Đề tài: “Thái độ của sinh viên ngành Tâm lý học – QTNS trường Đại học Hồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội - Pdf 11

THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ
TÀI
1. Tên đề tài: “thái độ của sinh viên ngành Tâm lý học – QTNS
trường Đại học Hồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội”
2. Cấp dự thi: Cấp khoa.
3. Nhóm sinh viên thực hiện:
Danh sách nhóm
TT Họ và tên Lớp Hình thức
tham gia
1 Phạm Thị Thúy K12B Tâm lý Chủ nhiệm đề
tài
2 Lương Thị Diệp K12B Tâm lý Thư ký đề tài
3 Lê Thị Thùy K12B Tâm lý Cộng tác viên
4 Phạm Thị Tâm K12B Tâm lý Cộng tác viên
5 Vũ Thị Thắm K12B Tâm lý Cộng tác viên
- Khoa: Tâm lý – giáo dục.
4. Giáo viên hướng dẫn: TS. Trương Văn Thành (Thành Lào)
5. Thời gian thực hiện: Từ tháng 10/2011 đến tháng 04/2012
6. Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Hồng Đức
7. Đơn vị chủ trì đề tài: Khoa tâm lý – giáo dục.

BẢNG CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO
Kí hiệu, chữ viết tắt Được hiểu là
TNXH Tệ nạn xã hội
PCTNXH Phòng chống tệ nạn xã hôi
TN Tệ nạn
HSSV Học sinh, sinh viên
QTNS Quản trị nhân sự
HĐ Hoạt động
Mục lục
2

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tệ nạn xã hội
1.3.1 Thang đánh giá
1.3.2 Các mức độ đánh giá của mặt nhận thức, thái độ,
hành vi
Kết luận chương I
Chương II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
2.1 Vài nét về trường đại học Hồng Đức
2.2 Bộ môn tâm lý giáo dục và sinh viên tâm lý học
3
(QTNS)
2.3 Thực trạng thái độ của sinh viên tâm lý học
(QTNS) đối với vấn đề tệ nạn xã hội
2.3.1 Nhận thức của sinh viên về vấn đề TNXH
2.3.1.1 Nhận thức của sinh viên về ảnh hưởng của
TNXH đối với sự phát triển cá nhân, gia đình và xã
hội
2.3.1.2 Nhận thức của sinh viên về vai trò của công tác
phòng chống TNXH
2.3.2 Thái độ của sinh viên tâm lý học (QTNS) trường
đại học Hồng Đức đối với vấn đề TNXH
2.3.3 Biểu hiện hành vi của sinh viên tâm lý học
(QTNS) trường đại học Hồng Đức đối với vấn đề
TNXH
2.3.3.1 Mức độ tích cực tham gia các hoạt động phòng
chống TNXH của sinh viên
2.3.3.2 Tính tích cực của sinh viên trong việc phát hiện
các hành vi TNXH
2.4 Nguyên nhân dẫn đến TNXH
Kết luận chương 2

