ĐẶT VẤN ĐỀ
Ghép tạng đã thực hiện thành công tại Việt Nam vào năm 1992. Đó là
trường hợp ghép thận ở bệnh nhân suy thận mãn tính. Trải qua hơn 20 năm hình
thành và phát triển, ngành ghép tạng đã thực hiện được hầu hết các phẫu thuật ghép
cơ quan như ghép gan trẻ em, ghép gan người lớn, ghép tim, ghép tụy-thận…
Chúng ta đã xây dựng được 14 trung tâm ghép trên toàn quốc, nhưng tổng số bệnh
nhân ghép trong 20 năm đầu tiên chưa đạt 1000 ca ghép! Mặc dù chúng ta đã ghép
tạng lấy từ người cho sống, ghép tạng lấy từ người cho chết não và bắt đầu ghép
tạng lấy từ người cho chết tim (ngừng tim), nhưng số lượng bệnh nhân được ghép
mỗi năm không tăng đáng kể. Lý do quan trọng nhất của sự phát triển chậm trong
chuyên ngành nghép tạng là sự thiếu nguồn tạng. Cải thiện sự thiếu hụt nguồn tạng
là một mục tiêu cơ bản của ngành ghép tạng. Vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu
tố. Sự thiếu hiểu biết của nhân viên y tế và sinh viên y khoa là một yếu tổ quan
trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành ghép (Bardell).
Ghép tạng đã thực hiện thành công và những bệnh nhân sau ghép thận, ghép
tim, ghép gan có cuộc sống hoàn toàn khỏe mạnh và làm việc bình thường. Chất
lượng cuộc sống được cải thiện. Nếu không được ghép tạng, nhiều bệnh nhân
không thể sống được vài tuần lễ hoặc vài ngày. Riêng bệnh nhân suy thận mãn tính
có thể sống kéo dài nhiều năm với phương pháp lọc máu nhân tạo. Tuy nhiên, chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân mạn tính điều trị bằng chạy thận nhân tạo rất kém.
Họ phụ thuộc vào thuốc và phụ thuộc vào bệnh viện. Bệnh nhân suy thận giai đoạn
4 phải chạy thận nhân tạo 3 lần mỗi tuần và mỗi lần chạy thận nhân tạo mất 4 giờ.
Ghép tạng trong những trường hợp suy cơ quan giai đoạn cuối là cách thức điều trị
duy nhất ở một số trường hợp (như suy tim, cơ tim nhão, suy phổi, suy gan…)
hoặc là cách điều trị tốt nhất (suy thận, suy tụy…). Ghép cơ quan giúp cho bệnh
1
nhân sống tốt hơn và giúp cho chúng ta giảm chi phí cho bảo hiểm y tế, giảm gánh
nặng chăm sóc bệnh nhân mạn tính cho ngành y.
Mặc dù ghép tạng là phương pháp điều trị quan trọng nhưng nhiều người
hiến tạng làm tăng nguồn hiến tạng.
-Năm 1993 Wamser P và cộng sự nghiên cứu cho thấy: đào tạo không liên tục
nhân viên y tế về ghép tạng và hiến tạng làm giảm 50% nguồn hiến tạng. Tác giả
khuyên phải tổ chức đào tạo liên tục về hiến ghép tạng sẽ làm tăng số lượng tạng
hiến trong cộng đồng.
-Năm 1998, Evanisko M J và cộng sự nghiên cứu và kết luận: đào tạo bác sỹ hồi
sức, điều dưỡng hồi sức sẽ làm tăng nguồn hiến tạng từ người cho chết não và
người cho chết tim
-Năm 2005, Bardell và cộng sự nghiên cứu nhận thức và thái độ của sinh viên y
khoa tại Canada đưa ra kết luận: sinh viên y khoa thiếu nhiều kiến thức về ghép
tạng và hiến tạng.
-Năm 2005, Feeley T H và cộng sự đưa ra phương pháp đào tạo giúp sinh viên y
khoa tham gia tích cực tuyên truyền hiến tạng.
3
-Năm 2012, Issac Tawil và cộng sự khảo sát nhận thức về chết não của sinh viên y
khoa tại Bang New Mexico, Mỹ và nhận thấy, sinh viên những năm cuối có kiến
thức tốt hơn về chết não, chẩn đoán chết não, hiến tạng từ người cho chết não.
-Năm 2013, Ries và cộng sự nghiên cứu hiểu biết của sinh viên y khoa Brazil về
ghép tạng, chết não và hiến tạng đưa ra kết luận: chỉ 9,7% sinh viên y khoa cho
rằng, có thể chẩn đoán chết não. Hiểu biết của sinh viên về chết não, hiến tạng,
ghép tạng còn rất thấp.
