LUẬN VĂN:Chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:
Chất lượng cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí rất quan trọng trong hệ thống
chính quyền bốn cấp của nước ta hiện nay, vấn đề này được Hiến pháp của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi tại điều 118. Chính quyền cấp xã có chức năng: Bảo
đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, quyết định của chính quyền Nhà nước cấp trên; quyết định và đảm bảo thực hiện

đạo, cán bộ quản lý, về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý
hành chính nhà nước. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức
năng, tiêu chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, kịp
thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa. Tăng cường cán
bộ cho cơ sở. Có chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ
xã, phường, thị trấn [14].
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị
trấn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước đã xác định từ nay đến năm 2005,
cần tập trung giải quyết mấy vấn đề cơ bản và bức xúc trong đó ghi rõ:
Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân
dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo
việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp
dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và
đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở [15].
Thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành TW (khóa IX), Pháp
lệnh cán bộ, công chức (đã được sửa sổi, bổ sung năm 2000, 2003); Quyết định số
136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010; Nghị định số
114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn; Thông tư số 03/2004/TT-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội
vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của
Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày
21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,
phường, thị trấn; Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐXH ngày 14 tháng 5
năm 2004 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế

Vấn đề chất lượng cán bộ, công chức đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà
nghiên cứu và nhiều công trình khoa học cũng đã nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều gốc độ
khác nhau. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực trên như sau:
PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên: Luận cứ khoa học
cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003;
GS. Hồ Văn Thông: Tình hình các tổ chức chính trị ở nông thôn nước ta được in
trong cuốn sách Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay, tập 2, Nxb Tư tưởng văn hóa,
Hà Nội 1991;
Nguyễn Thị Hải: Về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình
trong điều kiện cải cách nền hành chính nhà nước, Hà Nội, 2001.
Trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước, vấn đề cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã được đặc biệt quan tâm. Một số đề tài khoa học, công trình nghiên cứu đề cập trực
tiếp đến vấn đề này và hoàn chỉnh hơn.
PGS, TS Bùi Tiến Quý: Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000;
TS Thang Văn Phúc và TS Chu Văn Thành đồng chủ biên: Chính quyền cấp xã và
quản lý nhà nước cấp xã của Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước, Ban Tổ chức Cán bộ chính
phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên: Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt
Nam của Học viện Hành chính Quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001;
TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên: Thực hiện quy chế dân chủ và
xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003;
Th.S Dương Hương Sơn, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, 2004;

chức cấp xã. Phân tích nội dung, vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã cũng như
những nguyên nhân và xu hướng phát triển của cán bộ, công chức cấp xã ở Điện Biên;
Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã ở Điện Biên trong những năm qua và chỉ ra nguyên nhân khách quan
và chủ quan của những hạn chế đó.
Dự báo và xây dựng những tiêu chuẩn về cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Điện
Biên, đề xuất các giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm đảm bảo về chất lượng cán bộ,
công chức cấp xã ở Điện Biên hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Quan niệm về chính quyền cấp xã còn nhiều ý kiến khác nhau. Luận văn chỉ tập
trung nghiên cứu chất lượng cán bộ, công chức của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân cấp xã.
Luận văn nghiên cứu cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Điện Biên nhưng
chỉ giới hạn thời gian từ khi thành lập tỉnh Điện Biên (năm 2004) đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật
trong vấn đề chất lượng cán bộ, công chức cấp xã.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bởi các phương pháp như: phương pháp thống kê, phân tích,
tổng hợp để xử lý tài liệu thu thập.
5. Đóng góp của luận văn
5.1. Đóng góp về mặt lý luận
Góp phần hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức; công tác cán bộ và xây dựng cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã.
1.1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM, TIÊU CHUẨN CỦA CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ; KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.1.1. Khái niệm, vị trí vai trò, đặc điểm, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã
a) Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
vừa xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa tiến hành
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy, chúng ta cần
phải xây dựng cán bộ, công chức có chất lượng đồng bộ, phù hợp với những yêu cầu
mới đặt ra, đặc biệt là cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Để làm được điều đó trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã.
Quan niệm về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
* Quan niệm về cán bộ: Từ cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta
khoảng mấy chục năm gần đây; được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp. Từ đó đến nay thuật ngữ cán bộ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có
nhiều từ điển có khái niệm cán bộ và được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng
giai đoạn lịch sử cụ thể, nhưng tựu chung lại có thể quan niệm một cách chung nhất:
"Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong
một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong
lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức"
[38, tr.20].
* Quan niệm về công chức:
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác, được hưởng
lương từ ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là người làm việc trong
hệ thống chính quyền nhà nước.


