Trêng §¹I HäC néi vô hµ néi
KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ YÊN THUẬN,
HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Mã số: ĐTSV.HCH2017.10
Chủ nhiệm đề tài
Lớp
Cán bộ hướng dẫn
: Ngô Thị Hương Lan
: ĐH QLNN 14A
: ThS. Phùng Thị Thanh Loan
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Trêng §¹I HäC néi vô hµ néi
KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ YÊN THUẬN,
HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Mã số: ĐTSV.HCH2017.10
Khảo sát, thu thập và
ĐH Quản lý nhà nước 14A
phân tích tài liệu
Khảo sát, thu thập tài
ĐH Quản lý nhà nước 14A
liệu
Khảo sát, thu thập tài
ĐH Quản lý nhà nước 14A
liệu
Tổng hợp bài. Khảo sát,
2
3
5
4
Ngô Thị Hương Lan
Triệu Thị Hoàng Anh
Đặng Thị Thúy Chinh
Nông Thị Huệ
Đoàn Mai Hương
thu thập tài liệu
BẢNG DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Giải nghĩa chữ viết tắt
1
BCH
Ban chấp hành
2
CCB
Cựu chiến binh
3
CNTT
Công nghệ thông tin
4
CQNN
Ủy ban Nhân dân
UDCNTT
Ứng dụng công nghệ thông tin
10
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..........................................................................................................4
LỜI CẢM ƠN...............................................................................................................5
BẢNG DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.................................................................6
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................................................9
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu cứu của đề tài.....................................................................10
2.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................................................10
2.2. Phạm vi nghiên cứu..............................................................................................................10
3. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu................................................................................................10
4. Giả thuyết nghiên cứu..............................................................................................................11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................................................11
6. Lịch sử nghiên cứu của đề tài..................................................................................................11
7. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................................13
8. Đóng góp của đề tài.................................................................................................................13
9. Cấu trúc của đề tài...................................................................................................................13
Chương 1.................................................................................................................... 14
1.1.4.Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đại biểu HĐND xã.............................................................................18
1.1.4.1.Yếu tố chủ quan................................................................................................................................. 18
1.1.4.2.Yếu tố khách quan.............................................................................................................................. 19
1. Lý do chọn đề tài
Trong bộ máy Nhà nước ta, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước
ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện ý chí, nguyện vọng của nhân
dân địa phương, thay mặt nhân dân địa phương trong việc thực thi quyền lực Nhà nước
ở địa phương. Với tính chất đó, HĐND nước ta có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả
hoạt động của bộ máy Nhà nước. Vì vậy, nâng cao chất lượng của Đại biểu HĐND xã
là một trong những nhiệm vụ rất cơ bản của quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy
Nhà nước cấp cơ sở.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: Nâng cao chất
lượng của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu
trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai
trò giám sát của Hội đồng nhân dân. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân
định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Như vậy Đảng
và Nhà nước đã có tầm nhìn chiến lược để xây dựng chính quyền địa phương vững
mạnh. Trước hết muốn xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh thì phải không
ngừng nâng cao chất lượng của Đại biểu Hội đồng nhân dân mà trước hết là ở cấp cơ
sở - cấp xã.
Cơ sở lý giải cho yêu cầu này xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của đội
ngũ đại biểu HĐND cấp cơ sở là cấp gần dân nhất, là cấp mà mỗi động thái của đại
biểu HĐND đều tác động trực tiếp tới người dân, đều có khả năng gây ra những hệ quả
hoặc tích cực hoặc tiêu cực tới thái độ và lòng tin của nhân dân vào chế độ chính trị.
Xét thấy chất lượng đại biểu HĐND xã trên phạm vi cả nước còn thiếu sót vì vậy nhu
cầu nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND xã lại càng trở nên cấp bách. Xã Yên
Thuận, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang là một trong số đó. Vì là một xã miền núi
đang trong quá trình phát triển nên còn rất nhiều vướng mắc về hoạt động của đại biểu
Hội đồng nhân dân như chưa thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo luật
định, vai trò đại diện nhân dân của từng đại biểu còn hạn chế. Và bản thân người đại
biểu trong quá trình hoạt động còn chưa thực sự gần dân, sát dân.
