Kiến trúc đình làng Đình Bảng - Pdf 27

1. Giới thiệu đối tượng nghiên cứu
1.1 Địa điểm
Đình Bảng nằm trên vùng châu thổ sông Hồng. Trải dọc theo trục đường
quốc lộ 1 A, cách Thủ đô Hà Nội 16 km về phía Bắc. Làng Đình Bảng là một xã, có
mười lăm xóm họp lại thành một làng, cả làng thành một xã.
Theo chiều dài lịch sử, Đình Bảng là một làng trù phú, kinh tế văn hoá phát
triển, thuận lợi giao thông thủy và bộ. Nằm ở vị trí tiếp giáp, nối liền miền đồi núi
Đông Bắc với đồng bằng phía Nam cho nên Đình Bảng là nơi hội tụ và đón nhận,
ảnh hưởng cả phương Bắc, phương Nam, phía Đông và phía Tây. Đúng như nhận
định của giáo sư Trần Quốc Vượng: "Đình Bảng không bao giờ là một trung tâm
hành chính chính trị đế chịu sự đánh phá chà xát và xáo động, cùng di động dân như
Cổ Loa cũng như nhận sự áp chế trực tiếp và đồng hoá nặng nề như vùng Luy Lâu.
Nhưng Đình Bảng lại gần Cổ Loa cũng như gần Luy Lâu (hay phủ Từ Sơn ngay sau
đó) để không bao giờ là một vùng quê hẻo lánh, xa xôi - Đình Bảng không bao giờ
có thành nhưng bao giờ cũng có thị. Đó là một làng chợ, hương thị, xã thị (chứ
không là thị xã). Đình Bảng và vùng chung quanh bao giờ cũng là vùng đất hướng
ngoại, vùng mở, vùng giao lưu kinh tế văn hoá sống động và nãng động ,một vùng
tiến bộ văn hoá -xã hội, vùng đan xen kinh tế điển hình" (Hội nghị chuyên đề về
Vương Triều Lý 1-7- 1985).
Đình Đình Bảng (xưa kia còn có tên nôm là đình Báng, do có cây Báng mọc
thành rừng) nằm giữa một thiên nhiên đẹp, xung quanh có nhiều hồ ao là dấu tích
của sông Tiêu Tương. Hiện nay đình thuộc làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh
Bắc Ninh. quyết định số 313/QĐ ngày 28/04/1962. Vùng địa linh này là quê hương
Lý Công Uẩn (tức Lý Thái Tổ), người lập ra triều Lý và khai sáng kinh đô Thăng
Long (năm 1010).
Từ lâu, trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, mỗi khi nói về làng
xã không ai quên nhắc tới ngôi đình làng, bởi đó là sự kết tinh trí tuệ, công sức, sự
thịnh vượng của làng xã, niềm kiêu hãnh của làng xã, nơi chứng kiến và diễn ra các
hoạt động lớn nhỏ của cả làng... là nơi các chàng trai, cô gái gửi gắm, bầy tỏ tâm
tình.
1.2. Niên đại, lịch sử hình thành và phát triển


Sơ đồ kiến trúc Đình Bảng. Sơ đồ chi tiết bộ vỉ và hệ mái của đình
Bảng.
Kiến trúc của đình bao gồm Đại đình - ống muống - hậu cung được liên kết
với nhau theo kiểu liên kết mái. Trong đó Đại đình có những nét đáng chú ý về nghệ
thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí.
Cũng như nhiều đình làng Việt Nam dựng vào cuối thế kỷ XVII đầu XVIII,
đình Đình Bảng có lối kiến trúc bề thế, mái dài và cao, các đầu đao được uốn cong
vút. Toà Đại đình mái lớn và rộng, chiếm hơn 2/3 chiều cao toàn thể ngôi đình.
Diện tích mái rộng, lợp ngói mũi hài dầy bản, rộng khổ,
tạo một không gian rộng trong lòng đình. Đình có các tàu
mái uốn cong nhẹ nhàng, đoạn cuối uốn cong vút tạo
thành bốn góc đao đồ sộ. Toà Đại đình được xây trên nền
cao hai bậc cấp đá xanh bó xung quanh rất bề thế và vững
chãi. Bốn mặt đều được bưng kín bằng ván đố lụa, tháo
mở dễ dàng. Do đó không gian sử dụng của đình làng
không chỉ hạn hẹp trong lòng kiến trúc mà rộng thoáng
khắp bốn xung quanh, hài hoà với không gian tự nhiên.Các gian bên của Đại đình
đều có sàn ván gỗ. Phần lớn các đình làng Việt Nam nay đã bị mất hết ván sàn, dấu
vết của ván sàn nay chỉ còn là các mộng ở phần chân cột. Đình Đình Bảng là một
trong số ít đình vẫn còn giữ lại được hệ thống sàn gỗ. Hệ thống sàn đình chủ yếu
phục vụ cho việc ngồi họp của dân làng nên mang nặng tính chất sạp. Sau này khi
đình làng bị chính quyền quân chủ chi phối mạnh mẽ thì sàn đình trở nên hợp với
việc phân định “chiếu trên - chiếu dưới”- những thứ bậc muôn thuở của làng xã Việt
Nam. Đại đình gồm có 6 bộ vì được liên kết với nhau qua hệ thống xà dọc bởi vậy
đình bao gồm 5 gian chính, ngoài ra để mở rộng thêm lòng công trình người ta đã
đặt thêm 2 bộ vì lửng ở hai bên tạo nên 2 gian hồi và 2 chái lớn. Trên xà đùi nối
giữa cột cái và cột quân ở 2 gian hồi người ta đặt cột trốn để đỡ vì. Vì này được làm
theo kiểu chồng rường và được chạm khắc hình rồng, hình mây. Đại đình gồm 6
hàng chân cột, có 60 chiếc cột, các cột đều được dựng trên những chân tảng đá xanh