mạnh mẽ đến tầng lớp thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng là
những chủ nhân tương lai của đất nước, họ là những đối tượng dễ xa vào tệ nạn xã hội.
Nếu không được định hướng, giáo dục đầy đủ thì sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.
Chúng ta đều biết thái độ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
mọi hoạt động của con người. Chủ thể có thái độ về đối tượng nào thì không những
bị thúc đẩy bởi nhu cầu, động cơ, mục đích bên trong mà còn được biểu hiện ra bên
ngoài bằng hành động cụ thể với đối tượng đã nhận thức và chi phối sự tác động
của nhân tố bên ngoài.
Có thể nói thái độ là một yếu tố có vai trò quyết dịnh đến sự thành công hay
thất bại của bất kỳ một hoạt động nào đó của con người trong cuộc sống.
Chính vì vậy, đối với tất cả mọi người nói chung và học sinh, sinh viên nói
riêng thì muốn đạt được hiệu quả cao trong mọi lĩnh vực hoạt động thì phải có thái
độ tốt đối với vấn đề đó.
5
Thái độ có vai trò quyết định quan trọng đến việc nâng cao chất lượng hiệu
quả của mọi công việc. Do đó trong mọi hoạt động nói chung và đặc biệt trong
mặt trận đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, mà lực lượng thanh niên, học sinh,
sinh viên là một bộ phận rất quan trọng góp phần tích cực trong phong trào này thì
việc nâng cao nhận thức, thái độ của học sinh, sinh viên trong vấn đề tệ nạn xã hội
là điều hết sức cần thiết. Bởi vì nếu mỗi cá nhân có thái độ tích cực sẽ nâng cao
hiệu quả của hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội ngược lại nếu không có thái độ
tích cực sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động này.
1.2.Cơ sở thực tiễn
TNXH là một vấn đề nhức nhối đã và đang diễn ra ở khắp mọi nơi
trên đất nước ta. Nó đã len lỏi vào từng ngóc ngách, đường phố, từ nông thôn
cho đến thành thị. Từ các cơ quan, phân xưởng, nhà máy, xí nghiệp cho đến
các trường học. Đặc biệt ở trường ĐHHĐ những năm gần đây đã xuất hiện
các hiện tượng TNXH như ma túy, mại dâm, lô đề, bài bạc, bạo hành… Mặc
dù các hiện tượng tệ nạn xã hội trên không phải là nhiều nhưng, chưa phải là
phổ biến nhưng đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến đời sống vật chất tinh thần

viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu thái độ của sinh viên tâm lý học (QTNS) trường Đại Học
Hồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
300 sinh viên tâm lý học (QTNS) trường Đại Học Hồng Đức, Thanh
Hóa. Trong đó:
- 80 sinh viên k11
- 100 sinh viên k12
- 80 sinh viên k13
- 40 sinh viên k14
7
5. Giới hạn của đề tài.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thái độ học tập của sinh viên tâm lý học –
quản trị nhân sự, trường Đại Học Hồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội gồm
300 sinh viên k11, k12, k13, k14.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Đọc và tìm tài liệu, sách giáo trình nhằm thu thập những thông tin, khai thác
các tài liệu có liên quan tới đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Đây là phương pháp cơ bản bao gồm: Phương pháp quan sát, phương
pháp điều tra, phương pháp đàm thoại, và phương pháp phân tích sản phẩm
hoạt động nhằm làm nổi bật thực trạng thái độ của sinh viên tâm lý trường đại
học Hồng Đức đối vối vấn đề tệ nạn xã hội.
6.2.1. Phương pháp quan sát.
Quan sát những biểu hiện hành vi của sinh viên về thái độ đối với vấn đề
ttệ nạn xã hội thông qua các giờ ra chơi, ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp trong
và ngoài trường.

N: Số lượng khách thể nghiên cứu.
Từ đó đánh giá được mức độ cao, trung bình của các mặt trong cấu trúc của
thái độ đối với sinh viên tâm lý học – QTNS, trường Đại học Hồng Đức.
7. Dự kiến cái mới của đề tài.
Khái quát được những vấn đề lý luận của đề tài.
Đánh giá dược thực trạng thái độ của sinh viên ngành Tâm lý học –
QTNS trường Đại học Hồng Đức đối với vấn đề TNXH và đề xuất một số
kiến nghị nhằm nâng cao thái độ của sinh viên tâm lý học – QTNS trường
Đại học Hồng Đức nói riêng và trong sinh viên nói chung về vấn đề TNXH.

9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
1.1.1. Trên thế giới.
Trong lĩnh vực tâm lý học xã hội ở phương tây, vấn đề thái độ luôn là vấn
đề được nhiều các nhà khoa học chú ý và nghiên cứu. Đặc biệt là các công
trình nghiên cứu về thái độ của các nhà tâm lý học người ở Nga (Liên Xô) và
Đức. Nhiều công trình nghiên cứu đã có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển
của nghành tâm lý học nói riêng và khoa học nói chung trên thế giới. Trọng
tâm của các công trình nghiên cứu này, các tác giả muốn đi sâu vào nghiên
cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc của thái độ, mối quan hệ của thái độ đối với
hành vi của con người.
Trong một nghiên cứu tổng quan khi nghiên cứu lịch sử thái độ trong tâm
lý học phương Tây, nhà tâm lý học người Nga Shikhirev P.M đã chia quá
trình này thành ba thời kỳ.
- Thời kỳ thứ nhất: (Từ khi khái niệm về thái độ được sử dụng đầu tiên
vào năm 1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai).
Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tập