cán bộ chuyên môn được ủy ban Nhân dân tuyển chọn; đội ngũ này có chế độ làm việc và
được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước. Cán bộ, công chức cơ
sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch công chức ở cấp trên.
Tại Điểm g, h Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp
lệnh cán bộ, công chức ngày 26/2/1998 (được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua
ngày 29/4/2003) quy định: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ
trong Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban Nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn, những người được tuyển
dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban Nhân dân cấp xã được
gọi là cán bộ, công chức trong biên chế nhà nước; được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Trên cơ sở lý luận về chính quyền (Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân); cán bộ,
công chức cũng như các quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì cán bộ
công chức chính quyền cấp xã hiện nay bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đây gọi
chung là cán bộ chuyên trách cấp xã), gồm có các chức vụ sau đây:
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
Cán bộ chuyên trách là những người dành phần lớn thời gian làm việc cho công
việc của mình để thực hiện nhiệm vụ và trọng trách mà nhân nhân dân giao phó.
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ
thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm có các chức danh
sau đây:
+ Trưởng ban công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy).
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng;
+ Tài chính - kế toán;

bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
xã, phường, thị trấn.
Khái niệm công chức chính quyền cấp xã: Công chức chính quyền cấp xã là công dân
Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được tuyển dụng, giao
giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã: Cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo
quy định của pháp luật, làm việc tại Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã do được
bầu để giữ chức vụ, hoặc được tuyển dụng giao giữ chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc
Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Để nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền cấp xã cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất tốt, đạo đức tốt
mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành
nhiệm vụ.
b) Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin đã từng nêu cao vai trò của người
cán bộ. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống
trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại
biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [16, tr.473].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề then chốt.
Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ
giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo
cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [21, tr.269].
Khẳng định vị trí, vai trò của người cán bộ, đòi hỏi người cán bộ phải có những
đức tính tốt, Hồ Chí Minh cũng không cực đoan cho rằng cán bộ chỉ có tính tốt hay toàn
tính tốt, mà cán bộ trước hết cũng là con người, có thể có cả tính xấu. Nhưng người cán

cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và quyết
định chỉ là mớ giấy lộn" [17, tr.449].
Để xây dựng đất nước Việt Nam độc lập có chủ quyền với mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định:
"Cán bộ là cái gốc của mọi công việc và công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ
tốt hay kém" [21, tr.273].
Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách mạng. Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VII) khẳng định trong công cuộc đổi mới đất nước
thì:
Cán bộ hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Cán bộ nói chung
có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở. Cấp
cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và
pháp luật của Nhà nước. Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần
được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với
quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã, phường,
thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ
cán bộ xã, phường, thị trấn [13, tr.21].
Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có một ví trí vô cùng quan trọng trong hoạt
động quản lý điều hành ở cơ sở. Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người đại diện
cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm
quyền được giao. Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người hàng ngày trực
tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng.
Chất lượng và số lượng tùy thuộc vào quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng
và tự rèn luyện một cách chủ động, sáng tạo của từng cá nhân và các cấp uỷ Đảng, chính
quyền, Đoàn thể. Quan điểm này được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng; đặc biệt
gần đây nhất Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) nhấn mạnh:

hóa ở khu dân cư.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu
cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người am hiểu các phong tục tập
quán, truyền thống dân tộc của địa phương, họ là người tập hợp được khối đại đoàn
kết toàn dân ở cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Tóm lại, cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người có vị trí, vai trò quan
trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư.
c) Đặc điểm của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người gần dân, sát dân, biết dân,
trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp lụât của Nhà nước vào dân, gắn
bó với nhân dân.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có tính ổn định thấp so với cán bộ, công
chức nhà nước cấp trên.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có tính chuyên môn hoá thấp, kiêm
nghiệm nhiều.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân
dân lao động ở cơ sở. Vì vậy cán bộ, công chức luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiện
nguyện vọng của nhân dân từ đó có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm
bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu
cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở (người
của địa phương), họ vừa trực triếp tham gia lao động lao động sản xuất, vừa là người đại
diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết các công việc của
nhà nước. Do đó xét ở khía cạnh nào đó cán bộ, công chức cấp xã bị chi phối, ảnh hưởng