Do vậy, nâng cao chất lượng đại biểu HĐND trên địa bàn này là một yêu cầu
Hội đồng nhân dân từ đó đánh giá và đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng
đại biểu Hội đồng nhân dân xã Yên Thuận, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Đưa ra một số cơ sở lý thuyết về HĐND và đại biểu Hội đồng nhân dân. Xác
định tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đại biểu HĐND. Đánh giá thực
trạng hiện nay của đại biểu Hội đồng nhân dân. Từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng
cao chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân xã Yên Thuận, huyện Hàm Yên,
tỉnh Tuyên Quang.
10
4. Giả thuyết nghiên cứu
Qua quá trình khảo sát thực tế và nghiên cứu đề tài, nhóm nghiên cứu xây dựng
cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng Nhân
dân cấp xã trên sự nghiên cứu và phân tích thực trạng về đại biểu Hội đồng Nhân dân
xã Yên Thuận.
Chất lượng đại biểu HĐND xã Yên Thuận hiện nay còn thấp trên cơ sở so sánh
với tiêu chuẩn chung của cả nước và ý kiến đánh giá của người dân tại địa phương.
Giả thuyết được nhóm phân tích là làm rõ trong chương 2 của đề tài.
Phát hiện những vấn đề khó khăn, vướng mắc, chồng chéo trong hoạt động của
HĐND xã và đưa ra các giải pháp cho phù hợp.
Để nâng cao chất lượng đại biểu HĐND của xã Yên Thuận, Huyện Hàm Yên,
Tỉnh Tuyên Quang cần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan, nâng cao
hiệu quả quản lý và sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, nâng cao các giải pháp để hoàn
thiện đội ngũ đại biểu HĐND xã, đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân
dân và phát triển, hoàn thiện năng lực của đội ngũ đại biểu HĐND. Đồng thời tiếp tục
khẳng định vị trí, vai trò của HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, làm
tốt chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật. Giả thuyết này được
nhóm nghiên cứu phân tích và làm rõ ở chương 3.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
cán bộ công chức tỉnh Thái Nguyên”, do tác giả Lương Thanh Nghị thực hiện và bảo
vệ thành công năm 2004. Trong luận văn này, tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về cơ
sở lý luận và thực trạng trình độ, đánh giá năng lực của cán bộ chính quyền cấp xã ở
tỉnh Thái Nguyên, qua đó chỉ rõ những bất cập, hạn chế trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã ở các tỉnh vùng dân tộc, vùng sâu ở nước ta hiện
nay. Đồng thời nêu ra một số giải pháp thiết thực nhằm đổi mới hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã trong thời kỳ hiện nay.
- “Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam” do GS.TSKH Đào Chí Úc chủ biên, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2004. Trong đề
tài này tác giả tập trung phân tích và kiến nghị về mô hình tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương trong đó đặc biệt chú ý đến mô hình của Hội đồng Nhân dân
cấp xã.
Các công trình khoa học nói trên cho thấy vấn đề đổi mới nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị cơ sở đã được các nhà khoa học đề cập ở các khía cạnh và với các
mức độ khác nhau nội dung đã phần nào làm rõ vai trò của nâng cao chất lượng đại
biểu Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cho đến nay vẫn tồn tại một
khoảng trống trong vấn đề nghiên cứu về chất lượng của chính đội ngũ đại biểu Hội
đồng nhân dân xã. Đặc biệt, từ góc độ của khoa học pháp lý, hiện chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và xuất phát từ thực tiễn về yêu cầu và
12
giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân ở xã. Đó
cũng chính là một trong những lý do để nhóm chúng tôi chọn đề tài “Nâng cao chất
lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã Yên Thuận, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang” nhằm cung cấp tư liệu thực tế cho hoạt động nghiên cứu về chất lượng đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nói chung, đồng thời nâng cao chất lượng đại biểu Hội
đồng nhân dân xã Yên Thuận nói riêng.