các nhà nghiên cứu cũng đưa ra phương pháp nghiên cứu hình thành, thay đổi
thái độ như phương pháp “đường ống giả vờ” cho phép đo các thái độ của con
người do Edward Jones và Harold Sigall (1971) đề ra cùng “kỹ thuật lấn từng
bước một” của Janathan Freedman và Scott Fraer (1966)
Như vậy có thể thấy rằng trong suốt thời kì đầu tiên của thế kỉ 20 đến nay,
ở phương tây có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ và cùng với các
nghiên cứu đó là các phương pháp để tiếp cận và làm sáng tỏ về hiện tượng tâm
lý đặc biệt này. Bên cạnh những đạt được nó cũng tồn tại những hạn chế nhất
định. Theo Shikiew P.M hạn chế đó là sự bế tắc trong phương pháp luận trong
11
việc lý giải các số liệu thực nghiệm, không lý giải được các mâu thuẫn giữa
thái độ và hành vi, tách rời hai thái độ với hoàn cảnh xã hội và với hoạt động.
Như vậy qua nghiên cứu của tác giả Shikhirev P.M, chúng ta có thể nhận
thấy: Lịch sử nghiên cứu thái độ nói riêng và khoa học tâm lý nói chung, cũng trải
qua những thăng trầm cùng với lịch sử phát triển của con người. Nghiên cứu của
Shikhirev P.M có thể được xem là nghiên cứu vạch đường cho chúng ta khi muốn
đi sâu vào nghiên cứu thái độ ở một thời kì cụ thể nào đó
Cũng ở Liên Xô trước đây, ngoài Shikhirev P.M còn có hai tác giả được
coi là có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tâm lý học hơn cả. Đó là D.N
Uzantze với công trình nghiên cứu về “Thuyết tâm thế”, và V.A Iadov với
nghiên cứu về “Thuyết định vị”
Dựa vào thực nghiệm D.N Uzantze, đã đưa ra học thuyết tâm thế. Theo
ông tâm thế chính là trạng thái trọn vẹn của chủ thể, sẵn sàng tri giác các sự
kiện và thực hiện hoạt động theo một hướng xác định. Là cơ sở của tính tích
cực chọn lọc và có định hướng của chủ thể. Tâm thế xuất hiện khi có sự tiếp
xúc giữa các nhu cầu và các tình huống thỏa mãn nhân cách, giúp cá nhân
thích ứng với điều kiện môi trường.
Trong thuyết tâm thế ông đã nghiên cứu thái độ ở khía cạnh hành vi của
con người. Thái độ được thể hiện ở hành vi, sử dụng tâm thế để điều khiển
hành vi. Tuy nhiên ông mới chỉ đề cập đến quá trình thực hiện hóa các nhu

tâm lý thái độ là một trong những hình thức thể hiện tâm lý người. Tuy nhiên
ông lại cho rằng các quá trình tâm lý như nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, tình
cảm, ý chí… đều là thái độ. Có thể thấy việc xếp ngang hàng quan hệ với xã
hội chưa thỏa đáng. Cũng coi thuộc tính tâm lý của nhân cách là thái độ cũng
chưa có cơ sở. Tuy vậy V.N Miasev vẫn được xem là một trong những người
đặt nền móng cho tâm lý học theo quan điểm Macxit. V.N Miasev cũng đã
dùng thuyết thái độ nhân cách để sử dụng trong y học.
Gần đây khi nghiên cứu nhân cách như là một phạm trù cơ bản của tâm lý
học, V.F.lômp nhà tâm lý học xô viết đã đề cập đến thái độ chủ quan của nhân
13
cách, sự chế định của quan hệ xã hội đối với thái độ chủ quan thông qua hoạt
động và giao tiếp.
Nói tóm lại khi nghiên cứu thái độ các nhà Tâm lý học Liên Xô đã vận
dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách đối với thái độ và nhu cầu. Trong
điều kiện hoạt động của cá nhân. Coi thái độ như là một hệ thống từ đó lý giải
hợp lý và khoa học và sự hình thành thái độ, vị trí, chức năng của thái độ
trong quá trình điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân.
Ở Đức những công trình nghiên cứu về thái độ tiêu biểu là các công trình
nghiên cứu của các nhà Tâm lý học xã hội như: Vnâyzơ, V. đorxtơ… ngoài
những vấn đề truyền thống, các nhà Tâm lý học Đức còn đề cập tới kiểu định
hình thái độ, cơ chế của thái độ, coi thái độ như là một thành tố của năng suất
lao động tập thể.
Như vậy, có thể thấy rằng trong suốt thời kỳ từ đầu thế kỉ XX cho đến
nay, ở phương Tây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ và cùng
với nó cũng xuất hiện nhiều phương pháp nghiên cứu mới về hiện tượng tâm
lý đặc biệt này.
1.1.2. Ở Việt Nam.
Nghiên cứu thái độ ở Việt Nam thường gắn với các hoạt động cụ thể như
thái độ trong học tập, thái độ trong nghề nghiệp…
Những nghiên cứu không còn mang tính chung chung, trừu tượng nữa mà