đáo của kiến trúc dân tộc, giữ
được hình ảnh toàn vẹn kiểu thức
nhà sàn dân tộc được áp dụng cho
kiến trúc đình làng. Nhìn lại lịch
sử từ buổi đầu dựng nước, hình
ảnh ngôi nhà sàn còn in giữ trên
các trống đồng Đông Sơn - Một
sáng tạo của cha ông ta trong lĩnh vực kiến trúc nhà ở. Không thể đem ngôi đình đồ
sộ sau mấy mươi thế kỷ đem so sánh với
những nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn
nhưng phải nhận thấy cả hai mẫu hình này
có phong thái thống nhất, cóBộ khung Đình
Bảng sự kế thừa và phát triển truyền thống
kiến trúc được xác lập từ buổi đầu dựng
nướcĐình Bảng là một công trình kiến trúc
quy mô, nguyên trước có cả tam quan, cửa giữa xây hai trụ gạch kiểu lồng đèn cao,
hai bên có cửa cuốn tò vò giả mái, phía sau là khoảng sân rộng, hai bên là hai dãy tả
vu và hữu vu. Cũng như mọi ngôi đình khác, công trình quan trọng nhất của Đình
Đình Bảng về mặt kiến trúc nghệ thuật là toà Bái Đường (Đại Đình).
Bái Đường của đình có hình chữ nhật, dài 20m, rộng 14m chia làm bảy gian,
hai chái nằm trên nền cao bó đá xanh có hai bậc cấp. Vẻ đồ sộ của đình thể hiện qua
phần mái toả rộng chiếm 2/3 chiều cao tổng thể và 6 hàng, khoảng 60 cột lim lớn
nhỏ có đường kính từ 0,55- 0,65 mét được đặt trên các tảng đá xanh vuông vức.
Vẻ độc đáo của ngôi đình thể hiện ở sự tỏa rộng trong không gian của mái
đình, sự đồ sộ của những đầu đao, khả năng thích nghi với khí hậu, và sự sung mãn
về trang trí, điêu khắc.
Đình Bảng có kết cấu hệ kèo chồng rường, gồm bảy gian hai chái (gian phụ).
Đình cao tới 8 mét với tỷ lệ mặt đứng của phần mái lớn hơn phần thân (mái chiếm
hai phần ba chiều cao của đình) cho cảm giác bề thế. Đình lợp ngói mũi hài và có
các đầu đao vươn xa nhất trong các các công trình kiến trúc gỗ cổ truyền tại Việt

tây nam và phía đông bắc Đại đình. Nghê có tư thế ngồi xổm, hai chân trước chống
thẳng, mình có vẩy và mây cuộn. Dưới bàn tay tài hoa của người thợ xưa, hình
tượng nghê hiện ra rất sống động, tư thế trang nghiêm nhưng lại không hề cứng
nhắc.
Các bức chạm đều mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII Đặc biệt ở gian
giữa Đại đình có bức cửa võng và bức trần gỗ. Bức cửa võng rất lớn, chia thành bẩy
lớp, chín ô theo kiểu lồng hộp, trang trí dầy đặc, chạm trổ tinh vi với các chữ triện,
chữ công, các con vật như rồng, phượng, ngựa, sư tử, mây, hoa lá, các cây trong bộ
tứ quý mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Bức trần gỗ được trang trí một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status