LUẬN VĂN:
Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
MỞ ĐẦU
Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp có thể được triển khai từ nhiều
khâu, với nhiều cấp độ. Một trong những hướng của sự đổi mới chính là yêu cầu không
ngừng nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND mà trước hết là ở cấp cơ sở - cấp xã. Cơ
sở lý giải cho yêu cầu này xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ đại biểu
HĐND cấp cơ sở là cấp gần dân nhất, là cấp mà mỗi động thái của đại biểu HĐND đều
tác động trực tiếp tới người dân, đều có khả năng gây ra những hệ quả hoặc tích cực
hoặc tiêu cực tới thái độ và lòng tin của nhân dân vào chế độ xã hội, chế độ nhà nước.
Nhu cầu nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã lại càng trở nên cấp bách
nếu đặt trong bối cảnh thực trạng chất lượng của đại biểu HĐND xã trên phạm vi cả nước
nói chung, ở từng địa bàn cụ thể nói riêng. Có thể lấy địa bàn huyện Kim Động, tỉnh
Hưng Yên là một ví dụ điển hình. Thực tế trong những năm qua chất lượng của đại biểu
HĐND cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên đã đạt được một số kết quả đáng khích
lệ như các đại biểu HĐND đã được nâng cao về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức,
đặc biệt là về kỹ năng công tác trong hoạt động đại biểu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt
động của đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Kim Động vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém như
chưa thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo luật định, vai trò đại diện nhân
dân của từng đại biểu còn hạn chế. Do vậy, nâng cao chất lượng đại biểu HĐND cấp xã
trên địa bàn này là một yêu cầu cần thiết.
Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu lại chưa được triển khai đúng mức khiến
cho nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND cấp
xã còn bị bỏ ngỏ. Đề tài luận văn“Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” được lựa chọn chính là nhằm góp phần khắc phục
khoảng trống trong hoạt động nghiên cứu, góp thêm căn cứ để xây dựng các luận cứ
khoa học cho việc nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều cuốn sách, bài viết và một số đề tài khoa
học đề cập thực trạng và các giải pháp liên quan đến chất lượng, năng lực của đại biểu
HĐND cấp xã. Có thể nêu một số công trình điển hình sau:
- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam” do
PGS.TS. Lê Minh Thông, PGS. TS Nguyễn Như Phát đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc
đồng thời nhấn mạnh vai trò và vị thế của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh qua hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, từ đó đã đề cập yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động
của Hội đồng nhân dân ở nước ta hiện nay.
- Luận án tiến sĩ “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng sông
cửu long hiện nay”, của Phạm Công Khâm. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ
thống về thực trạng trình độ, năng lực, đặc thù của cán bộ chủ chốt cấp xã ở một số tỉnh
phía nam nước ta.
- Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ công chức tỉnh Thái Nguyên”, do tác giả Lương Thanh Nghị thực hiện và bảo vệ
năm 2004. Tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lý luận và thực trạng trình độ,
năng lực của cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Thái Nguyên, qua đó chỉ rõ những bất
cập, hạn chế trong thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã ở các tỉnh
vùng dân tộc, vùng sâu ở nước ta hiện nay, đồng thời nêu ra một số giải pháp thiết thực
để đổi mới hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã trong thời kỳ mới.
Sự thống kê một cách sơ lược về các công trình khoa học nói trên cho thấy vấn đề
đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở đã được các nhà khoa học đề cập ở
các khía cạnh và với các mức độ khác nhau. Đặc biệt, liên quan trực tiếp tới chủ đề của
luận văn này là vấn đề về năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ chính
quyền cấp xã đã được soi sáng ở mức độ nhất định.Với kết quả nghiên cứu đạt được,
các công trình nghiên cứu nói trên đã cung cấp những tư liệu vật chất rất cần thiết cho
việc triển khai các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này theo hướng đẩy sâu hơn những
nội dung đã được đề cập.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cho đến nay vẫn tồn tại một khoảng trống trong nghiên
cứu về chất lượng của chính đội ngũ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Đặc biệt, từ góc độ
của khoa học pháp lý, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống
và xuất phát từ thực tiễn về yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp xã. Đó cũng chính là một trong những lý do để học viên xác định chủ
đề của luận văn thạc sĩ luật học “Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện
thông qua.