-Năm 2013, Farahani B và Abbasi Z nghiên cứu hiệu quả của giáo dục, đào tạo tới
nhận thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng tại Irac. Ông cho rằng: đào tạo làm
tăng cường nhận thức và ảnh hưởng tích cực tới thái độ của điều dưỡng về ghép
tạng, chết não và hiến tạng.
1.1.2-Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
Chúng tôi chưa thấy nghiên cứu nào tại Việt Nam về kiến thức của sinh viên
Stanford)
- Năm 1968, ghép tụy đầu tiên bởi bác sĩ Richard Lillche and William Kelly, Đại
học Minnesota.
- Năm 1971 van tim đông lạnh được sử dụng trong ghép tạng
5
- Năm 1979, ghép tụy từ người cho cùng huyết thống tại Minneapollis
- Năm 1981 ghép tim phổi cả khối đầu tiên bởi bác sĩ Drs. Norman Shumway and
Bruce Reitz, Đại học Y khoa Stanford.
- Năm 1982, ghép tim nhân tạo (Đại học Utah)
- Năm 1984, ghép gan thận đồng thời đầu tiên bởi bác sĩ Starzl, Bệnh viện Nhi
Pittsburgh.
- Năm 1984, ghép tim từ khỉ đầu chó (Bệnh viện trường Đại học Loma Linda).
Bệnh nhân sống được 21 ngày.
- Năm 1986, Ghép thành công 2 phổi đầu tiên bởi bác sĩ Joel Cooper, Bệnh viện
Đa khoa Toronto.
- Năm 1989, ghép gan từ người cho cùng huyết thống
- Năm 1991, ghép ruột non thành công
- Năm 1998, ghép gan từ người cho sống
- Năm 2003, ghép lưỡi (người nhận chưa có vị giác nhưng đã có thể nuốt được
thức ăn lỏng)
- Năm 2005, ghép mặt lần đầu tiên do các phẫu thuật viện Pháp tiến hành.
1.2.1.2-Lịch sử ghép gan, thận và ghép tim:
Kỷ nguyên ghép tạng đã được chuẩn bị rất kỹ bằng việc ghép tạng trên động
vật. Trường hợp ghép thận đầu tiên trên thế giới thành công năm 1954 tại Hoa Kỳ
đã mở đầu một giai đoạn mới trong y học với một chuyên ngành mới: chuyên
ngành ghép tạng. Ghép tạng đã đạt được những thành tựu tiên phong trong y học.
6
quan, sau đó là khó khăn về loại thải ghép, chưa có thuốc chống loại thải ghép, giá
thuốc cao, nhiễm trùng... Nhưng vấn đề nan giải nhất là thiếu tạng để ghép. Lấy
tạng từ người sống không thể phát triển do người hiến tạng gặp rất nhiều rủi ro.
Hơn nữa, một số cơ quan không thể lấy từ người cho sống như tim, phổi... Hầu hết
các quốc gia đều gặp phải trở ngại này. Phương pháp duy nhất là lấy tạng từ người
cho chết não, người cho ngừng tim, người chết. Nhưng ngay cả phương pháp lấy
tạng từ người chết não, người chết cũng không được sự ủng hộ của ngay các các
thày thuốc, nhất là từ gia đình bệnh nhân, cộng đồng dân cư. Tại Ấn Độ, năm 1969
một số chuyên gia y tế không đồng ý lấy tạng từ người cho chết não, từ người chết
vì nhiều lý do. Đây là một rào cản lớn cho sự phát triển ngành ghép tang.
Nhu cầu cần ghép cao nhưng thiếu nguồn tạng. Sư thiếu tạng không phải xảy
ra lẻ tẻ mà xảy ra trên diện rộng. Hầu khắp các nơi trên thế giới đều rơi vào tình
trang khan hiếm tạng. Tuy nhiên, tỷ lệ hiến tạng cao thấp tùy từng quốc gia, từng
vùng và phục thuộc vào nhiều yếu tố.