7. Phương pháp nghiên cứu
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Hội đồng nhân dân và Hội đồng nhân dân xã
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Hội đồng nhân dân là tổ chức thuộc hệ
thống chính quyền nhà nước ở các địa phương trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Được
thành lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở 3 cấp hành chính: tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (gọi tắt là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc
tỉnh (gọi tắt là cấp huyện); xã, phương, thị trấn trực thuộc cấp huyện (gọi tắt là cấp xã);
theo Sắc lệnh số 63/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 22.11.1945 và được quy định
trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 của Nhà nước Việt Nam”
Theo Khoản 1, Điều 113, Hiến pháp 2013 “Hội đồng nhân dân là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên”
Khoản 1, Điều 6, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định:
“Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu
ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan
nhà nước cấp trên.”
Theo đó: HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, bao gồm các đại biểu
HĐND do cử tri ở xã bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng , quyền làm chủ của
Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân trong xã cũng như cơ quan nhà nước
cấp trên.
1.1.1.2. Đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân xã
Theo quy định tại Điều 115 Hiến pháp năm 2013, đại biểu Hội đồng nhân dân là
người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với
cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt
động của mình và Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị.
Theo Khoản 2, Điều 5, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 : Đại biểu
Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa
hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân
dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động Nhân dân thực hiện
Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân,
động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước”.
15
Đại biểu HĐND xã cử tri tin tưởng bầu ra, là cầu nối giữa nhân dân với Nhà
nước. Đại biểu được nhân dân tin tưởng bầu làm người đại diện cho ý chí, nguyện
vọng của mình. Làm đại biểu dân cử là rất vinh dự nhưng trách nhiệm trước cử tri và
nhân dân cũng rất nặng nề. Đáp lại sự tin tưởng đó, đại biểu phải hát huy tốt vai trò,
thực hiện tốt nhiệm vụ tiếp xúc, báo cáo cử tri về hoạt động của mình, trả lời những
yêu cầu , kiến nghị của cử tri, cần phải xem xét, đôn đốc giải quyết các khái nại, tố cáo
của nhân dân, không những thế còn phải phổ biến pháp luật đến toàn thể nhân dân
trong xã. Đây chính là nhân tố có ý nghĩa quyết định góp phần làm cho Hội đồng nhân
dân xã hoạt động có hiệu quả.
Có thể thấy, vị trí, vai trò của đại biểu HĐND là vô cùng quan trọng. Nhất là
đối với HĐND xã – cơ quan quyền lực nhà nước gần dân, sát dân nhất.
1.1.3. Tiêu chí đánh giá chất lượng đại biểu HĐND xã
Căn cứ vào tình hình nghiên cứu của đề tài cũng như tình hình thực tế tại địa
phương, có thể đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã
như sau:
Thứ nhất, đại biểu HĐND xã phải đáp ứng được tiêu chí về phẩm chất chính trị.
Phẩm chất chính trị của đại biểu Hội đồng Nhân dân xã là tổng hợp các đặc tính cá
nhân đại biểu về mặt chính trị, bao gồm các yếu tố cơ bản: Nhận thức chính trị, thái độ
chính trị và hành vi chính trị. Nhận thức chính trị của người đại biểu Hội đồng Nhân
dân xã là sự hiểu biết và tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm
chính trị, nền tảng tư tưởng chính trị, mục đích, lý tưởng của Đảng. Thái độ chính trị
chuyên môn nghiệp vụ của đại biểu. Đây là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh
vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học.
Nếu thiếu kiến thức chuyên môn sẽ khó khăn khi giải quyết công việc, ảnh hưởng đến
hoạt động của người đại biểu.