-Về phạm vi thời gian: luận văn khảo sát, phân tích làm rõ chất lượng hoạt động
của đại biểu Hội đồng nhân dân các xã, thị trấn ở huyện Kim Động giai đoạn 1999 đến
nay, trong đó tập trung chủ yếu vào nhiệm kỳ 2004-2011.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện bộ máy
Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
như phương pháp lịch sử, phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích, tổng
hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê…
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Thông qua các nội dung nghiên cứu, luận văn góp phần làm rõ về mặt lý luận và
thực tiễn quy định của pháp luật về vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ, chất lượng hoạt
động của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Luận văn góp phần tổng kết, đánh giá thực trạng chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần vào việc hoàn thiện cơ sở lý luận cho việc nâng cao chất lượng
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Từ đó, giúp cho
cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh có quy hoạch, kế hoạch và phương pháp phù hợp trong chỉ
đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả về việc nâng cao chất lượng của đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã huyện Kim Động phù hợp theo yêu cầu đổi mới.
Luận văn được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách,
các nhà quản lý, sinh viên các trường luật, các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, đồng
cấp xã và UBND cấp xã. Như vậy, HĐND xã, phường, thị trấn là bộ phận cấu thành không
thể tách rời của chính quyền cấp cơ sở ở nước ta hiện nay.
HĐND cấp xã ở Việt Nam là một hình thức tổ chức quản lý xã hội theo kiểu mới,
là hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân trong xã. Hội đồng nhân dân
cấp xã do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho nhân dân trong xã, đồng thời đại
diện cho chính quyền nhà nước cấp trên. Trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn hoạt động quản lý, HĐND cấp xã có thể
được nhận diện từ những khía cạnh khác nhau. Nhưng về cơ bản, căn cứ vào nhận thức
chung về HĐND đã được xác định trong Luật tổ chức HĐND và UBND cũng như căn
cứ vào tính đặc thù của địa bàn cơ sở, có thể nêu khái niệm HĐND cấp xã như sau:
Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương, bao gồm
các đại biểu do nhân dân trong xã trực tiếp bầu ra đại diện cho nhân dân toàn xã, có toàn
quyền quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội tại địa phương theo quy định của pháp luật,
chịu trách nhiệm trước nhân dân trong xã và chính quyền nhà nước cấp trên.
Cũng giống như HĐND các cấp, HĐND cấp xã có hai chức năng:
Một là, chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về xây dựng, phát triển
địa phương thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương. Cụ thể:
- Trong lĩnh vực kinh tế, HĐND xã quyết định:.
+ Biện pháp thực hiện việc phát triển kinh tế-xã hội hàng năm nhằm phát huy
mọi tiềm năng của địa phương.
+ Dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa
phương; các chủ trương biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương trong
trường hợp cần thiết;
+ Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương; biện pháp quản
lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích địa
phương;
+ Biện pháp khuyến khích, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây
trồng vật nuôi theo quy hoạch chung;
+ Biện pháp bảo đảm thi hành hiến pháp, Luật các văn bản của cơ quan nhà nước
cấp trên ở địa phương;
+ Biện pháp bảo hộ tính mạng tài sản, tự do danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi
ích hợp pháp khác của công dân tại địa phương;
+ Biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của nhà nước, bảo hộ tài sản của tổ chức chính
trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ở địa phương;
- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính,
HĐND cấp xã quyết định: + Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó chủ
tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp;
+ Bãi nhiệm đại biểu HĐND, chấp nhận việc đại biểu HĐND cùng cấp xin thôi
làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;
+ Bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp;
+ Thông qua đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương để đề
nghị cấp trên xem xét quyết định.
Hai là, chức năng giám sát. Cụ thể:
- Giám sát hoạt động của Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; giám sát
thực hiện nghị quyết HĐND, việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước, của các tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công
dân ở địa phương.