Tỷ lệ người cho tạng/1.000.000 dân/năm cao nhất ở khu vực Châu Âu, trung bình
15 người hiến tạng/1 triệu dân (14/1 triệu dân ở Anh Quốc, 31,5/1 triệu dân ở Tây
Ban Nha). Tại khu vực Châu Mỹ, số lượng người hiến tạng cũng không khá hơn
với 14 người hiến tạng/1 triệu dân/năm tại Canada và 21 người hiến tạng/1 triệu
dân/năm tại Hoa Kỳ. Tại Châu Úc, chỉ 11 người hiến tạng/1 triệu dân/năm và trong
5 năm (tính từ 2003 tới 2008) số lượng người hiến tạng tại Australia không tăng
mà còn giảm đi 35%! Một dấu hiệu báo động về nguồn tạng. Châu Á có tỷ lệ hiến
tạng thấp nhất. Tỷ lệ hiến tạng tại Singapore là 8 người/1 triệu dân/năm; tại
HongKong là 4,6 người/1 triệu dân/năm; tại các nước Ả-Rập 2-4 người hiến tạng/1
8
triệu dân/năm. Ít nhất là tại Malayxia với 0,53 người hiến tạng/1 triệu dân/năm.
Theo nghiên cứu của Wong (năm 2010), trong vòng 12 năm chỉ có 162 bệnh nhân
ghép tạng được thực hiện tại Malayxia! Lý do chính cũng là do thiếu nguồn tạng,
không đủ tạng để ghép trong khi có hang chục nghìn người đang chờ đợi. Hiến
1.735 *
9
Philippines
180 #
Singapore
575 +
Malaysia
1550 #
Indonesia
?
# 1996, * 1997 , + 1998
Bảng 1.2-Số lượng bệnh nhân được ghép tạng ở nước ngoài
Thận
Gan
Tim
5
CHND Trung Hoa
11.196
48
13
4
Hong kong
461
123
18
4
Thái lan
724
61
51
-
Indonesia
482
-
-
-
10
Bảng 1.3-Luật về chết não và ghép tạng ở nước ngoài
Chết não
Ghép tạng
Nhật
1997
1997
Đài loan
1987
1987
Malaysia
-
1974
Indonesia
1995
1981
Việt nam
2007
?
1.2.2-Tình hình ghép tạng tại Việt Nam:
GhÐp thËn vµ ghÐp gan:
Lần đầu tiên chúng ta ghép thận thành công là vào ngày 4/6/1992 tại Học
viện Quân Y, Bộ Quốc phòng. Và ghép gan thành công lần đầu tiên vào năm
31/1/2004, cũng tại Học viện Quân Y, Bộ Quốc phòng. Đã gần 20 năm tính từ
11
ngày chúng ta ghép thận thành công, và luật hiến, ghép tạng từ người cho chết não
có hiệu lực từ 1/7/2007, nhưng số lượng bệnh nhân ghép của chúng ta vẫn còn rất
Chợ Rẫy. Ghép tim là phải lấy tim từ người cho chết não. Vì số người chết não
hiến tạng rất hạn chế nên số bệnh nhân ghép tim còn rất khiếm tốn. Cả nước mới
ghi nhận 11 trường hợp ghép tim thành công.
14
Hình 1.7-Hình ảnh bệnh nhân sau ghép tim 1 năm. Bệnh nhân suy tim độ IV, phải
nằm tại chỗ trước khi ghép tim
Ghép tụy thận:
Bệnh nhân được ghép đa tạng đầu tiên cũng được thực hiện tại Bệnh viện
Quân Y 103. Đó là bệnh nhân được ghép tụy-thận vào tháng 3/2014. Tại Việt
Nam, các bác sỹ đã ghép thành công nhiều tạng và kết quả rất đáng khích lệ.
1.3-Tình hình ghép tạng từ người cho chết não và từ người chết tim:
1.3.1-Tình hình ghép tạng từ người cho chết não và chết tim trên thế giới:
-Ngay sau khi kỷ nguyên ghép tạng được bắt đầu với thành công của J
Murray vào năm 1954, ngành nghép tạng phải đối mặt với khó khăn là sự đào thải
tạng ghép và thiếu tạng. Nếu như sự đào thải tạng ghép được nhanh chóng giải
quyết thì vấn đề thiếu tạng ghép lại không hề đơn giản. Rất nhiều phương án được
đưa ra từ việc thuyết phục các nhà chuyên môn đến thuyết phục các tổ chức xã hội
15
và gia đình hiến tạng. Nguồn hiến tạng từ hơn 30 năm qua chủ yếu lấy từ người
cho chết não (heart beating organ donors) vì hiến tạng từ người sống chỉ đáp ứng
5% nhu cầu ghép tạng. Thực tế, khái niệm chết não, hiến tạng từ người cho chết
não xuất hiện đã rất lâu nhưng có nhiều khó khăn và không dễ dàng được chấp
nhận ở giai đoạn đầu.