dụng, đào tạo bồi dưỡng. Tiêu chuẩn cũng là căn cứ để mỗi công chức yên tâm làm việc
theo chức trách được giao, xác định hướng phấn đấu, nâng cao trình độ và khả năng làm
việc, các cấp quản lý cũng căn cứ vào đó để tạo điều kiện cho cán bộ, công chức có cơ
hội được học tập, bồi dưỡng. Thực hiện việc công chức hóa cán bộ, công chức cấp xã, Bộ
Nội vụ đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 về việc
ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức cấp xã. Quy định đã xác
định rõ chức trách, nhiệm vụ của từng chức vụ, chức danh trong cán bộ, công chức cấp
xã. Để thực hiện được chức trách, nhiệm vụ được giao đòi hỏi cán bộ, công chức cấp xã
phải đáp những tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể.
* Tiêu chuẩn chung:
- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương.
- Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân,
không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật
trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân
tín nhiệm.
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách
và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm
việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
* Tiêu chuẩn cụ thể:
Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã là căn cứ để các địa phương thực
hiện việc quy hoạch, kế hoạch, bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, xếp
lương, nâng bậc lương và các chế độ, chính sách khác. Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ,
công chức cấp xã được xác định theo từng chức vụ, chức danh như sau:
- Đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
+ Tuổi đời: Do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng tuổi tham gia

+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Tài chính
Kế toán trở lên. Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu
được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn Tàichính - Kế toán; nếu mới được tuyển dụng lần
đầu phải có trình độ trungcấp Tài chính - Kế toán trở lên. Phải qua bồi dưỡng quản lý
hành chính Nhà nước sau khi tuyển dụng. ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng
được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn.
- Đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch
+ Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị;
tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính
trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Luật trở
lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã sau khi được tuyển dụng. Với
công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến
thức nghiệp vụ tư pháp cấp xã; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ
trung cấp luật trở lên. Phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước sau khi được
tuyển dụng, ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong
công tác chuyên môn.
- Đối với công chức Địa chính - Xây dựng
+ Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị,
tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phảI được bồi dưỡng lý luận chính
trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trìnhđộ trung cấp Địa chính
hoặc trung cấp Xây dựng trở lên. Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện

nghiệp vụ Lao động - Thương binh và xã hội trở lên. Với công chức đang công tác ở khu
vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về một trong các
ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp trở
lên về một trong các ngành chuyên môn nêu trên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi
dưỡng quản lý hành chính Nhà nước và ngành chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm
vụ được giao. Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn. Ở
khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác.
- Đối với công chức Trưởng Công an xã.
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng, tốt nghiệp
trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý luận
chính trị trở lên ở khu vực đồng bằng, có trình độ tương đương sơ cấp lý luận chính trí
trở lên ở khu vực miền núi.
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng phải đạt trình độ tương đương trung
cấp chuyên môn ngành công an trở lên. Với công chức đang công tác ỏ khu vực miền núi
hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn ngành công an, nếu mới được
tuyển dụng lần đầu phải được bồi dưỡng chương trình huấn luyện trưởng công an xã theo
quy định của Công an cấp trên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lýhành
chính Nhà nước. Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn.
- Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị,
tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khuvực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý luận
chính trị trở lên ở khu vực đồng bằng, có trình độ tương đương sơ cấp lý luận chính trị
trở lên ở khu vực miền núi.

phải là sự tập hợp giản đơn số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ.
Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán bộ và nó được tăng
lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý,
của kỷ luật.
Như vậy, có thể nói chất lượng cán bộ, công chức bao gồm:
- Chất lượng của từng cán bộ, công chức; cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức;
trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng cán bộ, công
chức là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ.
- Chất lượng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu đội
ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý vì số lượng và độ tuổi bình quân
được phân bố trên cơ sở các địa phương, đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đời sống xã
hội.
Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng cán bộ, công chức không chỉ bao gồm
một mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống, được kết cấu như một
chỉnh thể toàn diện từ chất lượng của từng cán bộ, công chức (đây là yếu tố cơ bản nhất,
tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam nữ, độ tuổi, thành phần cùng với việc bồi
dưỡng, giáo dục, phân công, quản lý kiểm tra giám sát và thực hiện nghiêm các nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền nhân dân.
Để nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ
giữa chất lượng với số lượng cán bộ, công chức. Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hài hòa,
tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ. Trong thực
tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số
lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động
không hiệu quả.
Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số
lượng. Khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của
cán bộ, công chức ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status