- HĐND xem xét báo cáo của Chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; Xem xét việc trả lời
chất vấn của người bị chất vấn. Trong trường hợp cần thiết, giao cho Chủ tịch HĐND
và đại biểu HĐND giúp HĐND giám sát việc thi hành pháp luật, nghị quyết của HĐND
và báo cáo của UBND tại kỳ họp gần nhất.
- Trong quá trình thực hiện giám sát, Chủ tịch HĐND, đại biểu HĐND có quyền
yêu cầu các cơ quan nhà nước có liên quan, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội,
tổ chức kinh tế cung cấp tài liệu thông tin cần thiết; khi phát hiện có sai phạm thì đại
biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đình chỉ ngay hành vi vi
cấp trên. Đại biểu HĐND xã thay mặt cho cử tri của mình để quyết định những vấn đề
tại địa phương, đồng thời lắng nghe ý kiến của cử tri, chuyển những kiến nghị của cử tri
đến tổ đại biểu HĐND và Thường trực HĐND cấp xã để tổng hợp báo cáo trước
HĐND, gửi tới cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Như vậy, đại biểu HĐND cấp xã là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước ở
địa phương, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa
phương. Đại biểu HĐND cấp xã vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, vừa
chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về mọi mặt kinh tế - xã hội, đảm bảo
thực hiện Hiến pháp, Luật và các quyết định của cơ quan nhà nước tại địa phương. Trong
hoạt động, đại biểu HĐND cấp xã thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước,
quyết định các vấn đề quan trọng để phát huy các tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, biến ý chí quyền lực của nhân dân trên địa bàn trở thành quyền
lực nhà nước, thể hiện bằng các quyết định của Nhà nước, thực hiện quyền giám sát việc
tuân theo pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và của các cơ quan nhà nước, các tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân đóng tại địa phương. Về thực chất,
đại biểu HĐND cấp xã là người thực hiện quyền lực nhân dân theo phương thức thay mặt
cử tri trên phạm vi địa bàn cơ sở. Bản thân quyền lực của người đại biểu HĐND cấp xã
có được là do nhân dân trao cho. Đại biểu HĐND cấp xã được hình thành theo nguyên tắc
bầu cử trực tiếp của cử tri.
Từ cách nhìn nhận đó, có thể thấy đại biểu HĐND cấp xã có một số đặc điểm sau:
* Đại biểu HĐND cấp xã là nhân tố cấu thành cơ quan duy nhất ở địa bàn xã do
cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Do đó,
đại biểu HĐND cấp xã là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân
trong xã, đại diện cho trí tuệ tập thể của cử tri.
Tính đại diện nhân dân của đại biểu HĐND cấp xã được thể hiện ở những điểm
sau:
- Được nhân dân trong xã trao quyền thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân
thông qua các quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước.
Đồng thời phải có nghĩa vụ trả lời đại biểu HĐND khi có kiến nghị của đại biểu.
Đây là hoạt động gắn liền với chức trách đại biểu của đại biểu HĐND. Để hoạt
động của đại biểu có hiệu quả, pháp luật đưa ra những quy định cần thiết, tạo khả năng
thực tế cho đại biểu thực hiện đầy đủ tính đại diện nhân dân, thực thi quyền lực nhà
nước trong hoạt động HĐND ở đơn vị bầu cử. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm khoá
IX Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống
chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn, đã nhấn mạnh:
Đổi mới cơ chế bầu cử, bảo đảm cho dân đề cử, ứng cử, lựa chọn các
đại biểu HĐND thực sự là người đại diện cho dân, tăng thêm số lượng đại
biểu HĐND so với hiện nay, tăng tỷ lệ thích đáng đại biểu HĐND là người
ngoài Đảng; tăng số kỳ họp và nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND [16].