-Ngay từ năm 1960, khái niệm lấy tạng từ người cho chết não đã được đặt
-Tại Hoa Kỳ, khái niệm chết não được chấp nhận ngay sau Pháp. Năm
1968, Đại học Harvard đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán chết não. Tuy những tiêu
chuẩn chẩn đoán chết não khác nhau giữa các quốc gia, giữa các bang và giữa các
châu lục, nhưng hầu hết đều chính xác và chưa có thông báo về sự nhầm lẫn khi
chẩn đoán chết não dựa trên các tiêu chuẩn đưa ra. Và ngay lập tức số người chờ
17
ghép tăng lên đáng kể. Ngày nay lấy tạng từ người chết não đã thuận lợi rất nhiều
nhờ có dịch rửa và bảo quản thận. Nhờ có những tiến bộ trong bảo quản tạng, tạng
ghép có thể vận chuyển đến bất cứ nơi nào để ghép. Quy trình lấy đa tạng từ người
cho chết não được Stazl và cộng sự mô tả lần đầu tiên 1984 [27] cho đến nay đó
được phổ biến toàn thế giới.
-Năm 1992 trường đại học Pittsburgh đã đưa ra vấn đề lấy tạng từ người cho
tim ngừng đập. Và đến năm 1995 đánh giá kết quả ghép tạng từ người cho tim
ngừng đập: thời gian sống tạng ghép sau 1 năm là 79-86%. Thấp hơn ghép tạng từ
người cho chết não, tuy nhiên tỷ lệ tồn tại tạng ghép sau 5 năm thì không khác
nhau giữa hai nhóm này. Ngày nay, ghép tạng lấy từ người cho ngừng tim là một
trong hai nguồn hiến tạng rất quan trọng.
1.3.2-Tình hình ghép tạng từ người cho chết não và người cho chết tim tại Việt
Nam:
Ghép tạng ở Việt Nam đi sau thế giới (ghép thận thực hiện năm 1954,
ghép gan năm 1963 và ghép tim năm 1967) và khu vực khá lâu do điều kiện khó
khăn vì chiến tranh và kinh tế. Theo nguồn tin Bộ Y Tế, năm 2007 có khoảng 6000
người suy thận mạn cần ghép thận. Từ trường hợp ghép thận đầu tiên thành công
ngày 4/6/1992 ở Bệnh viện 103, đến nay cả nước đã thực hiện được hơn 700 ca
ghép thận tại 12 bệnh viện có đơn vị ghép ( Bệnh viện 103, Bệnh viện Chợ Rẫy,
Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định,
Bệnh viện Nhân Dân 115, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Nhi đồng II,
19
bằng tạng lấy từ người cho chết não, nhưng phương pháp này làm tăng thêm khả
năng điều trị cho bệnh nhân cũng như giúp cứu sống cho nhiều bệnh nhân đang
chờ ghép.
1.3-Luật hiến ghép mô tạng:
1.3.1-Luật hiến ghép mô tạng trên thế giới:
-Tại Mỹ
Năm 1984, Quốc Hội Mỹ đã thông qua bộ Luật ghép tạng quốc gia (Pub. L.
No. 98-507, sửa đổi 2 lần (Pub. L. No. 100-607 and Pub. L. No. 101-616). Bộ Luật
này cho tạo điều kiện pháp lý để tổ chức mạng lưới lấy và ghép tạng (OPTN) nhằm
nâng cao hiệu quả lấy, phân phối và các hoạt động ghép tạng. Mạng lưới liên kết
chia sẻ tài nguyên tạng ghép đã được hội đồng liên bang cho phép điều hành
OPTN.
Mỹ là một trong những nước tiến nhanh nhất trên cả thế giới trong hoạt động
hiến ghép tạng. Một trong những lý do nằm ở nhận thức của đội ngũ các nhà lãnh
đạo cấp cao và dẫn đến sự hoàn thiện khung pháp lý tương ứng. Năm 1987 có
13000 bệnh nhân chờ ghép thì đến năm 2000, con số này đã là khoảng 75000 trên
toàn nước Mỹ .Trong đó, khoảng 50000 trường hợp chờ ghép thận, 17000 chờ
ghép gan và khoảng 4000 chờ ghép tim, phổi và các tạng khác.
-Tại châu Âu:
Khi bệnh nhân có chỉ định ghép tạng sẽ được đưa vào danh sách chờ ghép.