dục trước những vấn đề bê bối và bất cập của ngành giáo dục trong thời gian
gần đây.
Tác giả - sinh viên Vũ Thị Thu Hiền lớp 06 CTL trường Đại học Sư Phạm
- Đại học Đà Nẵng với đề tài “thái độ của sinh viên trường đại học sư phạm
Đại học Đà Nẵng đối với vấn đề sống thử”
Tác giả Tạ Nhật Ánh với bài viết đôi điều suy nghĩ về thái độ của sinh
viên đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (năm 2006).
15
Tác giả - sinh viên Lưu Thị Lan Anh lớp 06 XH khoa khoa học xã hội
nhân văn trường Đại học Tôn Đức Thắng với đề tài “thái độ của sinh viên
trường đại học Tôn Đức Thắng đối với việc thực hiện nếp sống văn minh”.
Tóm lại ở trên thế giới và Việt Nam các công trình nghiên cứu về thái độ
có nhiều nhưng nghiên cứu về thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã
hội vẫn còn chưa được triển khai sâu rộng, nghiên cứu đang còn ở mức độ
riêng lẻ, tách bạch các tệ nạn xã hội. Các nhà nghiên cứu bước đầu mới chỉ
khái quát các vấn đề như thái độ, định nghĩa thái đô, thái độ học tập của sinh
viên… các biện pháp giúp nâng cao thái độ cho sinh viên. Ít đề cập đến vấn
đề thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội nói chung (đề cập riêng
lẻ) và thái độ của sinh viên tâm lý giáo dục trường đại học Hồng Đức nói
riêng chưa đề cập đến. Do đó vấn đề chúng tôi chọn để nghiên cứu là mới mẻ.
1.2. Một số khái niệm công cụ.
1.2.1 Các vấn đề lý luận về thái độ
1.2.1.1. Định nghĩa về thái độ.
Có nhiều định nghĩa khác nhau khi bàn về thái độ.
Theo Allport “Thái độ là trạng thái của hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản
ứng, là một trạng thái có tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá
khứ và nó điều khiển cũng như ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân.”
Năm 1971 nhà Tâm lý học người Mỹ H.C Triandis đã đưa ra một định
nghĩa khác về thái độ. Ông cho rằng “Thái độ là tư tưởng được tạo nên từ các
xúc cảm, tình cảm. Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ở một giai cấp