* Đại biểu HĐND cấp xã thực hiện hoạt động đại biểu trong khuôn khổ những
quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định. Đại biểu HĐND cấp xã có các quyền hạn và trách nhiệm sau:
Một là, quyền và nghĩa vụ trong tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã:
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền và nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp,
HĐND;
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền bầu cử và ứng cử trong các cơ quan của
HĐND;
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền đề nghị đưa vào chương trình của kỳ họp những
vấn đề mà đại biểu HĐND xem xét thấy cần thiết để HĐND cấp xã xem xét quyết định. Ý
kiến của đại biểu phải được ghi vào biên bản kỳ họp;
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, và
các thành viên của UBND và Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn khác thuộc UBND
cấp xã. Người bị chất vấn phải có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu HĐND
chất vấn theo thủ tục pháp luật quy định;
- Đại biểu HĐND cấp xã được bầu vào các cơ quan tổ chức của HĐND. Đại biểu
khiếu nại, tố cáo của các công dân trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền yêu cầu gặp lãnh đạo các cơ quan, tổ chức.
Người có thẩm quyền phụ trách cơ quan phải có trách nhiệm tiếp và giải quyết các yêu
cầu đó;
Các cơ quan Hành chính nhà nước và các cán bộ nhà nước trong phạm vi thẩm
quyền có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp tư liệu, thông tin, địa điểm tiếp xúc cử tri,
phương tiện giao thông cho hoạt động đại biểu HĐND;
- Đại biểu HĐND cấp xã có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể trong hoạt động đại biểu HĐND.
Bốn là, quyền của đại biểu HĐND cấp xã trong tăng cường pháp chế
Đảm bảo tăng cường và pháp chế là đòi hỏi đối với mọi tổ chức, cơ quan, cán bộ,
công chức và mọi công dân. Vì vậy, đại biểu vừa phải trực tiếp tiến hành mọi hoạt động
thuộc phạm vi chức năng, quyền hạn của HĐND cấp xã theo đúng quy định của pháp
luật, vừa có nghĩa vụ tham gia phát hiện đấu tranh mọi hành vi vi phạm pháp luật, cụ
thể: - Đại biểu HĐND cấp xã có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về việc thi
hành chính sách, pháp luật và những vấn đề thuộc lợi ích chung của cộng đồng dân cư
tại cơ sở.
- Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu tổ chức, cơ quan nhà nước chấm dứt những việc làm
sai trái, vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân.
1.1.2. Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Đơn vị hành chính cấp xã là nơi hàng ngày, hàng giờ diễn ra các mối quan hệ trên
mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội mà các cơ quan nhà nước cấp trên không thể giải
quyết hết được. Bởi vậy, ở đó phải đặt ra bộ máy chính quyền cơ sở, xem đó là mắt xích
quan trọng của hệ thống tổ chức nhà nước từ Trung ương đến địa phương, hoạt động
theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ở nước ta, vị trí, vai trò của HĐND cấp xã luôn được đề cao trong suốt quá trình
xây dựng và phát huy vị thế của HĐND cấp xã. Kể từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ
đóng thì xã vẫn có HĐND, vẫn là đơn vị hành chính cơ sở hoàn chỉnh.
Sau ngày miền Bắc giải phóng (năm 1954), trước yêu cầu của nhiệm vụ mới đòi
hỏi phải chấn chỉnh và tăng cường bộ máy chính quyền các cấp, vào đầu năm 1958,
Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương. Theo đó, thì đơn vị hành
chính cấp cơ sở gồm có: xã, thị trấn, khu phố đều có tổ chức HĐND và Uỷ ban hành
chính.
Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức HĐND nhân dân và Uỷ ban hành chính năm
1962 tiếp tục xác định đơn vị hành chính cơ sở gồm có: Xã, thị trấn, thị xã thuộc tỉnh,
khu phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương. Xã và cấp tương đương có HĐND và
Uỷ ban hành chính.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất, tại kỳ họp thứ
nhất Quốc hội khoá VI đã thông qua Nghị quyết về tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước dựa trên cơ sở Hiến pháp năm 1959. Tại điểm 3 của nghị quyết quy định ở địa
phương có các cấp chính quyền sau:
- Tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương
- Huyện, khu phố, quận, thành phố và thị xã thuộc tỉnh.
- Xã và cấp tương đương (thị trấn, phường)
Ở tất cả các cấp chính quyền đều có HĐND và UBND. Ngày 18/12/1980. Quốc hội khoá VI kỳ họp thứ 7 thông qua bản Hiến pháp mới
của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 13 Hiến pháp 1980 quy định các
đơn vị hành chính trong đó có cấp xã và tương đương, các cấp hành chính đều có
HĐND và UBND.