Họ sẽ được đăng ký vào danh sách đợi ghép được quản lý duy nhất bởi trung tâm
điều hành quốc gia về ghép tạng - EFG. Toàn bộ thông số trước ghép sẽ được vi
tính hóa, kết nối với hệ thống quản lý ghép tạng của các quốc gia khác, dễ dàng
20
cập nhật, kiểm tra, đối chiếu với các đối tượng cho tạng trên lãnh thổ Pháp và châu
chia sẻ tạng ghép Nhật Bản (JNOS - Japan Network for Organ Sharing). Tuy vậy,
trên thực tế, khái niệm chết não vẫn còn khá trái ngược với nhiều quan niệm truyền
thống và sự không hài lòng từ phía gia đình người chết não vẫn là cản trở lớn đối với
quyết định hiến tạng. Ở Nhật chỉ cho phép lấy tạng ở BN chết não sau khi tim ngừng
đập.
1.3.2-Luật hiến ghép mô tạng tại Việt Nam:
Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua ‘ Luật
hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác” tức luật số 75/2006/
QH11 và cho phép thực hiện luật này từ 01/07/2007.
Bộ Y Tế ra qui định ‘ Tiêu chuẩn lâm sàng, cận lâm sàng và các trường hợp
không áp dụng tiêu chuẩn lâm sàng để xác định chết não’( Ban hành kèm theo
Quyết định số 32/2007/ QĐ- BYT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y
Tế).
Năm 2012 Bộ Y Tế ra qui định ‘ Danh mục bệnh mà người mắc bệnh không
được lấy mô, bộ phận cơ thể để ghép cho người bệnh ’(Thông tư số 28/2012/TTBYT, có hiệu lực từ 1/1/2013).
22
CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1-Đối tượng nghiên cứu:
Chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu, phỏng vấn và trả lời câu hỏi là sinh viên
đại học y Hà Nội. Tất cả những sinh viên đang học tại trường trong năm học 20142015.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia trả lời phỏng vấn:
-Sinh viên trường đại học y Hà Nội
-Sinh viên nam và nữ
-Sinh viên các chuyên ngành: đa khoa, y tế công cộng, đông y, răng hàm mặt
-Sinh viên cử nhân điều dưỡng
Tiêu chuẩn loại trừ:
của Đại học Y Hà Nội tham gia nghiên cứu. Nhóm sinh viên được tập huấn về
24
ghép tạng và cách thực hiện phỏng vấn. Nhóm sinh viên này sử dụng mẫu câu hỏi
để phỏng vấn thí điểm 20 sinh viên (số lượng phỏng vấn này không tính trong
nghiên cứu vì chỉ là phỏng vấn thử nghiệm). Sau đó nhóm nghiên cứu cùng thảo
luận và đánh giá mẫu câu hỏi nhằm sửa đổi, điều chỉnh để có được mẫu phỏng vấn
hợp lý nhất.
2.4.3-Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu:
Nhóm nghiên cứu sẽ chọn lựa một cách ngẫu nghiên sinh viên của trường đại học y
để phỏng vấn: chọn gặp sinh viên trong ký túc xá, thời gian học tại thư viện, thời
gian tự học tại giảng đường vào buổi tối. Nghiên cứu viên sẽ giải thích cho sinh
viên về mục đích nghiên cứu, hướng dẫn trả lời, không giải thích hay gợi ý về câu
trả lời, ghi nhận từng phiếu trả lời. Những trường hợp không trả lời đủ tất cả các
câu hỏi trong mẫu bị loại ra khỏi nghiên cứu hoặc những trường hợp từ chối trả lời
cũng bị loại ra khỏi nghiên cứu và không phân tích. Tuy nhiên, chúng tôi cũng
phân tích và bàn luận về giải thiết sinh viên không trả lời phỏng vấn. Sinh viên
tham gia nghiên cứu gồm sinh viên từ năm thứ 2 tới năm thứ 6, năm học 20142015.
2.5-Kỹ thuật thu thập thông tin:
2.5.1-Công cụ định lượng:
Công cụ đinh lượng là bộ câu hỏi phỏng vấn dành cho sinh viên (xem thêm
phần phụ lục). Chúng tôi xây dựng mẫu câu hỏi về ghép tạng, ghép tạng tại Việt
Nam, hiến tạng, luật hiến ghép mô tạng tại Việt Nam. Khi xây dựng mẫu phỏng
vấn, chúng tôi dựa trên thông tin liên quan tới lĩnh vực này của nước ngoài, trong
nước, luật pháp của Việt Nam. Các thông tin được ghi lại và sửa đổi cho dễ hiểu và
phù hợp với văn hóa trong nước.
25