Nguyễn Du Chi
Bia đình làng thế kỷ XVII
một vài nhận xét bớc đầu
Nguyễn Du Chi
Trong công tác nghiên cứu xã hội cổ truyền của dân tộc ta,
văn bia là một cứ liệu hết sức quý giá. Đối với việc nghiên cứu
đình làng, một loại hình kiến trúc mang đậm dấu ấn của xã hội,
thì văn bia lại càng quan trọng hơn.
Cũng nh các thời khác, văn bia đình làng thế kỷ XVII thờng
có những loại nội dung sau đây:
- Văn bia nói về thần tích của đình làng.
- Văn bia nói về những hơng ớc của làng.
- Văn bia nói về những khoán ớc bán quyền hát cửa đình
của làng.
- Văn bia nói về việc cúng hậu và xây dựng, tu sửa đình
làng.
Trong các loại hình trên, loại cuối cùng có số lợng nhiều
hơn cả và nó cũng là loại bia cung cấp cho chúng ta nhiều cứ liệu
cho việc nghiên cứu, khảo sát kiến trúc đình làng hơn các loại
trên. Bởi vậy, ở bài viết này, chúng tôi xin thông báo một vài
nhận xét bớc đầu về loại văn bia này.
Bia cúng hậu là tên mà chúng tôi tạm gọi tắt để chỉ loại
bia ghi họ tên ngời có công đức (thờng là việc cúng tiền và ruộng
1
Bia đình làng thế kỷ XVII
cho làng) với dân làng và đợc dân làng họp lại bầu làm hậu thần,
nghĩa là lúc chết sẽ đợc thờ phụ vào đình. Đến ngày kị, làng có
nhiệm vụ làm lễ ở đình. Thông thờng việc từ thiện này thờng gắn
với công việc xây dựng và tu sửa đình làng là những việc lớn đòi
hỏi phải chi phí nhiều tiền của. Ngời cúng hậu nhân làng tu sửa
hay xây dựng đình, bỏ ra một số tiền cho làng để góp thêm vào
trờng hợp đình dựng xong rồi phải vài năm sau mới dựng bia. Cá
biệt cũng có đình phải 20 năm sau mới dựng bia, nh đình Chẩy
(Thanh Liêm, Hà Nam) chẳng hạn.
Nội dung và hình thức của các bia đình làng thế kỷ XVII
này cũng rất khác nhau. Có nhiều văn bia viết dài, cung cấp cho
chúng ta nhiều t liệu quý, chi tiết, cụ thể, nh văn bia đình Thổ Hà
(Việt Yên - Bắc Giang). Ngợc lại không ít văn bia chủ yếu nói
lên công đức của ngời cúng hậu mà thôi.
Cũng nh nội dung, hình thức của các bia rất phong phú. Có
những bia kích thớc khá to, 2 mặt hoặc 4 mặt, trang trí rất đẹp.
Hoa lá chim muông và thú vật với những bố cục rất sinh động và
tơi vui. Ví dụ nh các bia đình Đôn Lơng (Cát Hải, Hải Phòng)
đình Cổ Mễ (thị xã Bắc Ninh). Ngợc lại cũng có bia chỉ ghi một
mặt vắn tắt và trang trí cũng đơn giản.
Qua việc khảo sát các bia trên, chúng tôi bớc đầu có mấy
nhận xét sau:
1. Nhìn chung, đình làng của ta không có truyền thống dựng
bia. Trong số gần 70 ngôi đình có kiến trúc thế kỷ XVII mà
chúng tôi hiện đã khảo sát đợc chỉ có 9 đình có bia nói về việc
trùng tu xây dựng (tỷ lệ chỉ 13%), cũng có ngời cho rằng đình
không có bia vì bia đã mất. Điều này hoàn toàn không có cơ sở.
Nếu đình làng còn giữ đợc vết tích kiến trúc thì bia đình (một loại
chất liệu khó phá hủy hơn) chắc chắn sẽ còn. Phải nói ngợc lại,
3
Bia đình làng thế kỷ XVII
nhiều đình làng, chùa làng bị cháy, bị h hỏng phải tu sửa lại nhng
bia thì vẫn còn. Ví dụ nh đình Phúc Ta (Ân Thi, Hải Hng), chúng
tôi còn tìm thấy bia mặc dù đình đã bị phá hủy lâu rồi.
Việc đình làng không có truyền thống dựng bia cũng có
những cơ sở để giải thích. Các bia hậu đợc dựng lên nhằm ghi
một thực trạng xã hội đơng thời.
Bởi vì, chúng ta đều biết, khác với chùa, đình làng chỉ đợc
dựng lên khi tình hình xã hội ổn định, nền kinh tế nhờ đó có sự
phát triển nhất định. Ngời ta thoát khỏi chiến tranh loạn lạc để trở
về đoàn tụ trong một cộng đồng với nhau. Nhiều bia đình khi nói
đến lí do xây dựng đã nhấn mạnh ý này.
Rõ ràng cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài đã có những
tác động nhất định đến xã hội đơng thời và trong đó ảnh hởng
không ít đến việc xây dựng và phát triển của đình làng.
Trên đây là một vài nhận xét bớc đầu về đình làng qua một
số cứ liệu văn bia. Đi sâu vào nội dung chắc chắn còn nhiều vấn
đề thú vị./.
1989
N.D.C
(Trên đờng tìm về cái đẹp của cha ông,
Viện Mỹ thuật - Nxb. Mỹ thuật, 2001)
5