Ngày 30/6/1983 Quốc hội thông qua Luật Tổ chức HĐND và UBND trong Luật
quy định rõ việc tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã.
Hiến pháp năm 1992 quy định bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được chia thành 4 cấp: Cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; và cấp xã, phường, thị trấn.
Như vậy, trong lịch sử xây dựng và phát triển hệ thống chính quyền cách mạng ở
nẩy sinh từ thực tiễn quá trình thực hiện chính sách, pháp luật tại địa phương, kiểm
nghiệm tính đúng đắn, phù hợp trong những quyết định của cơ quan cấp trên cũng như
kịp thời phát hiện những vấn đề mới nẩy sinh tại cơ sở.
Trong cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo
việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân,
nông dân và tầng lớp trí thức, xây dựng nhà nước Việt Nam thật sự là nhà nước của dân,
do dân và vì dân. Tư tưởng xuyên suốt của Người luôn yêu cầu các cơ quan nhà nước
phải lấy dân làm gốc, xem nhân dân là người chủ thực sự của đất nước và đảm bảo để
nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp. Từ cuộc
bầu cử HĐND cấp xã khoá đầu tiên vào tháng 4 năm 1946 cho đến nay, tổ chức và hoạt
động của HĐND xã luôn được củng cố, hoàn thiện theo hướng ngày càng phát triển để
đảm bảo đúng đặc trưng là một cơ quan quyền lực, đại diện chân chính cho nguyện
vọng, ý chí của tất cả nhân dân trên địa bàn xã. Thực tiễn trong từng giai đoạn cách
mạng Việt Nam đã chứng minh: nếu đảm bảo vị trí, vai trò của đại biểu HĐND trong
chính quyền cấp xã thì sẽ hạn chế được rất nhiều những tiêu cực phát sinh trong đời
sống xã hội và trong quản lý nhà nước, giảm bớt những vụ việc khiếu kiện lên cấp trên
và sẽ tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, công sức của nhân dân.
Hơn 7 thập kỷ qua, từ khi nhà nước dân chủ cộng hoà Việt Nam ra đời đến nay,
Đảng ta luôn coi trọng vị trí, vai trò của HĐND cấp xã là nền tảng cấu trúc chiến lược
trong xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở. Do vậy, cho đến nay vị trí, vai trò của đại
biểu HĐND cấp xã luôn được tăng cường thông qua quá trình hoàn thiện và nâng cao vị
thế thực quyền của cơ quan quyền lực nhà nước cấp cơ sở. Trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước, đại biểu HĐND cấp xã đã và đang phát huy vai trò của mình trong
thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
ở từng địa bàn dân cư. Điều đó cho thấy đã có sự lớn mạnh và biến đổi sâu sắc về số
lượng và nâng lên chất lượng cả phẩm chất, năng lực, nhận thức của người đại biểu theo
yêu cầu, nhiệm vụ ở cấp cơ sở.
1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG
năng lực tư duy lý luận mà không có năng lực tổ chức thực tiễn thì năng lực tư duy lý
luận dần dần bị xơ cứng, giáo điều, thoát ly thực tiễn, thoát ly cuộc sống, dễ rơi vào chủ
nghĩa chủ quan, duy ý chí.