Thứ năm, đại biểu HĐND cần phải đáp ứng yêu cầu về trình độ văn hóa. Trình
độ văn hóa là một khái niệm động nó phản ánh khả năng nhận thức và hoạt động cải
tạo thực tiễn của con người. Trình độ văn hóa hay trình độ giáo dục phổ thông của đại
biểu. Ví dụ: Lớp 10/10 (đối với người tốt nghiệp lớp 10 hệ 10 năm); lớp 12/12 (đối với
người tốt nghiệp lớp 12 hệ 12 năm).
Thứ sáu, đại biểu HĐND cũng cần phải có uy tín, kinh nghiệm công tác . Người
đại biểu có uy tín, kinh nghiệm là người làm việc lâu năm, gương mẫu thực hiện tốt
các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực sự là
“cầu nối” đưa những chủ trương, chính sách đến với bà con vùng sâu, vùng xa, vùng
còn nhiều khó khăn, được nhân dân và cấp trên tin tưởng.
Thứ bảy, cơ cấu về giới tính cũng là một trong những tiêu chí nâng cao chất
lượng đại biểu HĐND xã. Giới tính chi phối những hành vi, cử chỉ, tư thế, tác phong,
nếp sống của con người. Những đặc điểm giới tính về sinh lý, tâm lý làm cho hành vi,
17
cử chỉ, tư thế, tác phong, nếp sống của nam có nhiều có nhiều đặc điểm khác biệt so
với nữ: khác biệt trong dáng điệu, cách đi đứng, thói quen trong sinh hoạt, “lời ăn
tiếng nói” và thể hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào phong tục, tập quán, đạo đức xã hội.
Hội đồng nhân dân phải có người đại diện cho các tầng lớp, các nhóm xã hội, trong đó
bao gồm cả phụ nữ. Sự tham gia của các đại biểu nữ trong các cơ quan quyền lực này
là cần thiết và có một tỷ lệ thích đáng không chỉ vì họ là một tầng lớp trong xã hội mà
còn bởi phụ nữ chiếm tỷ lệ hơn 50% dân số.
Thứ tám, tiêu chí dân tộc của đại biểu cũng cần quan tâm. Nước ta có 54 dân
tộc, mỗi dân tộc lại có một nền văn hóa khác nhau. Chính điều này, ảnh hưởng đến
vụ, thì đại biểu không có định hướng làm việc, dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền hay
không hoàn thành nhiệm vụ.
Khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin, công việc là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến chất lượng đại biểu. Thông qua các hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân
cũng như các hoạt động hàng ngày của mình, đại biểu cần biết cách thu thập và xử lý
thông tin của mọi lĩnh vực đời sống ( kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng). Làm được điều này, người đại biểu sẽ có được thêm nhiều kiến thức, kinh
nghiệm thực tế để áp dụng vào hoạt động thực thi công việc, nhiệm vụ của mình, của
HĐND.
Độ tuổi, giới tính, lối sống và sức khỏe chi phối những hành vi, tác phong của
người đại biểu.
1.1.4.2.Yếu tố khách quan
Các chính sách phúc lợi như: chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe đại biểu,
chính sách sử dụng, bổ nhiệm đại biểu, chính sách về tập huấn, đào tạo, chính sách bảo
hiểm xã hội, chính sách tiền lương,..đều có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đại biểu.
Như chính sách chăm sóc sức khỏe tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao thể trạng
và chất lượng đại biểu.
Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ việc thực thi công vụ cũng là một yếu tố góp
phần quan trọng nâng cao chất lượng đại biểu HĐND. Cơ sở vật chất, kỹ thuật bao
gồm tất cả các trang thiết bị, công nghệ, giải pháp kỹ thuật phục vụ quá trình giám sát
tại kỳ họp. Các tài liệu được thể hiện trên các dạng vật chất truyền thống như: giấy,
đĩa, băng Video... cũng cần có hệ thống chủ động cung cấp đầy đủ, kịp thời. Cơ sở vật
chất, kỹ thuật không chỉ phục vụ tại kỳ họp, mà còn phải phục vụ cho việc tiếp xúc cử tri,
tiếp công dân, xử lý và tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, hoạt động giám sát của đại biểu.