Tuy nhiên các nhà tâm lý học vẫn đồng ý với cấu trúc 3 thành phần của
thái độ do Smith đưa ra. Theo ông thái độ bao gồm: tình cảm, nhận thức, và
hành động của cá nhân với đối tượng
Nói tóm lại cơ chế hình thành thái độ bao gồm 3 yếu tố: nhận thức, xúc
cảm, và hành vi:
17
Trước hết nhận thức là quan điểm, niềm tin hay những ý kiến cụ thể về
một đối tượng nào đó của thái độ.
Xúc cảm (tình cảm)là những rung động biểu thị thái độ riêng của con
người đối với hiện thực khách quan, có liên quan đến việc thỏa mãn hay
không thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của bản thân.
Hành vi là những biểu hiện ra bên ngoài hay xu hướng hành động của cá
nhân với đối tượng của thái độ.
Trong mối tương quan giữa nhận thức – thái độ, xúc cảm, và hành vi thì
lĩnh hội tri thức là khâu trung tâm của mọi hoạt động. Điều này cũng giống
với quan niệm của các nhà tâm lý học Việt Nam như Nguyễn Xuân Thức,
Nguyễn Quang Uẩn, khi nghiên cứu cấu trúc của thái độ đều cho rằng Thái độ
có cấu trúc 3 mặt là Nhận thức, hứng thú, và hành vi của cá nhân.
Thái độ có chức năng thích nghi, biểu hiện giá tri, tiết kiệm trí lực, hiểu
biết, tự vệ, thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu điều chỉnh hành vi.
1.2.1.3. Đặc trưng của thái độ.
Thái độ là một thuộc tính nhân cách nó bao gồm các đặc trưng sau:
- Có sự thống nhất: Thái độ của con người là một chỉnh thể thống nhất
bao gồm các mặt: nhận thức, hứng thú, hành vi. Các mặt này có liên quan với
nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất chứ
không phải là một phép cộng trừ đơn giản của các mặt riêng lẻ. Vì vậy, khi
xem xét, đánh giá thái độ của con người với một đối tượng nào đó chúng ta
cần xem xét chúng trong mối liên hệ với các mặt của thái độ.
- Có tính không ổn định: Dưới tác động của xã hội và giáo dục thì thái độ
của con người cũng có thể thay đổi, nó có thể thay đổi theo hai chiều hướng

thì nhu cầu là cái hướng dẫn, là điều kiện hoạt động chủ quan của chủ thể
trong thế giới đối tượng khách quan.
Nhu cầu là tiền nền tảng của hành động, là nguồn gốc của tính tích cực cá
nhân, kích thích cá nhân hành động để thỏa mãn nhu cầu thông qua quá trình
thỏa mãn nhu cầu mà con người củng cố được các thành phần của thái độ
19
như: Nhận thức,cảm xúc cũng như hành vi đối với đối tượng để thỏa mãn nhu
cầu.
Như vậy thái độ và nhu cầu có mối quan hệ khăng khít với nhau. Thông
qua các biểu hiện của nhu cầu chúng ta có thể dự báo được về thái độ của
nhân cách cá nhân và ngược lại.
Thái độ và hứng thú.
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng nào đó. Có ý nghĩa
trong đời sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm. Giữa thái độ và hứng
thú có mối quan hệ chặt chẽ thống nhất với nhau. Hứng thú là một dạng thái
độ đặc biệt và thông qua hứng thú thái độ của con người được biểu hiện.
Như vậy hứng thú có vai trò quan trọng, nó làm tăng hiệu quả của hoạt
động nhận thức và hoạt động trí tuệ, làm tăng sức làm việc và làm nảy sinh
khát vọng hoạt dộng và hành động sáng tạo để chiếm lĩnh đối tượng đó. Hứng
thú càng ổn định thì thái độ càng được củng cố, con người càng ham muốn
tác động thường xuyên để chiếm lĩnh đối tượng.
Thái độ với động cơ tham gia hoạt động phòng chống tệ nạn của sinh viên.
Từ điển tâm lý học đã xác định động cơ có những nghĩa sau:
Là các kích thích hoạt động có liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu của
chủ thể và định hướng tính tích cực đó.
Là đối tượng (vật chất hay tinh thần), kích thích và qui định sự lựa chọn
hướng hoạt động và vì nó mà hoạt động được thực hiện.
Là nguyên nhân (được ý thức) là cơ sở của sự lựa chọn các hành động và
hành vi cá nhân.
Tâm lý học Macxit cho rằng: cơ chế cơ bản hình thành động cơ là thông

