong hoàn cảnh đó người nghệ sĩ cứ như bị rơi tuột từ thiên đường xuống
địa ngục. Anh kinh ngạc đến mức “cứ đứng há mồm ra mà nhìn” rồi sau mới “chạy
nhào tới” chứng kiến tiếp một trận ẩu đả giữa người đàn ông hàng chài với thằng
bé từ trên rừng lao xuống và cuối cùng cũng chỉ biết ngơ ngác nhìn người đàn bà
và người đàn ông đi về phía con thuyền trả lại cho biển vẻ “mênh mông và hoang
sơ”. Chắc có một sự đổ vỡ ghê gớm trong tâm hồn người nghệ sĩ.
Giáo viên nêu tình huống phản đề: Có lẽ nhà văn đã sai khi sắp xếp thứ tự
hai cảnh tượng này. Tôi cho rằng nên đảo vị trí của nó. Như vậy người nghệ sỹ sẽ
có thể tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp của cảnh biển và có sự thăng hoa tuyệt đối trong
tâm hồn. Ý các em thế nào?
Học sinh: Không nên thay đổi ạ. Người nghệ sỹ cần phải nhìn thấu được
những nỗi đau trong hiện thực cuộc đời chứ không phải chỉ biết nhìn cái Đẹp. Cách
sắp xếp của tác giả như vậy là có dụng ý. Việc nhìn thấy hiện thực có thể làm vỡ
giấc mơ lãng mạn của người nghệ sĩ thật, nhưng nếu nhìn thấy cảnh tượng của gia
đình hàng chài trước thì chắc anh ta không có tâm trí để nhìn thấy hay cảm nhận
được vẻ đẹp của biển. Nhưng nếu anh ta vẫn điềm nhiên thưởng ngoạn cái Đẹp,

như vậy nghĩa là dung túng cho hành động tội ác. Người đàn ông đó quá “độc dữ”
Học sinh: Không phải! Nếu chỉ nhìn bên ngoài, người đó có vẻ độc ác.
Nhưng nếu quan sát kĩ hơn ta cũng có thể thông cảm được ít nhiều. Thứ nhất, anh
ta từng cứu người đàn bà hàng chài khi chị ta bị người tình phụ bạc. Thứ hai theo
lời người đàn bà trước đây anh ta rất hiền. Thứ ba, trong khi đánh vợ anh ta
“nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ, đau đớn”. Thứ tư, anh ta đồng ý đưa vợ “lên bờ
mà đánh”. Điều đó chứng tỏ rằng anh ta thực ra không muốn trở thành kẻ bạo
ngược trong gia đình, anh ta đánh vợ trong tâm trạng đau đớn, anh ta cũng chỉ là
một nạn nhân, một kẻ đáng thương xót.
Học sinh: Nhưng rõ ràng anh ta đã không khống chế được bản thân.
Giáo viên: (Tình huống tranh cãi quá căng thẳng, giáo viên khéo léo chuyển
sang ý khác). Tại sao khi tất cả mọi người đều lên án hành động của người đàn ông
thì người đàn bà có thể thông cảm cho chồng của mình như vậy?
Học sinh: Chị là người hiểu rõ nỗi đau khổ của người đàn ông. Chị biết
trước đây người đàn ông ấy “là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm”, chị
biết anh ta “cũng nghèo khổ, túng quãn vì trốn lính”. Chị hiểu “lúc nào thấy khổ
quá là lão lôi tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu ”. Chị nhận
rằng “lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”. Chị cũng
mang ơn người đàn ông vì ông ta chấp nhận lấy người phụ nữ vừa xấu vừa lỡ dở
như chị. Người đó cho chị được làm vợ, làm mẹ, được có một gia đình. Dường như
người đàn bà ấy thấu hiểu nỗi khổ tâm của chồng. Chị không hề oán trách anh ta.
Chị không chỉ thấy biểu hiện bên ngoài mà còn thấu tận tâm can người đàn ông.
Cho nên dù rất đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần nhưng chị không hề oán trách
chồng.
Giáo viên chốt ý chính: Tôi cho rằng ý kiến của các em rất hay. Vậy thì
theo các em người đàn bà hàng chài ấy có những phẩm chất gì? Nghe xong câu
chuyện của người đàn bà hàng chài trong đầu Phùng và Đẩu như “vỡ ra điều gì
đó”. Điều họ “vỡ” ra là gì vậy?
Học sinh: Em cho rằng họ đã hiểu về hoàn cảnh của người đàn bà. Họ hiểu
vì sao chị thà chấp nhận “đòn chồng” chứ không chịu li dị. Bây giờ họ mới thấy