1.1.5. Yêu cầu cụ thể nâng cao chất lượng đại biểu HĐND xã
Trong cùng một cơ cấu đại biểu phải chọn người có trình độ tốt nhất, có uy tín
nhất. Nâng cao chất lượng đại biểu phải nâng cao trên các phương diện:
Về chuyên môn: đại biểu phải nâng cao, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, chất
lượng thực thi công việc.Để đạt được điều này, bản thân người đại biểu cần phải tự rèn
cáo HĐND xã để bãi nhiệm đại biểu HĐND xã đó.
Trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND xã
Đại biểu HĐND xã phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình,
chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến,
nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực
20
hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động
của mình và của HĐND xã nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị
của cử tri.
Sau mỗi kỳ họp HĐND xã, đại biểu HĐND xã có trách nhiệm báo cáo với cử tri
về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND xã, vận động
và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.
Trách nhiệm của đại biểu HĐND xã trong việc tiếp công dân, tiếp nhận
và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân
Đại biểu HĐND xã có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật.
Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu HĐND xã có trách
nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo
cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải
quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu HĐND xã về kết
quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn do pháp luật
quy định.
Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không
đúng pháp luật, đại biểu HĐND xã có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu HĐND xã yêu
cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức,
đơn vị đó giải quyết.
Quyền chất vấn của đại biểu HĐND xã
khai mạc kỳ họp tiếp theo hoặc đến trước ngày tiến hành phiên họp HĐND xã về nội
dung có liên quan trong trường hợp đại biểu HĐND xã kiến nghị HĐND xã tổ chức
phiên họp kín.
Đại biểu HĐND xã có quyền kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng
biện pháp cần thiết để thực hiện Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà
nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Quyền của đại biểu HĐND xã khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu HĐND xã có quyền
yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời
chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật .
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của đại biểu HĐND xã
quy định, cơ quan, tổ chức phải giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu
HĐND biết. Quá thời hạn này mà cơ quan, tổ chức không trả lời thì đại biểu HĐND có
quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên xem xét, giải quyết.
Quyền của đại biểu HĐND xã trong việc yêu cầu cung cấp thông tin
22
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu HĐND xã có quyền
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những
vấn đề mà đại biểu HĐND xã yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Quyền miễn trừ của đại biểu HĐND xã
Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu HĐND xã, khám xét nơi ở và nơi
làm việc của đại biểu HĐND xã nếu không có sự đồng ý của HĐND xã hoặc trong
thời gian HĐND xã không họp, không có sự đồng ý của Thường trực HĐND xã.
Trường hợp đại biểu HĐND xã bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm
Nhân dân xã.
Đại biểu HĐND xã hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất một phần
ba thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND
xã. Thời gian làm việc trong năm mà đại biểu HĐND xã hoạt động không chuyên
trách dành cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu được tính vào thời gian làm việc của
đại biểu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị mà đại biểu làm việc và được bảo đảm trả lương,
phụ cấp, các chế độ khác. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm
việc có trách nhiệm sắp xếp công việc, tạo điều kiện cần thiết cho đại biểu HĐND xã
làm nhiệm vụ.
Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
của đại biểu HĐND xã.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tạo
điều kiện để đại biểu HĐND xã tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến
nghị của nhân dân với HĐND xã.
Đại biểu HĐND xã được cấp hoạt động phí hằng tháng và được hỗ trợ các điều
kiện cần thiết khác cho hoạt động đại biểu.
Luật đã quy định số lượng đại biểu HĐND xã ( Điều 32) :
“ 1. Hội đồng nhân dân xã gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở xã
bầu ra.
Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã được thực hiện theo
nguyên tắc sau đây:
a) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ một nghìn dân trở xuống được bầu
mười lăm đại biểu;
b) Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên một nghìn dân đến hai nghìn dân
được bầu hai mươi đại biểu;
24