trải, dày dạn, nhưng cũng quá muộn để bị coi là non nớt, thơ ấu. Thế hệ sinh
viên đứng giữa hai cái đó: Họ nhìn đời một cách nghiêm trang mà không mất
21
vẻ trẻ trung, hồn nhiên, họ là thế hệ của học hỏi, rèn luyện, ước mơ. Họ là
tuổi đẹp của một con người, thế hệ đẹp của một thời đại.
Theo Kamila (CH Séc, hiện là SV)
Một SV đã, đang và sẽ luôn luôn là người học hỏi về cuộc sống, hành vi ứng
xử, nhu cầu, hy vọng, thành công và thất bại của con người từ bắt đầu của lịch sử
đến thời điểm hiện tại, như một câu nói: "Hãy nghĩ về nguồn gốc của bạn, bạn
không được tạo ra để sống chỉ như một động vật, mà là để theo đuổi những
phẩm chất và kiến thức". Đó cũng là vận mệnh của con người: học và học mãi,
cố không lặp lại sai lầm và để trở thành những người xây dựng một thế giới mới,
trong đó mọi người đều sống trong hoà bình và hạnh phúc.
Theo Camelia (SV khoa Tâm lý học, Rumani)
SV là tất cả những người cần học cái gì đó và không bao giờ ngại bỏ
công sức để theo đuổi tri thức.
Theo Manuel Benito (Tây Ban Nha)
Con người là SV suốt cả cuộc đờii mình: học để học hỏi/biết
(study to learn), và học hỏi chính là sống. Về SVVN, theo tôi, đó là thế hệ
đang cố gắng hết mình để xây lại xứ sở của họ đã nhiều nǎm bị chiến tranh
gây thương tích đầy thân thể. Tôi không biết nhiều về VN, nhưng tôi vẫn nhớ
những bức ảnh toàn những nỗi đau và nước mắt của quá khứ ở đất nước này.
Nói tóm lại có nhiều quan điểm khác nhau về sinh viên nhưng có thể
chung quy lại sinh viên chính là một người chính thức tham gia vào học tập,
đặc biệt là ghi danh vào một trường đại học, cao đẳng và theo học chương
trình đó.
1.2.3. Tệ nạn xã hội.
1.2.3.1. Định nghĩa.
Tệ nạn xã hội là một trong những biểu hiện của sai lệch xã hội. Vậy thế
nào là sai lệch xã hội. Muốn hiểu rõ vấn đề này, trước hết chúng ta cần hiểu

này thường bị xã hội lên án.
23
Dưới góc độ pháp lý, ta có thể hiểu tệ nạn xã hội như sau:
Tệ nạn xã hội là hiện tượng tiêu cực có tính lịch sử cụ thể biểu hiện bằng
những hành vi vi phạm pháp luật và sai lệch các chuẩn mực, có tính lây lan,
phổ biến gây nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong pháp luật hình sự,
pháp luật hành chính và các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Với quan niệm này, tệ nạn xã hội có 4 đặc trưng:
- Tệ nạn xã hội là những hành vi vi phạm pháp luật có tính phổ biến.
- Tệ nạn xã hội là những hành vi sai lệch có tính phổ biến đối với các
chuẩn mực đạo đức xã hội (đạo đức lối sống, tập quán tiến bộ).
- Tệ nạn là những hiện tượng nguy hiểm cho xã hội, lây lan nhanh, gây
tâm trạng xã hội nặng nề.
- Tệ nạn xã hội phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế xã hội và
tùy thuộc vào quan điểm tiếp cận. Đặc trung này chỉ ra rằng pháp luật cần
bám sát thực tiễn để có nội dung điều chỉnh phù hợp.
Tóm lại những nội dung trên ta có thể hiểu: Tệ nạn xã hội là một hiện
tượng xã hội bao gồm những hành vi làm sai lệch chuẩn mực đạo đức của
con người khiến người ta lao vào con đường phạm pháp gây vi phạm đạo đức
và pháp luật, để lại hậu quả xấu cho con người và đời sống xã hội. Những tệ
nạn xã hội xảy ra khi có mâu thuẫn, cạnh tranh giữa người với người trong
cùng một cộng động vì cuộc sống sinh nhai của mình. Vì vậy tệ nạn xã hội
cũng đang là một vấn đề làm nhức nhối các nhà chức trách và cần sớm được
loại bỏ.
1.2.3.2. Các tệ nạn xã hội
* Tệ nạn ma túy
Ma túy
- Theo nghĩa rộng: Ma túy là chất khi đưa vào cơ thể sẽ làm thay đổi chức
năng của cơ thể (Tổ chức Y tế Thế giới – WHO).
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status