các tác phẩm của mình. Có điều điểm nhìn của Nam Cao là những nhân vật bị tha
hóa nên cuộc đấu tranh nội tâm của họ được miêu tả tỉ mỉ hơn.
Giáo viên: Rất đúng. Tôi nghĩ các nhà văn cũng đang trăn trở rất nhiều về
nhân cách con người. Nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu khác trước
rất nhiều. Ông không quá lí tưởng hóa nhân vật, không “đặt nhân vật vào trong bầu
không khí vô trùng” nữa. Ông nhìn con người trong đòi hỏi khắt khe của hiện thực
khách quan, trong mối quan hệ xã hội phức tạp. Vì vậy nhân vật ông khắc họa cũng
chân thực hơn. Họ phải đối mặt với những cuộc chiến phức tạp: cuộc chiến mưu
sinh. Và trong cuộc chiến ấy, nhân cách con người có thể bị thay đổi. Tôi cũng
nghĩ rằng trong câu chuyện này còn nhiều vấn đề có ý nghĩa nhân sinh mà nhà văn
muốn gợi ra nữa. Chẳng hạn như: làm thế nào để giải quyết triệt để bi kịch của gia
đình hàng chài kia (mà thật ra là của rất nhiều gia đình cũng có hoàn cảnh tương tự
như thế)? Làm thế nào để trong cuộc chiến mưu sinh con người vẫn giữ được nhân
cách? Tại sao câu chuyện này luôn nóng bỏng hơi thở cuộc sống?
Giáo viên: Theo em chi tiết “bức ảnh” ở cuối tác phẩm mang thông điệp gì?
Học sinh: Nó thể hiện quan niệm của nhà văn về mối quan hệ và giữa nghệ
thuật và cuộc sống. Cuộc sống là chất liệu của nghệ thuật. Nghệ thuật phải bắt
nguồn từ cuộc sống mới là nghệ thuật chân chính.
Giáo viên nêu vấn đề: Nhan đề tác phẩm có ý nghĩa gì?
Học sinh: Nhan đề bao giờ cũng là dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Tác
phẩm này cũng vậy. Hình ảnh con thuyền ngoài xa là tượng trưng cho vẻ đẹp nghệ
thuật. Nhưng nghệ thuật lại được đặt trong một hiện thực nghiệt ngã. Qua đây nhà
văn muốn nói với mọi người “tuyên ngôn nghệ thuật” của ông: Nghệ thuật chân
chính phải gắn với hiện thực cuộc sống, người nghệ sĩ phải biết quan sát, lắng
nghe, thấu hiểu muôn mặt cuộc sống và nỗi đau của thân phận con người. Hơn nữa
hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa nó vẫn gợi lên một sự đơn độc, nhỏ bé, bất an trong
lòng người đọc.
Hoạt động: Tổng kết ( Giáo viên và học sinh có thể đối thoại bình đẳng
cùng nhau).
Giáo viên: Xét về phương diện nghệ thuật em thích điều gì ở tác phẩm này

Số
bài
kiểm
tra
Xếp loại
Giỏi Khá Trung
bình
Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
THPT
Nghèn
12B5
TN
47 2 4.3 17 36.2 25 53.2 3 6.4 0 0.0
12B6
ĐC
48 1 2.1 10 20.8 30 62.5 7 14.6 0 0.0
THPT
Can
Lộc
12A4
TN
45 1 2.2 11 24.4 28 62.2 5 11.1 0 0.0
12B7
ĐC
42 0 0.0 7 16.7 29 69.0 4 9.5 2 4.8
(ĐC: lớp đối chứng, dạy học theo phương pháp truyền thống.
TN: Lớp thực nghiệm, dạy học theo cấu trúc mở.)
Bên cạnh việc khảo sát bài làm của học sinh để kiểm tra kiến thức bài học,
chúng tôi cũng đã lấy ý kiến của các giáo viên và học sinh về giờ học theo cấu trúc

Cũng không phải là hoàn toàn có thể áp dụng được cho mọi bài học và thủ tiêu hẳn
mô hình cấu trúc cũ. Nó cũng có những hạn chế nhất định, nhất là khi người dạy,
người học không làm chủ được công việc của mình. Điều chúng ta dễ nhận ra nhất
đó chính là việc gây nên tình trạng kiến thức gián đoạn, không hệ thống, không
logic chặt chẽ hay không khí giờ văn thường bị đẩy lên kiểu tư duy tranh luận,
phản biện. Vì vậy, cần biết lựa chọn bài dạy và đối tượng học sinh phù hợp.
Để tổ chức được một giờ dạy học theo cấu trúc mở, giáo viên và học sinh cần phải
chuẩn bị bài rất công phu, chu đáo. Giáo viên phải luôn trau dồi năng lực nghề
nghiệp của mình để có thể ứng biến trong nhiều tình huống nảy sinh. Hơn nữa giờ
học này thường tạo không khí tranh luận sôi nổi nên có thể gây ảnh hưởng đến các
lớp khác. Vì vậy giáo viên cần có cách chủ động điều tiết.
4. Để có thể thực hiện dạy học theo cấu trúc mở này cũng cần một quá trình
thể nghiệm và điều chỉnh để tạo nên sự cân đối hài hòa và đáp ứng được cao nhất
yêu cầu của thực tiễn giáo dục. Sự đổi mới này cũng cần đến tính đồng bộ tiếp theo
đó chẳng hạn như đổi mới trong kiểm tra, đánh giá học sinh và giáo viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status