Người đại biểu HĐND luôn gần gũi với nhân dân địa phương bầu ra mình, lắng
nghe và truyền tải ý chí, nguyện vọng của cử tri đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
biến ý chí của nhân dân địa phương thành các quyết định quản lý nhà nước. Điều đó đòi
hỏi đại biểu HĐND xã phải là người có trình độ, năng lực mới có thể hoạt động toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Bởi vậy, ngoài các yếu tố trên, người đại biểu HĐND còn cần phải có tính sáng tạo, tính
quyết đoán, khả năng làm việc độc lập cũng như khả năng làm việc tập thể cao.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu, chất lượng của đại biểu HĐND là một tổ hợp các
khả năng của đại biểu giúp cho họ đạt được kết quả cao nhất khi thực hiện các chức
năng thuộc thẩm quyền của người đại biểu HĐND. Theo nghĩa đó, chất lượng của đại
biểu HĐND cấp xã là một tổ hợp các yếu tố mang thuộc tính cá nhân giúp cho đại biểu
HĐND cấp xã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao tại địa bàn cấp xã. Từ đó,
có thể nhận diện các yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng đại biểu HĐND cấp xã như sau:
- Chất lượng tư duy lý luận: Là tổng thể các phẩm chất trí tuệ của người đại biểu có
thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn về những vấn đề thực
tiễn ở cấp độ lý luận, giúp cho người đại biểu HĐND có những đề xuất sắc bén, khả
năng vận dụng sáng tạo, linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND,
biểu hiện:
Một là, khả năng xác lập tri thức. Đó là khả năng tiếp thu lý luận, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước một cách đúng đắn; khả năng phát hiện những
mâu thuẫn, những vấn đề mới; khả năng tổng kết thực tiễn; khả năng vận dụng sáng tạo
lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách để xây dựng chương trình, kế hoạch công tác,
kế sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thực tiễn địa phương. Hai là, khả năng xác lập quan hệ giữa các tri thức. Đó là khả năng liên kết tri thức
ở các lĩnh vực, các ngành nghề chuyên môn đa dạng, phong phú thành một tổng thể ở
đến HĐND xem xét, giải quyết. Do vậy để thu thập và xử lý thông tin đầy đủ, một mặt
người đại biểu HĐND phải bám sát thực tế, đối thoại dân chủ với nhân dân, gần dân, tin
dân; mặt khác, cần xây dựng phong cách làm việc khoa học.
Xét cho cùng, những quyết định và giải pháp mà người đại biểu HĐND đưa ra đều
phải xuất phát từ thực tiễn, bởi vậy họ cần phải có được lượng thông tin chính xác và phong
phú để có các quyết định đúng đắn, kịp thời trong hoạt động của mình. Sau khi có thông tin,
họ phải có khả năng tổng hợp, khái quát, đánh giá, phân tích để đề ra những biện pháp hành
động đúng đắn. Kết quả nắm bắt và xử lý thông tin kịp thời, chính xác, khách quan quyết
định chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND nói riêng và của cả HĐND nói chung.
Hai là, có khả năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương.
Sau khi nắm bắt thông tin từ cử tri, từ nhân dân địa phương, nắm bắt được tình tình kinh
tế, chính trị, xã hội… của địa phương, người đại biểu HĐND phải trực tiếp tham gia
quyết định các vấn đề về phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Các quyết định do
HĐND đưa ra có tính khả thi cao trong thực tế hay không phụ thuộc vào khả năng đánh
giá tình hình địa phương và khả năng đưa ra các quyết định mang tính chất quyết đoán
nhưng khách quan, khoa học của từng đại biểu.
Ba là, có khả năng tổ chức thực hiện các quyết định, bố trí và phối hợp với các lực
lượng ở cơ sở; khả năng lôi cuốn, thu hút, thúc đẩy cán bộ và nhân dân thực hiện các
chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của
HĐND cũng như nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra. Đó là khả năng xử lý nhanh nhạy, chính
xác những nhiệm vụ cơ bản trọng tâm trước mắt và lâu dài, biết cách thay đổi nhiệm vụ,
giải pháp phù hợp với sự biến đổi của tình hình. Đó chính là khả năng phối hợp hoạt
động của người đại biểu HĐND với những chủ thể khác nhằm phát huy sức mạnh tổng
hợp.
Bốn là, có khả năng kiểm tra việc thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước và các nghị quyết của HĐND để phát hiện kịp thời những
vấn đề mới nảy sinh để giải quyết, tìm ra những lệch lạc, sai sót để góp ý sửa chữa, hoàn
chỉnh các đại biểu HĐND quyết định đảm bảo để các nghị quyết của HĐND đưa ra
được chính xác, có tính khả thi cao trong thực tế. Năng lực đó còn thể hiện ở khả năng
đánh giá hiệu quả việc thực hiện các nghị quyết của HĐND và khả năng đúc rút kinh
nhiều phương thức khác nhau. Bởi vậy, khả năng giao tiếp không chỉ là thành tố của